NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: [email protected]
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

“TÔI ĐI CỔ ĐỘNG CHO HỘI”

( 28-11-2019 - 04:06 PM ) - Lượt xem: 578

LTS: Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là một yếu nhân của phong trào Truyền bá quốc ngữ, bên cạnh những tên tuổi như Nguyễn Hữu Đang, Lưu Văn Lợi – hai người đồng chí cùng hoạt động Truyền bá quốc ngữ với ông ở Hải Phòng. Ông đến với hoạt động này ngay khi mới nhóm ở Hà Nội (1938), bắt đầu với những công việc của một ông thày dạy chữ và người đi tuyên truyền vận động cho phong trào. Hai đoạn nhật ký sau của Nguyễn Huy Tưởng giúp ta hình dung về những năm tháng đó… (Đầu đề lấy từ một ý trong đoạn tríchNhật ký.)

10-9-1938

Chiều hôm qua, 6 giờ rưỡi, Đoan và tôi đến hội Trí Tri để chứng kiến ngày mở học đầu tiên của hội Truyền bá quốc ngữ mà chúng tôi là hoạt động hội viên. Nóng một cách khó chịu. Không một tí gió. Nhưng chúng tôi cũng uể oải đi: chúng tôi muốn ích lợi. Trong thâm tâm, tôi khen anh Quản Xuân Nam, người đề xướng ra vấn đề Bài trừ nạn thất học; mỹ ý của cái người sốt sắng, thương người ấy đã có kết quả, và tôi tưởng rằng anh Nam, hôm nay, sẽ sung sướng không ai bằng. Trong trường Trí Tri, trong các lớp học, đã chen chúc bao nhiêu người “dốt” mà vì nghèo đói không thể học được: trẻ con, người nhớn, đàn bà, kẻ áo cộc, người áo the, người áo trắng, cu li, vú em, con đòi, thợ thuyền, tấp nập vào học. Tôi cảm động khi thấy những người nhớn ấy chưa biết chữ quốc ngữ, và cái việc dìu dắt họ, mở mắt cho họ, khai thông óc cho họ, ôi! nó mới đẹp đẽ làm sao! Các hội viên trong ban dạy học đi lại tấp nập, vẻ sốt sắng hiện trên nét mặt. Trong các buồng học lờ mờ ánh sáng, “học trò” ngồi, chờ, và mong mỏi. Quạt điện có chạy, nhưng vì hơi người, vì sức nóng, nên khó chịu lạ thường. Tôi lăng quăng đi xem một lúc, gặp anh Nam, theo anh ra chỗ ban dạy học làm việc. Khi tôi bắt tay họ, tôi có cái cảm tưởng rằng tôi hoạt động hơn một chút, và tôi sung sướng như được hãnh diện một chút. Tôi không dám giấu rằng tôi sẽ được dịp quen những bạn gái có chân trong hội: cái lòng tư lợi của tôi bao giờ cũng có. Tôi vào bàn đếm sách để phát cho học trò, cắm ngòi bút vào quản: những quản bút hạng tồi khiến cho cái công việc ấy làm cho tôi sứt và sưng cả tay.

Kế chúng tôi sang chỗ dạy học. Tôi thấy mấy người trong ban tổ chức bận rộn, tôi vào nhận sách phát cho học trò. Tôi hỏi tên những đứa trẻ nhỏ, mà tôi đoán chắc là con cái những người lao động, ôi những đứa trẻ hôi hám, mà sự ngồi gần đem lại cho ta nhiều cái khó chịu. Hơi thở của chúng làm cho tôi hơi nản trong công việc nghĩa của tôi. Một ông bạn quá sỗ sàng, thấy tôi ngồi viết bút chì chữ it là hai chữ mà hội dạy trẻ con hôm ấy, để cho trẻ tô thì giẫy nẩy ra nói: “Sao ông lại viết chữ i chữ t cho trẻ tô, viết. Nó làm thế nào được?” Tôi nói: “Tôi thấy bạn kia bảo viết như thế”. Ông nói: “Ông hẵng làm những cái gạc cho chúng nó tô đã”. Khi thấy tôi dùng dằng, ông nói: “Mỗi người một cách thế thì hỏng”. Ông làm cho tôi phật ý, vì tôi có trong ban dạy học đâu mà hiểu biết cách dạy. Nhưng ông bỏ đó, mặc kệ tôi, vùng vằng, trước sự ngạc nhiên của tôi. Ông nói: “Thôi mặc ông, kìa nhà báo họ đến kia kìa”, ra ý ông hấp tấp quá. Lúc sắp tan, ông thấy tôi đứng khoanh tay không làm gì, trong khi nhiều sách còn trắng toát, ông lại nói: “Kìa ông viết hộ đi chứ; còn bao nhiêu sách chưa viết”. Tôi vâng lời ông, lấy bút chì viết chữ i, chữ t, chữ ti, tức là bài học, rồi ở dưới tôi làm luôn một tràng dài những cái sổ. Tôi cầm tay cho học trò viết, ôi những bàn tay ghẻ lở và bẩn, và ướt át. Tôi cảm động nhất khi viết cho một con bé trông kháu khỉnh, mà hỏi nó nó không giả nhời. Chị em nó bảo rằng nó câm, và nó câm thật. Lại còn một việc quan trọng mà tôi chưa kể là khi thấy trong lớp nhiều người đã biết quốc ngữ, một anh phải ra đứng giảng giải cho họ rằng hội sẵn lòng dạy họ, và hội lập ra chỉ cốt nâng cao trình độ trí thức cho họ. Nhưng nay hội bắt đầu chỉ dạy những người chưa biết một tí quốc ngữ nào; anh nhân danh hội cám ơn họ đã đến, và nói họ nên vui vẻ về đợi đến ít lâu, thế nào cũng có lớp dạy riêng cho họ. Họ nhìn nhau, có ý tức giận, rồi kéo ra về.

Đến lúc tan buổi học, ông bạn hay gắt tôi lại sai tôi xuống thang gác để trông cho học trò ra, và mắng tôi vài câu mà tôi không hiểu, nhưng ông quá lắm, khiến tôi không bằng lòng. Lần này tôi không vâng lời ông nữa. Vả lúc nẫy ông đã nói: “Nếu cứ dạy như thế này thì một tháng, tôi xin chịu”. Ông đã tự làm mất giá trị của ông.

17-10-1938

Hôm qua, tôi đi cổ động cho hội Truyền bá chữ quốc ngữ, một công cuộc mà tôi cho là rất có ích. Buổi sớm và tối hôm trước, tôi cứ áy náy không yên với công việc mà tôi sắp làm. Tôi có cái cảm giác sợ hãi, và nặng nề. Tôi không tin ở kết quả lắm. Sáng dậy, trời mưa và lạnh. Quần áo rét của tôi còn để ở nhà quê: tôi tự nghĩ thẹn với bộ nực và chiếc chemise [sơ mi] cổ Danton của tôi. Nhưng các anh em bạn đến dần dần. Và tôi bắt buộc phải đi. Tôi không biết ăn nói làm sao, vì tôi rất vụng về về đường ấy. Trời lạnh. Và phố sá lặng yên. Khi chúng tôi đi đến đầu phố mà chúng tôi cổ động, anh em nói: “Đến chiến trường của mình rồi đây. Xông vào chiến địa, anh em, và công kích đi!” Câu pha trò làm cho chúng tôi cười rộ. Tôi ngắm cái insigne [dấu hiệu] đeo ở revers áo tôi, và tôi ngượng ngập vì có lẽ nhiều người sẽ chú ý đến tôi. Tôi vào một nhà đi đạo, lặng lẽ như tờ, do một thiếu nữ rất đẹp, người mảnh khảnh, tiếp chúng tôi. Tôi có cảm tưởng như vào xông nhà một người, buổi tết. Nàng nhìn chúng tôi, thẹn thùng e lệ, rồi, sung sướng cho chúng tôi biết bao, sau khi xem quyển Điều lệ, nàng bằng lòng vào hội, ký tên Dương Liễu, cái tên đẹp đẽ và cũng thướt tha như nàng. Chúng tôi hăng hái thêm lên. Trẻ con trông thấy chúng tôi, nhìn bỡ ngỡ, nhiều đứa đóng cửa nhà, không cho chúng tôi vào. Họ sợ một sự gì bất trắc. Nhiều người tán thành công cuộc, nhiều người khen chúng tôi chịu khó. Nhiều khi họ đuổi chúng tôi một cách sống sượng, chẳng hạn: “Tôi không hội hè gì cả”. Khó chịu nhất là những nhà chỉ có đàn bà. Họ chối từ một cách tự nhiên: “Để ba cháu về, cháu hỏi ba cháu”. Họ nói đúng lý lắm. Những người học sinh vui lòng ký giấy vào hội, nhiều viên chức cũng vậy. Rất nhiều người lấy quyển Điều lệ và giấy nhập hội để xem xét cho chín rồi sẽ liệu. Có người nói: “Mục đích thì hay, nhưng hẵng để tôi xem, sợ có sự gì ám muội không”. Chúng tôi lấy làm phật ý vì những câu nói ngạo nghễ ấy.

Tôi nghiệm thấy rằng, mỗi khi sắp vào một nhà nào, tôi rụt rè lắm, nhất là đứng trước những nhà sang trọng. Tôi ngần ngừ khi thấy những nhà đóng cửa im ỉm: thường thường tôi bỏ qua những nhà ấy. Mỗi khi tôi vào, tôi hết sức lui lại sau để các bạn tôi đi trước, nhưng cũng có khi tôi bạo dạn vào đầu. Anh Tuất xông xáo rất khỏe, tôi thấy anh tận tụy và sốt sắng với việc nghĩa mà tự thẹn. Đèn điện đã lên, chúng tôi còn đi lang thang các phố. Sau cùng, tôi vào một nhà khá giả ở phố Doudard de Lagrée[1]. Mở cửa, một thiếu nữ hỏi chúng tôi có việc gì. Khi chúng tôi nói rõ mục đích là đi cổ động cho hội Truyền bá chữ quốc ngữ, cô phì cười rồi chạy vào, khiến cho chúng tôi đã thất vọng. Nhưng ông chủ nhà tiếp đãi chúng tôi một cách tử tế, rồi lại được dịp có ông bạn đến chơi. Ông này nói toàn giọng ưu thời mẫn thế, ông tán thành công việc của chúng tôi một cách nhiệt liệt. Ông nói rằng từ xưa đến nay chưa có một công cuộc nào hay như công cuộc chúng tôi đương làm, ông lại nói rằng công việc to tát rồi lo rằng chính phủ sẽ tìm cách làm hại hội của chúng tôi. Ông bỏ ra tiền không là bao, chỉ sợ những điều ngăn trở có thể xẩy ra cho chúng tôi thì uổng quá. Ông lại nói ông không làm gì được, nên vẫn thường cho các con, những ngày thứ năm chủ nhật, về quê dạy dỗ cho đám dân cày dốt nát. Chính nhờ ông mà chúng tôi được hai ông vĩnh viễn hội viên là ông chủ nhà và ông.

Khi tôi ra về, cám ơn hai cụ, ông khách còn nói: “Đáng nhẽ chúng tôi phải cám ơn các ông mới phải”. Chúng tôi cảm động vô cùng. Chúng tôi ra về, lòng hớn hở, và quên cả nỗi vất vả nhục nhằn của cả một ngày.



[1]Nay là phố Hàm Long.

 

Các Bài viết khác