NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: [email protected]
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, TẬP 3, CHƯƠNG 15, Phần 1

( 21-12-2019 - 07:07 PM ) - Lượt xem: 909

Dù vậy, “Thiên đường XHCN” giờ đây có vẻ đã bắt đầu tiếp cận được với nền văn minh hiện đại của CNTB do “chủ nghĩa thực dân mới” để lại ở miền Nam. Hiểu rõ những sản phẩm của nền văn minh mới này có thể kiếm được từ đâu, dân gian miền Bắc đã truyền khẩu một kinh nghiệm được tính toán kỹ lưỡng

Chương Mười Lăm

SÀI GÒN ƠI TA ĐÃ VỀ ĐÂY

 

  1. 1.    Mùa xuân đầu tiên

 

 Vào một ngày mùa đông lạnh lẽo trung tuần tháng 12-1975, ba tôi nhận được Quyết định của Bộ Giáo dục điều động ông vào miền Nam nhận công tác. Khi ấy Trại Sách B sắp sửa làm thủ tục giải tán, nên má tôi được nghỉ phép dài ngày để cùng đi với ba vào Sài Gòn chuẩn bị cho cuộc sống và công tác của ba má ở trong đó.

 Trước lúc lên đường, ba má đã bán chiếc xe máy Babetta; rồi giao cho tôi và em Dũng sổ gạo, bìa mua hàng với tất cả tem phiếu và một số tiền, để hai anh em cùng sống với nhau ở nhà (trong khi tôi vẫn phải hiện diện ở đơn vị quân đội, còn em Dũng thì đi học ở trường Thủy Lợi). Má còn cho tôi mấy cuộn len màu cỏ úa (do em Hùng gửi về) để có thể đan một chiếc áo len dài tay (cô Nguyệt con ông Tham Cảnh đã vui lòng nhận đan hộ tôi chiếc áo đó).

Đã lâu mới có dịp đến cửa hàng Mậu dịch Vân Hồ mua thực phẩm theo tiêu chuẩn “Bìa C”, tôi phát hiện ở đây đã có một số mặt hàng đặc biệt mới được đưa từ miền Nam ra: tôm khô đóng gói trong các túi ni lông, bánh phồng tôm Sa Giang, mì gói “ăn liền” nhãn hiệu “Colusa-Miliket” in hình 2 con tôm, nên còn được gọi là mì “Hai Tôm”… Sau khi mua xong thịt và các thực phẩm theo các ô phiếu quen thuộc, tôi liền xếp hàng mua các thứ hàng mới lạ này (theo tiêu chuẩn quy định). Từ đó, tôi quyết định mừng Sinh Nhật lần thứ 28 của mình (27-12-1975) bằng một bữa ăn tươi với hương vị mới của miền Nam.

 Khi ấy, do những mâu thuẫn nội bộ gia đình bác Đặng Đình Hòe, cặp vợ chồng Đặng Đình Bân-Lê Lan Anh đã rời khỏi căn phòng hạnh phúc của họ ở nhà chồng (trên phố Nguyễn Du) và xách va ly đến tạm trú tại nhà tôi (ở KTT Kim Liên) trong tình cảm anh em họ hàng đầm ấm. Đang có mang đứa con đầu lòng, Lan Anh vẫn giúp tôi trổ tài nấu nướng cho bữa cơm mừng sinh nhật bằng những nguyên liệu mới mua được. “Chả giò chiên” (mà ba thường gọi là “chả rán”) là món quen thuộc nên cũng dễ làm. Mì “Hai Tôm” ăn liền (mỗi gói lại kèm theo một túi gia vị để nêm kèm) hóa ra lại dễ nấu và ăn ngon hơn hẳn mì sợi mậu dịch; khó nhất là “chiên bánh phồng tôm” (vì đây là món hoàn toàn mới lạ với dân miền Bắc), nhưng chúng tôi cũng mày mò làm được, để ăn kèm với nộm tôm thịt chua ngọt (mà người miền Nam gọi là “gỏi”). Đình Bân xách về một can bia hơi mậu dịch (kèm với lạc rang); em Dũng mở máy radio-cassette cho chạy một băng nhạc ngoại êm dịu; thế là cả bốn chúng tôi quây quần quanh bàn tiệc để thưởng thức hương vị miền Nam.

 Một ngày đầu năm mới 1976, Kỹ sư Đặng Đình Bân tạm biệt chúng tôi để đi công tác miền Nam theo đoàn của Tổng cục Thủy sản; do đó  Lan Anh cũng tạm chia tay tôi để về lại nhà chồng. Sau đó ít ngày, chính tôi đã nhận được Quyết định của Bộ Giáo dục v/v điều động ông Lê Vinh Quốc đi nhận công tác tại Trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) Sài Gòn; kèm theo là Giấy Triệu tập tôi đến Trường Bồi dưỡng Cán bộ Giáo dục đi B (gọi tắt là Trường Bồi dưỡng B) để chuẩn bị cho chuyến đi theo sự điều động ấy. Quyết định này đã vượt quá mong ước của mình; nhưng tôi vẫn chưa được xuất ngũ, nên việc thực hiện nó lại rất khó khăn: làm cách nào để vừa hiện diện ở đơn vị quân đội, lại vừa có mặt ở Trường Bồi dưỡng B?

 

 Đúng thời hạn triệu tập nêu trên, buổi sáng tinh sương một ngày trung tuần tháng 1-1976, tôi mặc quân phục đạp xe từ KTT Kim Liên đến đơn vị ở xã Tây Tựu (gần Nhổn) để kịp dự cuộc điểm danh hàng tuần. Sau đó về nhà dân thay quân phục bằng thường phục (với áo bông, khăn quàng và cả mũ lông Liên Xô), tôi lại đạp xe về nội thành, qua cầu Long Biên rồi thẳng tiến theo đường số 5 dưới bầu trời xám xịt của mùa đông lạnh giá để đến Bần Yên Nhân, nơi trú đóng trường Bồi dưỡng B đã quen thuộc với tôi từ chuyến đi học bồi dưỡng ở đây hồi 1971.

 Khỏi phải nói tôi đã mệt mỏi đến như thế nào sau những chặng đường đạp xe quá dài mà nhiều lúc ngược chiều với gió mùa đông-bắc. Nhưng may mắn là mọi thủ tục nhập học đã được giải quyết nhanh gọn theo các giấy tờ do tôi xuất trình. Danh sách “chi viện” cho miền Nam đợt này bao gồm hàng trăm cán bộ giáo dục, đặc biệt có 2 giáo viên Sử sẽ cùng tôi vào nhận công tác tại trường CĐSP Sài Gòn là anh Đặng Đức Thi (nguyên giảng viên trường Sư phạm Trung cấp Hà Nội) và anh Lê Hoàng Quân (nguyên giáo viên PTC3 Hà Nội). Tôi nhanh chóng làm quen với hai anh, để có thể nhờ họ báo cáo với tổ chức nhà trường về trường hợp đặc biệt của tôi (chưa hoàn tất thủ tục xuất ngũ) nên tôi chưa thể thường xuyên có mặt ở đây (nhưng tôi hứa sẽ nghiêm túc thực hiện đầy đủ mọi sự chỉ đạo của trường).

 Thế là trong suốt mấy tuần liền, cứ cách một vài ngày tôi lại phải đạp xe theo một “lộ trình tam giác” từ KTT Kim Liên qua Tây Tựu rồi đến Bần Yên Nhân (và ngược lại), để đảm bảo sự hiện diện đồng thời của mình ở nhà, ở đơn vị quân đội và ở trường Bồi dưỡng B. Một ngày đầu tháng 2-1976, toàn thể cán bộ tập trung ở trường Bồi dưỡng B nhận được lệnh lên đường vào Nam nhận công tác mới. Khi ấy tôi vẫn chưa giải quyết xong thủ tục xuất ngũ, nên đành phải làm đơn xin phép đi sau bằng phương tiện tự túc. Nêu rõ lý do về sự chậm trễ của tôi, đơn được trưởng đơn vị quân đội là trung tá Thuật ký tên đóng dấu xác nhận; rồi tôi nhờ anh Đặng Đức Thi chuyển giúp lên các cấp lãnh đạo có thẩm quyền. Thế là tôi kết thúc cái “lộ trình tam giác” đầy gian khổ, để tập trung vào mục tiêu duy nhất là chờ quyết định xuất ngũ.

 

 Nguyên đán Bính Thìn 1976 là mùa Tết đặc biệt tràn ngập niềm tin và hy vọng về một tương lai tươi sáng cho đất nước tang thương vừa thoát qua cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài. Tôi cảm nhận tâm trạng đó ở tất cả những gì đang diễn ra quanh mình.

 Cùng với những chiếc xe máy Honda, “Cá Xanh”“Cá Xám” mới xuất hiện khiến đường phố  miền Bắc thêm phần sinh động, người Hà Nội bắt đầu khoe với nhau những trang phục đặc sắc mới lạ được mang từ miền Nam ra. Họ đã biết đến “quần Jeans”“áo pull” (mà họ “Việt hóa” thành “quần bò” và “áo phông”); một số người còn biết phải chọn quần bò nhãn hiệu Levi’s “mỏ đỏ” (có một mẩu vải màu đỏ gắn với nhãn hiệu này ở bên hông chiếc quần) thì mới được coi là sành điệu. Từ cửa sổ những ngôi nhà trong KTT Kim Liên giờ đây không chỉ thấy “đèn hoa sáng bừng” từ những bóng đèn tròn (như trong ca khúc nổi tiếng của Phan Huỳnh Điểu), mà đã có ánh sáng xanh từ bóng đèn nê ông, đó đây đã có âm nhạc stereo mạnh mẽ xập xình vọng ra từ những dàn máy sang trọng mang nhãn hiệu “TEAC” hay “Akai” với những cặp “loa thùng” cỡ lớn. Đã có những gia đình cán bộ sắm được tivi, tủ lạnh, quạt máy, quạt trần và cả “nồi cơm điện” (mang các nhãn hiệu nổi tiếng nước ngoài) khuân từ miền Nam ra. Các phương tiện sinh hoạt hiện đại này đòi hỏi nhiều điện năng, nhưng hệ thống điện của miền Bắc lại quá yếu, nên mọi người đua nhau sắm “survolteur” để tự tăng điện áp cho riêng nhà mình, dẫn đến cuộc “chiến tranh điện áp” giữa các hộ gia đình trong KTT; với kết quả là cả khu thường bị mất điện vì quá tải làm cháy cầu dao trạm biến áp, để trở về sống trong “đêm trường trung cổ”.

 Dù vậy, “Thiên đường XHCN” giờ đây có vẻ đã bắt đầu tiếp cận được với nền văn minh hiện đại của CNTB do “chủ nghĩa thực dân mới” để lại ở miền Nam. Hiểu rõ những sản phẩm của nền văn minh mới này có thể kiếm được từ đâu, dân gian miền Bắc đã truyền khẩu một kinh nghiệm được tính toán kỹ lưỡng: 

 

Ba năm đi Nga không bằng một năm đi Đức,

Một năm đi Đức không bằng một chuyến đi Sài Gòn.

 

 Bởi thế mà cán bộ các cấp đã tìm mọi cách để được cử đi “chi viện” cho miền Nam; còn các “con phe” cũng không bỏ lỡ cơ hội để “vô” Sài Gòn kiếm chác theo cách riêng của họ.

 Khi đi mua hàng Tết ở cửa hàng mậu dịch Vân Hồ, tôi cũng nhận thấy “túi hàng Tết” theo thông lệ hàng năm giờ đây đã có thêm mấy món mới từ miền Nam gửi ra. Mặc dù ba má vắng nhà vì đang ở miền Nam, tôi được đơn vị cho phép nghỉ tết ở nhà cùng em Dũng, nên vẫn quyết tâm tự nấu bánh chưng và các món ngon để hai anh em được thưởng thức hương vị tết như mọi năm, lại có thể thết đãi bạn bè và người thân đến thăm mình. Việc gói bánh chưng đã có sự giúp đỡ của cô Lý, tôi chỉ việc xếp bánh vào nồi áp suất Liên Xô mà nấu, rồi vớt ra để nén cho bánh bớt nước và săn chắc lại. Tôi lấy ngay chiếc cặp samsonite “made in USA” sang trọng (do ba bỏ quên ở nhà) để nén bánh! Cô Nguyệt đã đan xong chiếc áo len màu cỏ úa có “phecmơtuya” ở cổ để tôi kịp diện tết. Nhưng khi tôi mặc áo len đó đi chơi thì bạn bè đã bình phẩm rằng: bây giờ phải dùng loại “dây kéo” nhựa (mua ở Sài Gòn) thì mới đúng mốt, chứ loại “phécmơtuya” kim loại này lạc hậu lắm rồi! .

 

 Đã có những vị khách đặc biệt đến thăm tôi trong mấy ngày tết. Trước hết là thầy Lê Văn Sáu - vị Chủ nhiệm Khoa cũ của tôi ở trường ĐHSP Hà Nội. Có lẽ thầy định đến thăm anh Nguơn, nhưng vì ba tôi không ở nhà nên tôi thay mặt ba tiếp thầy. Ngồi uống trà “Ba Đình” và thưởng thức hộp “Mứt Tết” với tôi, thầy bỗng hỏi: “Ông có thể kiếm giùm tôi bộ SGK phổ thông của NXB Giáo dục Giải phóng?” (vốn là một Việt kiều từ Pháp về, thầy thường xưng hô bình đẳng với học trò theo kiểu Tây như vậy). Đoán biết  có lẽ thầy cần bộ sách này để chuẩn bị cho chuyến đi “chi viện” giáo dục miền Nam, tôi đáp: “Vâng, em sẽ vào Trại Sách B để kiếm giúp thầy!”. Nhưng thầy đã đứng dậy tiến đến giá sách của hai cha con tôi, xem xét kỹ rồi rút ra từ đó mấy cuốn SGK do Trại Sách B biên soạn (có cả cuốn “Lịch sử lớp 5” của tôi) và nói: “Thôi, ông không cần vào Trại tìm nữa, chúng đây rồi, cho tôi xin nhé!”. Nói xong, thầy điềm nhiên cho số sách đó vào chiếc cặp mang theo bên mình, rồi cảm ơn và chào tạm biệt tôi. Thầy hành xử quá nhanh, khiến tôi không kịp đắn đo mà chỉ có thể thốt lên rằng: “Vâng, em xin biếu thầy; kính chúc thầy năm mới bình an mạnh khỏe và thành công!”.

 Nhưng tôi mừng nhất khi được đón bạn cũ Đỗ Bắc Giang đến thăm ngay tại nhà mình. Kể từ khi bọn cựu học sinh PTC3 Ngô Quyền chúng tôi chia tay nhau để đi “lao động tình nguyện” tại Công trường Muối Đồ Sơn và Nông trường Vinh Quang (Hải Phòng), đến nay đã gần12 năm trôi qua tôi với Giang mới lại được gặp nhau. Giang không đi một mình mà cùng đến với chồng là anh Nguyễn Thiên Đĩnh - một cán bộ nghệ thuật công tác tại Hãng Phim Thời sự - Tài liệu thuộc Cục Điện ảnh Việt Nam mà trước đây tôi chưa hề biết.

 Tôi lập tức bóc bánh chưng và dọn thức ăn ra đãi hai bạn; rồi hết tiệc mặn lại đến tiệc trà với “Mứt Tết”, hạt dưa và kẹo “Hải Châu”.

 Khỏi phải nói chúng tôi đã có bao nhiêu chuyện để kề cho nhau từ kho kỷ niệm đầy ắp sau bấy nhiêu năm đằng đẵng. Trong suốt 3 năm lao động gian khổ ở Nông trường Vinh Quang, Giang luôn đạt thành tích thi đua xuất sắc, được cử đi “báo cáo điển hình” tại các hội nghị Thi đua toàn thành Hải Phòng. Vậy mà bạn ấy vẫn không được thay đổi thành phần thuộc “gia đình tư sản”, nên không được đi học đại học, mà chỉ được học Trung cấp Kế toán để về nhận công tác tại Hải Phòng. Mãi đến năm 1970, do thành tích công tác tốt, Giang mới được gửi đi học hệ “tại chức” tại trường Đại học Tài chính - Kế toán ở Hà Nội. Nhờ có bằng tốt nghiệp đại học tại chức này mà bạn ấy được điều động về công tác tại Tổng cục Thống kê Trung Ương để trở thành “Người Hà Nội”. Tại đây, Giang đã làm quen rồi kết hôn với anh Đĩnh. Bằng số tiền tiết kiệm trong bao năm qua (cộng với mấy chỉ vàng do mẹ gửi cho), Giang đã “sang” được một căn phòng xinh xắn ở KTT Đại Yên (Thụy Khuê) thuộc Hãng Phim Truyện Việt Nam làm tổ ấm gia đình (và trở thành láng giềng của diễn viên Huy Công nổi tiếng với các vai “Chính ủy” và “Bí thư Đảng ủy” trong nhiều phim truyện Việt Nam).

 Lúc chia tay hai bạn ra về, tôi tặng Giang một đôi đũa cả vót rất đẹp mà má mới mua chưa dùng, vì biết bạn đang tìm mua đũa đó. Món quà rẻ tiền nhưng hữu ích này sẽ được Giang giữ rất lâu như một thứ kỷ niệm cho tình bạn của hai chúng tôi.

 

 Khi đến chúc tết cậu mợ Bính, tôi đã kể cho cậu nghe  vướng mắc của mình trong việc làm thủ tục xuất ngũ để có thể vào Nam nhận công tác. Ngẫm nghĩ một lát, cậu bảo: “Sáng mai cháu mang hết giấy tờ đến cho cậu xem, rồi cùng đi với cậu để giải quyết việc này!”.

 Sáng hôm sau, tôi mặc quân phục chỉnh tề (có chiếc áo len màu cỏ úa lót bên trong cho ấm) và mang đủ giấy tờ đạp xe đến nhà cậu Bính. Cậu mặc một bộ complete thắt cravat đàng hoàng, dắt chiếc xe máy Balkans ra, bảo tôi cất xe đạp vào nhà, rồi nổ máy đèo tôi đến một tòa nhà ba tầng ở phố Đặng Dung (gần cửa hàng mậu dịch thực phẩm dành cho cấp “trung gian nịnh thần”). Tòa nhà này đã trở thành KTT Quân đội dành cho các sĩ quan cấp tá. Cất xe máy vào gầm cầu thang, cậu cháu tôi leo lên tầng 2 nơi có căn hộ của thượng tá Phạm Văn Túc, Phó Cục trưởng Cục Quân khí thuộc Tổng cục Kỹ thuật Quân đội NDVN - thượng cấp của trung tá Thuật trưởng đơn vị của tôi. Là người quen của họa sĩ Phùng Huy Bính, thượng tá Túc vẫn mặc quân phục ngay trong ngày Tết để đón tiếp cậu Bính và tôi tại căn phòng có một cành đào to đẹp khoe sắc và một chiếc tủ lạnh lớn nhãn hiệu “Hitachi”, chắc là “chiến lợi phẩm” mới đưa từ miền Nam ra (đây là lần đầu tiên trong đời mà tôi được nhìn tận mắt một chiếc tủ lạnh hiện đại “Made in Japan” dùng trong gia đình).

 Ngồi bên bàn trà có bánh kẹo đặc biệt của quân đội, cậu Bính giới thiệu “thằng cháu con bà chị ruột của tôi có vấn đề vướng mắc xin được trình bày với bác”. Thế là tôi trình bày cặn kẽ vấn đề của mình với thượng tá Túc, từ chuyện chờ phong quân hàm đến việc đơn vị cho phép xuất ngũ; đưa ông xem các giấy tờ của Bộ Giáo dục điều động tôi vào Nam công tác; rồi nêu thắc mắc: không hiểu vì sao mãi vẫn chưa có quyết định xuất ngũ cho cháu. Thượng tá chăm chú nghe lời tôi, đọc kỹ giấy tờ và nói: “Tôi có nghe anh Thuật báo cáo về trường hợp này; để tôi xem lại hồ sơ rồi sẽ giải quyết cho cháu!”. Nghe câu đó của ông, tôi cảm thấy ấm lòng để chân thành thốt lên : “Cháu cảm ơn bác rất nhiều!”. Cậu Bính cũng cảm ơn thượng tá Túc bằng cách biếu ông hai cặp vé xem vở kịch “Tập nhật ký bỏ quên” của Liên Xô được Nhà hát Kịch Việt Nam dàn dựng (do  Dương Viết Bát đạo diễn và Phùng Huy Bính thiết kế mỹ thuật).

 Trên đường về, cậu Bính bảo: “Việc của Quốc thế là ổn rồi đấy! Chắc chỉ ít ngày nữa cháu sẽ nhận được quyết định xuất ngũ!”. Không muốn cảm ơn cậu theo cách thông thường, tôi đã thốt lên rằng: “Cậu tài quá, chỉ một cuộc gặp với một người trong một lúc mà đã giải quyết xong một vấn đề vướng mắc của cháu trong suốt mấy tháng trời!”. Cậu đáp: “Cậu không tài giỏi gì đâu, mà chỉ tiếp thu được nhiều bài học trong cách ứng xử với đời.” Bài học quan trọng nhất của cậu là: khi có vấn đề phát sinh, phải tìm được đúng người có thể giúp mình giải quyết nó; rồi còn phải biết cách giao tiếp sao cho người đó vui lòng giúp đỡ mình. Tôi biết rằng cách giao tiếp của cậu luôn xuất phát từ tình cảm nồng nhiệt chân thành không chút giả tạo màu mè, nên bạn bè thường đáp lại cậu bằng sự giúp đỡ chu đáo tận tình.

 

 Trong những ngày tết yên vui ấy, tôi đã nghe vang lên trên đài phát thanh một ca khúc mới của nhạc sĩ Văn Cao với tựa đề “Mùa Xuân đầu tiên” theo nhịp ¾ êm dịu sâu lắng mà ông dành cho đất nước vừa kết thúc cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn:

 

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về

Mùa bình thường mùa vui nay đã về

Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông

Một trưa nắng vui cho bao tâm hồn…

 

 Không có “Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” (như trong bài ca của Phạm Tuyên), cũng chẳng có thành phố Hồ Chí Minh “đã viết nên thiên anh hùng ca”  (như trong bài hát của Xuân Hồng), ca khúc của Văn Cao chỉ có chim én bay với tiếng gà gáy trưa bên sông (thay cho tiếng bom gầm đạn réo trong hàng chục năm qua) và những giọt nước mắt thấm đẫm tình người:

 

Người mẹ nhìn đàn con nay đã về

Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh

Niềm vui phút giây như đang long lanh.

 

 Rồi dâng lên tràn ngập tình yêu thương giữa con người ở cả hai miền Nam-Bắc dành cho nhau trong tình nghĩa đồng bào:

 

                        Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.

Ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời yên ấm.

Từ đây người biết quê người

Từ đây người biết thương người

Từ đây người biết yêu người…

Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu

Một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông…

 

Thính giả trên toàn cõi Việt Nam đã xúc động nghẹn ngào rơi nước mắt khi lắng nghe nhạc phẩm này, có lẽ là sáng tác cuối cùng của thiên tài âm nhạc Văn Cao để lại cho dân tộc.

 Nhưng Đảng ta lại không chia sẻ cảm xúc với dân tộc qua tác phẩm ấy của Văn Cao. Ban Tuyên giáo của Đảng đã phát hiện rằng: ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” chứa đựng tình cảm “ủy mị yếu đuối, kêu gọi tình thương chung chung thiếu tính giai cấp, không phân biệt rõ địch ta”. Do vậy, Đảng đã cấm lưu hành tác phẩm này, đồng thời thi hành kỷ luật thích đáng đối với Ban Biên tập tờ báo “ Sài Gòn Giải phóng - số Xuân1976” (vì đã đăng tải và phát hành rộng rãi tác phẩm này) và Đài Phát thanh Hà Nội (vì đã trình diễn nó trên làn sóng điện). Sự cố này báo hiệu quá trình “cách mạng triệt để” của Đảng ta vẫn còn tiếp diễn ở miền Nam mới giải phóng.

 

 

 Sau tết, cô em họ Lan Anh bụng mang dạ chửa lại đem theo va ly quần áo, ngồi xích lô đến ở với anh em tôi tại KTT Kim Liên. Mặc dù vẫn phải về đơn vị để đón nhận quyết định xuất ngũ, tôi cũng có thể thu xếp công việc để cùng với em Dũng chăm sóc cho sức khỏe của Lan Anh ở nhà mình.

 Nhờ có số lượng tem phiếu khá dồi dào do ba má để lại và vợ chồng Lan Anh góp thêm, tôi có thể nấu những bữa ăn tương đối đủ chất đạm. Khi ấy ở chợ Kim Liên có gánh hàng bán trứng vịt lộn luộc chín chấm muối tiêu chanh ăn kèm với rau răm và gừng tươi thái chỉ (một món ngon và bổ mới được du nhập từ miền Nam về Hà Nội). Tôi thường mua món này mang về để Lan Anh bồi dưỡng thêm cho thai nhi được khỏe.

 Vào một ngày đầu tuần cuối tháng 2-1976, Lan Anh bị đau bụng và có những dấu hiệu chuẩn bị sinh nở. Vừa may khi ấy cả tôi và em Dũng cùng có mặt ở nhà, nên hai anh em tôi xúm vào chuẩn bị mọi thứ để đưa cô ấy đi đẻ. Dìu thai phụ lên xích lô cùng với bọc quần áo và những thứ cần thiết đã được chuẩn bị sẵn, tôi lên xe đạp đèo em Dũng chạy theo xích lô, tiến tới Bệnh viện “C” vào khoa Phụ Sản. Hoàn thành xong mọi thủ tục nhập viện cho sản phụ, tôi bảo Dũng đạp xe đi báo tin Lan Anh đã vào viện chuẩn bị sinh cho dì Dung biết. Chờ đến khi dì Dung vào viện chăm sóc cho con gái, tôi mới chúc Lan Anh mọi sự tốt lành, rồi chào tạm biệt mọi người trở về nhà dọn dẹp đồ đạc, để chuẩn bị sáng mai trở lại đơn vị quân đội ngóng chờ tin tức.

 

 Sáng sớm hôm ấy, trong bộ quân phục chỉnh tề, tôi đạp xe trở về đơn vị ở xã Tây Tựu dự cuộc điểm danh hàng tuần và đã nhận được tin vui mà mình hằng mong đợi: Quyết định cho đồng chí Lê Vinh Quốc xuất ngũ trở về nhận công tác trong ngành giáo dục (do  đại tá cục trưởng Cục Quân lực thuộc Tổng cục Kỹ thuật ký ngày 24-2-1976). Kèm theo đó là Quyết định phong “sĩ quan dự bị cấp bậc trung úy” cho đồng chí Lê Vinh Quốc (để về sau, nếu được gọi tái ngũ tôi sẽ đeo quân hàm này).

 Thi hành ngay quyết định xuất ngũ, tôi tháo gỡ quân hiệu sao vàng nền đỏ trên mũ cối và đôi cấp hiệu binh nhì cài trên cổ áo, trao lại cho đại úy Trưởng Ban Quân lực của đơn vị (nhưng vẫn được giữ lại bộ quân phục, chiếc ca nhôm có tay cầm (thay cho bát sắt) cùng “bi đông” đựng nước và chiếc “ga men” nhôm có quai xách với hai ngăn đựng cơm và thức ăn). Tiếp đó, tôi sang Ban Hậu cần nhận tiêu chuẩn gạo 1 tháng (21kg) cấp cho quân nhân xuất ngũ. Cất kỹ các giấy tờ quan trọng vào túi áo ngực, lấy dây cao su buộc chặt ba lô đựng các kỷ vật quân dụng cùng bao gạo vào “pooc baga” xe đạp, tôi chào tạm biệt Thủ trưởng, các Trưởng ban và bạn đồng ngũ trong đơn vị, tạm biệt gia đình chủ nhà trọ của mình, rồi lên xe phóng thẳng về KTT Kim Liên, để lại phía sau gần một năm đời sống quân ngũ của mình gắn liền với những biến cố to lớn của dân tộc (từ tháng 4-1975 đến tháng 2-1976).

 Chẳng bao lâu sau khi về nhà, tôi nhận được tin em họ Lan Anh đã hạ sinh một bé trai kháu khỉnh bụ bẫm đặt tên là Đặng Nhật Minh. Đó chính là cháu đích tôn của bác Đặng Văn Hòe, cháu ngoại đầu tiên của gia đình chú Trinh - dì Dung, và là đứa cháu trai đầu tiên gọi tôi bằng bác trong họ nhà mình. Rồi tôi lại nhận được một lúc hai món quà quý hiếm do em Hùng bí mật gửi về từ Algeria, được bạn đồng nghiệp của em ở “CP72” tìm đến nhà trao tận tay cho tôi: một tấm vải ngoại dệt sợi nylon (được gọi là “valize”) trắng kẻ sọc màu hồng, cùng một “tút" thuốc lá ngoại (gồm 10 bao) nhãn hiệu “Craven-A” được gói trong bao giấy cứng rất đẹp.

Thật là “tin vui nối tiếp tin vui”! Giờ đây, tôi tập trung toàn tâm toàn lực chuẩn bị cho chuyển đi công tác vào miền Nam theo quyết định của Bộ Giáo dục. Trước hết, tôi đánh điện cho bạn cũ Trần Trọng Triệu ở Hải Phòng, thông báo mình được chuyển công tác vào Sài Gòn, nhờ bạn tìm hiểu thủ tục mua vé tàu thủy “Thống Nhất” giúp mình. Rồi điện vào Sài Gòn (theo địa chỉ nhà cô Tư) cho ba má biết tin mình sắp vào trong đó.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác