NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: [email protected]
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

CÂU CHUYỆN “NHÂN VĂN” VÀ “MỘT NGÀY CHỦ NHẬT”

( 03-08-2020 - 08:39 AM ) - Lượt xem: 761

LTS: Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6-5-1912, cách nay 108 năm. Ông mất năm tuổi 49, để lại nhiều tác phẩm dở dang, nhiều dự định chưa thành. Nhưng cùng với thời gian, sự nghiệp của ông không ngừng được bổ sung, bồi đắp trên nhiều phương diện, trong đó, bên cạnh những nỗi niềm của ông ngày càng được cảm thông, chia sẻ, còn phải kể đến chính những nhân tố đã “làm khó” ông lúc sinh thời…

Gần đây, trên mạng xã hội thấy có nhiều bài đăng lại các trang sách, báo xuất hiện trong thời kì “Nhân văn Giai phẩm” hồi nửa cuối những năm 1950. Bên cạnh nhiều ý nghĩa khác, đó trước hết là những thông tin cho phép người đọc sau hơn nửa thế kỷ tiếp cận được một cách trực tiếp, xác thực về những gì đã xảy ra trong giới văn học nghệ thuật nước nhà khi ấy, có liên quan đến không ít tác giả, tác phẩm mà về sau người ta chỉ được nghe nói mà không rõ thực hư. Có thể kể đến các bài phê phán những người làm báo Nhân văn và tập san Giai phẩm, được gộp chung là “nhóm Nhân văn Giai phẩm”, hay gọn hơn, “bọn Nhân văn”. Tiếp đến là một số bài tự phê bình, kiểm thảo của những người trong cuộc, trong đó họ kiểm điểm về những sai lầm, khuyết điểm đã mắc phải và nhận tội trước Đảng, trước nhân dân.

Giờ đây đọc lại những bài ấy, đứng tên những nhà văn lớn, những “đại trí thức” của đất nước, ta thấy thật xót xa cho họ, khi buộc phải “tự thú” về những lỗi lầm họ đã gây ra cho đất nước, cho dù cái tâm của họ với dân với nước đâu phải như vậy. Thế nhưng nào có được yên. Người ta lại tiếp tục soi mói những bài tự kiểm thảo ấy, để “chỉ ra” rằng họ không hề thành khẩn, mà vẫn giữ nguyên cái tâm địa của mình – chỉ có điều không thể qua được mắt nhân dân!...

Đó thực sự là những gì đáng tiếc đã xảy ra. Và cũng qua đó, ta có thể hình dung bốn chữ “Nhân văn Giai phẩm” bị coi là tội đồ như thế nào. Trong con mắt của đương thời, họ – những người làm báo Nhân văn và tập san Giai phẩm – là những con người cực kì nguy hiểm, vô cùng độc địa và nhất là, không hề hối cải! Mà không chỉ có họ, tất cả những ai có dính líu, dù chỉ đôi chút, cũng mắc cái tiếng “liên quan đến Nhân văn Giai phẩm” đeo đẳng suốt đời!

* * *

Và còn một trường hợp khác nữa. Những người “bênh” Nhân văn Giai phẩm.

Trong hồi ức của mình, nhà văn Kim Lân có nói đến năm người “không đánh Nhân văn” là Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Kim Lân. Dù có thể bằng cách này hay cách khác, các ông vẫn phải đứng tên lẫn trong một tập thể những người lên tiếng phê phán nhóm Nhân văn Giai phẩm, nhưng thường đó là những bài có tính xã thuyết, định hướng, khẳng định vai trò đúng đắn của Đảng và quan điểm sai lầm, lệch lạc của nhóm người kia. Còn tuyệt nhiên, không ai trong họ đứng ra viết bài hay đăng đàn diễn thuyết, thóa mạ anh em. Đúng vậy, “anh em”, bởi trước sau họ vẫn coi những người làm báo Nhân văn, tập san Giai phẩm là cùng cánh viết lách, nghĩa là cùng hội cùng thuyền với mình. Nhưng cũng chính vì thế mà họ bị “trên” dị nghị và không còn được tin dùng.

Nhà thơ Lê Đạt, trong hồi ký Anh Tưởng có kể câu chuyện mà tôi xin được dẫn nguyên văn:

“Chúng tôi ở nhà Tô Hoài trên Nghĩa Đô về, có Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, tôi và NVB, một nhân vật chống Nhân văn khét tiếng cùng trong ban phụ trách lớp Thái Hà II với NĐT.

Cuộc đồng hành bất đắc dĩ và không khí thật nặng nề. Bỗng Nguyễn Huy Tưởng nói khá to:

“Các ông ấy thật buồn cười, bắt mình học một tháng chứ học một năm, mình cũng không bao giờ kết luận thằng Lê Đạt là phản động, mình ở với nó mãi, mình còn lạ gì.”

Nguyễn Huy Tưởng biết rất rõ phát biểu như vậy là hết sức nguy hiểm, nó có thể khiến anh dễ dàng bị buộc tội là ủng hộ Nhân văn và tức khắc trở thành một tên phó phản động, chí ít, cũng là một phần tử lạc hậu, lúc này anh vẫn còn trong Đảng đoàn văn nghệ.”

* * *

Tóm lại là như vậy, liên quan đến “Nhân văn Giai phẩm” có mấy cấp độ: chủ mưu, tham gia, dính líu, bênh, hay không đánh thì chí ít cũng là một phần tử lạc hậu, xin mượn lời nhà thơ Lê Đạt.

 

Một ngày chủ nhật tập truyện, ký của nhiều tác giả, và bài viết của Lê Đạt trên số báo Chủ nhật, ra ngày 8-6-1958.

Trong bối cảnh của sự quy chụp có tính phổ biến tràn lan ấy, còn có một bộ phận các sáng tác và người sáng tác bị ảnh hưởng của cách nhìn thiển cận, soi mói, coi cái gì cũng là “có vấn đề”. Đó là những truyện, những thơ, những ký bị coi là đả kích chế độ, là nói xấu lãnh đạo, không thì cũng là xỏ xiên, ám chỉ… Bạn đọc am hiểu lịch sử văn học hẳn đã biết nhiều trường hợp trong số đó. Ở đây, chúng tôi xin được tập trung nói về bút ký Một ngày chủ nhật của Nguyễn Huy Tưởng, viết vào cuối năm 1956. Chúng ta biết rằng đấy là thời điểm cải cách ruộng đất đang phơi bày những tác hại ghê gớm của nó, làm đảo lộn toàn bộ đời sống xã hội và gây biết bao oan trái cho những người bị xử sai. Đó cũng là thời điểm xảy ra sự biến ở Hungary và việc Liên Xô can thiệp vào đất nước này, dẫn đến những hậu quả rất xấu trên trường quốc tế. Đồng thời, ở trong nước, cuộc sống mới đang bộc lộ những yếu kém trong sự quản lí, điều hành của các cấp có trách nhiệm, dẫn đến một sự nhếch nhác nói chung trong đời sống xã hội… Tất cả những điều ấy đã tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Huy Tưởng, và được ông phản ánh trong bài bút ký của mình.

Sáng chủ nhật hôm ấy, như cũng đã nhiều lần, Nguyễn Huy Tưởng lại làm một tua quanh hồ Hoàn Kiếm ông yêu. Nhưng tâm trạng tồi tệ khiến ông “không nhếch nổi nụ cười để chào lại một người bạn đi xe đạp giơ tay vẫy”. Mà làm sao ông có thể cười được, khi con mắt nhà văn ở ông nhận thấy: “Nước hồ gợn váng, ven đầy rác rưởi. Bờ không được sạch, lủng củng những quảng cáo vụng về, bày vô tổ chức, những biển giới thiệu hình ảnh các nước bạn, hầu như không ai săn sóc, vì mặt kính không mấy khi sạch xác ruồi muỗi. Có cảm tưởng hồ bị bưng kín, và bé lại. Đường đi có nhiều chỗ lầy lội. Thùng rác như chiếc quan tài lù lù bên lối đi.” Sự liên tưởng đưa ông đến những hình ảnh khác từng khiến ông cám cảnh: “Những niên hiệu các triều đại ghi trên hoành phi, câu đối của một ngôi đình cổ kính bị xóa đi bằng vôi trắng. Trên mặt tấm hoành phi treo giữa một ngôi chùa gần Hà Nội, người ta dán lên khẩu hiệu: Đảng Lao động Việt Nam muôn năm.” Tất cả – xin khỏi trích dẫn thêm – dẫn ông đến một sự cật vấn mình: “Ngày chủ nhật mà sao tâm trí không được thảnh thơi? Đụng đến chỗ nào cũng thấy không vừa ý.” Nhưng rồi tính phục thiện, hay để nâng quan điểm, tinh thần lạc quan cách mạng sẵn có đã nâng đỡ tâm trạng ủ ê của tác giả, khi ông lại được hòa mình vào khung cảnh thiên nhiên trên con đường trở về nhà: “Giữa hai hàng cây cao, những cây nhỏ trồng sau trận bão kinh khủng năm ngoái đã bắt đầu lớn, tàn lá đã xanh um, quãng đường đã đỡ trống. Tàn phá lớn lao đến đâu cũng không lại được với cuộc sống. Con đường này tôi vẫn đi lại hàng ngày, nhưng không để ý đến sức lớn rất nhanh của những cây mới đó. Cuộc sống cứ đi và bao giờ cũng thắng.”

Vâng, câu chuyện đại loại là như vậy. Nhưng hậu quả của nó thì không hề đơn giản. Sau khi đăng (cuối năm 1956), bài ký đã phải chịu nhiều sự phê bình, chỉ trích, nào là Nguyễn Huy Tưởng dao động, hữu khuynh, nào là người nhìn đâu cũng chỉ thấy rác rưởi. Điều đáng nói là âm hưởng phê phán nó còn kéo dài cho đến mãi sau này. Nhật ký ngày 18-3-1958 của ông cho biết: “Chỉ một bài “Một ngày chủ nhật” mà các ông ấy cứ nói đi nói lại mãi. Như Phong bảo có hại cho đời mình. Đối với những người chỉ quen ưa nịnh, một cái gai trước mắt cho họ là một bài nói họ một chút.”

Hơn ba tháng sau, Nguyễn Huy Tưởng ghi: “Cảm thấy không khí oi bức. (…) Báo ND (một ngày chủ nhật) lại đem bài ấy ra riễu.”

Bài mà ông nói ấy, ký tên Người Yêu Đời, đăng đúng vào một ngày chủ nhật, 8-6-1958, để “riễu” (chữ dùng của Nguyễn Huy Tưởng) bài Một ngày chủ nhật của ông. Xin đăng lại đôi lời để bạn đọc thấy được “trình độ” nói móc nói máy của báo chí ta thời gian ấy:

“CÂU CHUYỆN MỘT NGÀY CHỦ NHẬT

Tôi xin mượn chữ của nhà văn để đặt tên cho câu chuyện hàng tuần này. Và lần này cũng xin học đòi nhà văn đi một vòng Hồ Gươm mà suy rộng ra việc cả thiên hạ.

Tiếc thay, đến khi Hồ Gươm ta đã có một vài đổi khác thì các nhà văn ta lại chẳng còn ở thời kỳ viết về những chuyện “chung quanh Bờ Hồ” nữa.

Bên hồ có nhà Thủy tạ hôm nay là cửa hàng giải khát số 1 của Công ty lương thực Hà-nội.

Đấng “nghệ sĩ” và bậc “trưởng giả” có lẽ chẳng thú lắm cái chốn “ngư ẩm” của quần chúng này. Bởi vì khách uống hôm nay không phải là những người cầm can, ngậm píp, mũ phớt lấp mặt, ngồi suy nghĩ “độc lập” bên cạnh những bàn lính tẩy say rượu. Khách uống hôm nay chỉ là những người của Hà-nội làm ăn, lại có khi có cả những bà cụ nông dân gọi cốc kem ăn, nón dựa chân bàn, bu gà chân ghế.

Các chị phục vụ tươi cười, đứng đắn, mặc áo khoác ngoài trắng, trên ngực đeo phù hiệu đề chữ “Thủy tạ”. “Thủy tạ” hay “Thủy tọa”? Giá còn báo Văn thì trong mục “Nói hay đừng”, người ta đã bắt bẻ chơi kèm theo mấy lời chửi đổng. Để mấy kẻ chẳng ưa gì nền kinh tế bảo vệ người tiêu thụ gật đầu ban cho hai chữ: Khá! Dũng cảm đấy! (…)”

* * *

Khỏi phải nói, với một người viết có tấm lòng chân thành như Nguyễn Huy Tưởng mà bị bẻ queo, móc máy như thế, hẳn ông phải khổ tâm thế nào. Nhưng, như có người đã nói về sức chịu đựng của Nguyễn Huy Tưởng, ông lại bền bỉ vượt qua những sự thị phi ấy, để đến với cái đã thành phận sự của đời mình: viết văn. Trong những tháng năm ít ỏi còn lại trước lúc đi xa, ông đã kịp viết nên những trang văn huy hoàng, trong trẻo về Hà Nội và cho thiếu nhi. Đó thực sự là những trang văn bền vững với thời gian, đủ để khẳng định tư cách nhà văn của ông, cũng như bài bút ký Một ngày chủ nhật cho phép khẳng định tư cách công dân của nhà văn, nhà viết kịch Nguyễn Huy Tưởng…

Các Bài viết khác