NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: [email protected]
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NỮ SĨ HỒ XUÂN HƯƠNG VỚI NHỮNG BÀI THƠ LƯU HƯƠNG VỀ TÌNH DUYÊN VÀ THÂN PHẬN

( 18-08-2021 - 11:48 PM ) - Lượt xem: 890

Mặc cho các học giả thời trước và thời này, ở trong nước hay ngoài nước, trẻ tuổi hay lão làng về nghiên cứu phê bình văn học…đã phải hao tốn rất nhiều giấy mực, hao tổn rất nhiều thời gian cho sự bàn cãi, tranh biện về hiện tượng tiếng thơ nữ sĩ Bắc Hà, gia tài thơ của Hồ Xuân Hương vẫn lưu danh trên bức tường văn học Việt Nam.

Người nữ sĩ được mệnh danh là Bà Chúa thơ Nôm chào đời cách đây tròn 250 năm. Cuộc đời Hồ Xuân Hương là những tháng năm chìm nổi, lênh đênh với thân phận lẽ mọn. Là người phụ nữ đầy ấn tượng về nhan sắc, có đặc tài thơ ca, hội tụ tư chất thông minh và hiếu học, mang khí chất mạnh mẽ của nữ quyền và có mối tình riêng đầy trắc trở với người mình yêu - nhất là tình riêng với một thi nhân tài hoa bậc nhất thời ấy, trên mảnh đất Kinh Bắc…đã khiến bao người say đắm nhưng cũng khối người đem lòng thị phi.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nàng là ai? từ đâu đến?

Người ta không tìm thấy bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về thân thế, lai lịch của nữ sĩ Hồ Xuân Hươngmà chỉ dựa vào tập sách Giai nhân di mặc của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Theo đó, Nữ sĩ đến với cõi đời này vào cuối TK XVIII (1772) tại quê hương Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An, thuộc vùng đất văn chương sĩ phu Bắc Hà. Người đời xưng tụng Hồ Xuân Hương là Bà Chúa thơ Nôm, bởi những vần thơ sáng tác bằng chữ Nôm vang danh một thưở.

Đa số người đời cho rằng, nét đặc sắc của thơ bà là yếu tố "tục tục thanh thanh". Và thực sự, những vần thơ “tục mà thanh” của bà đã làm điêu đứng biết bao người thời ấy và cả bây giờ. Nhưng dù thế nào đi nữa, Hồ Xuân Hương vẫn ngời ngợi trên thi đàn từ TK XVIII đến bây giờ với “tước hiệu” Bà Chúa thơ Nôm của Việt Nam (chữ của nhà thơ Xuân Diệu), dù thơ của nữ sĩ để lại, đa số đều được viết bằng chữ Hán.

Mặc cho các học giả thời trước và thời này, ở trong nước hay ngoài nước, trẻ tuổi hay lão làng về nghiên cứu phê bình văn học…đã phải hao tốn rất nhiều giấy mực, hao tổn rất nhiều thời gian cho sự bàn cãi, tranh biện về hiện tượng tiếng thơ nữ sĩ Bắc Hà, gia tài thơ của Hồ Xuân Hương vẫn lưu danh trên bức tường văn học Việt Nam.

Những vần thơ lưu hương về tình yêu và thân phận của Hồ Xuân Hương

1/ Ngược xuôi trong thế giới thơ “tục mà thanh”

Theo dòng đời xuôi ngược, những bài thơ “tục mà thanh” của nữ sĩ cứ mặc kệ “thị phi”, vẫn âm ỉ chảy trong lòng độc già. Những phu nhơn quý phái, những tiểu thư đoan trang thùy mị…thời ấy, cách chúng ta hơn hai thế kỷ, không thích những vần thơ lẳng lơ, ỡm ỡ, đọc lên là phải đỏ mặt…đầy trần tục thế. Những kẻ sĩ cao giọng đạo đức không ưa những bài thơ mang yếu tố “sex”, dù có thể hành trạng của họ trái ngược lại suy nghĩ. Những văn nhân đích thực lại muốn có những vần thơ khuôn phép, mẫu mực…

Ta hãy đọc những bài thơ làm nên giá trị không lẫn lộn vào ai và không bao giờ trôi lãng này của Hồ Xuân Hương:

Đây là bài “Cái quạt

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa/ Duyên này tác hợp tự ngàn xưa.

Chành ra ba góc da còn thiếu/ Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.

Mát mặt anh hùng khi tắt gió/ Che đầu quân tử lúc sa mưa

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng/ Phì phạch trong lòng đã sướng chưa

Là cái quạt đấy chứ! Tả thực cực kỳ giỏi. Chính là cái quạt (mo) ta hay dùng khi nóng nực, lúc mưa sa. Ai muốn tưởng tượng, suy diễn thì xin cứ tha hồ!

Này là bài “Dệt cửi đêm

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau/ Con cò mấp máy suốt đêm thâu/ Hai chân đạp xuống năng năng nhắc/ Một suốt đâm ngang thích thích mau/ Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả/ Ngắn dài khuôn khổ vẫn như nhau/ Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ/ Chờ đến ba thu mới dãi màu

Có cô thợ dệt cửi nào không nhìn thấy hình ảnh mình trong đấy. Miêu tả cực chuẩn. Và chính là hình ảnh khung cửi đang hoạt động, lại là đang dệt cửi ban đêm với sự điều khiển, tương tác của con người. Quá tài tình! Còn ai muốn hiểu qua một hình ảnh khác thì cứ mặc!

Với bài “Quả mít”. Ai lại không biết loại quả thơm ngọt này. Da xù xì như da cóc. Thân cắt ra là đầy nhựa trắng, dính bệt là khó gột. Để khi xẻ ra, bớt nhựa, nhà vườn hay đóng cọc vào thân rồi đem phơi nắng. Dưới mắt nhìn của bà chúa thơ Nôm đầy ẩn ý thì Mít là đây. Là Mít chứ không phải là thứ quả nào khác…

Thân em như quả mít trên cây/ Da nó xù xì múi nó dày/ Quân tử có yêu xin đóng cọc/ Đừng mân mó nữa nhựa ra tay

Còn bài tả conỐc nhồi”, một loại ốc hay có nhiều ở thôn quê, sau khi bắt về phải ngâm cho sạch bùn rồi mới đem luộc. Khi ăn với mắm gừng, phải dùng gai khêu cái yếm ra rồi mới xoắn từ từ, ngó ngoáy con ốc mới cho ra trôn, tức cái “gan, cái khu” nâu nâu thơm ngon, béo ngậy. Hồ Xuân Hương nào có sai môt ly: 

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi/ Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi

Quân tử có thương thì bóc yếm/ Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi

Độc đáo là bài thơ “Đánh cờ” miêu tả thú tiêu khiển trí tuệ. Những quân cờ trắng, đen: nào là xe, pháo, sĩ, tốt, mã, pháo… Nào là bàn son quân cờ…được trình ra trong cuộc đấu cờ người vào đêm khuya bất phân thắng bại…

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,/ Ðốt đèn lên đánh cuộc cờ người./ Hẹn rằng đấu trí mà chơi,/ Cấm ngoại thuỷ không ai được biết./ Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,/ Ðể đôi ta quyết liệt một phen./ Quân thiếp trắng, quân chàng đen,/ Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa./ Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa,/ Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên./ Hai xe hàng, chàng gác hai bên,/ Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ./ Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,/ Ðem tốt đầu dú dí vô cung,/ Thiếp đang mắc nước xe lồng,/ Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu./ Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu,/ Thua thì thua quyết níu lấy con./ Khi vui nước nước non non,/ Khi buồn lại giở bàn son quân ngà”.

Còn đây là cảnh trong bài thơ “Tát nước”:“Đang cơn nắng cực chửa mưa tè,/ Rủ chị em ra tát nước khe./ Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm,/ Lênh đênh một ruộng bốn bờ be./ Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa,/ Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt ve./ Mải việc làm ăn quên cả mệt,/ Dạng hang một lúc đã đầy phè”.

Thật đúng là khung cảnh tát nước ngày mùa!

Với người đời yêu thích thơ “tục và thanh” của bà, người ta lại nhớ nhiều bài thơ Đánh đu. Cực phẩm. Cảnh trí đúng y như thế! Hai người đang chơi đánh đu!

“Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,/ Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,/ Trai co gối hạc khom khom cật/ Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng./ Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,/ Hai hàng chân ngọc duỗi song song./ Chơi xuân đã biết xuân chăng tá./ Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!”

Còn đây là bài thơ tả thực cảnh “Đưa đò”. Phần thanh là thế. Phần tục nằm nơi đâu?

“Chú lái kia ơi, biết chú rồi,/ Qua sông rồi lại đấm ngay bòi!

Chèo ghe vừa khỏi dòng sông ngược,/ Đấm cọc ngay vào ngấn nước xuôi./ Mới biết lên bờ đà vỗ đít,/ Nào khi giữa khúc đã co vòi./ Chuyến đò nên nghĩa sao không nhớ?/ Sang nữa hay là một chuyến thôi?”

Hang Cắc Cớcũng là một bài thơ “tục mà thanh” siêu phàm: “Trời đất sinh ra đá một chòm/ Nứt làm đôi mảnh hổng hòm hom/ Kẽ hầm rêu mọc trơ toen hoẻn/ Luồng gió thông reo vỗ phập phòm/ Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm/ Con đường vô ngạn tối om om/ Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc/ Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm”

Hay như bài “Cái Giếngcủa nữ sĩ! Chính là tả cái giếng! Nhưng “cái giếng” mà không phải là cái giếng!

“Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông/ Giếng tốt thanh thơi rất lạ lùng/ Cầu trắng phau phau hai ván ghép/ Nước trong leo lẻo một dòng thông/ Cỏ gà lún phún leo quanh mép/ Cá diếc le te lội giữa dòng/ Giếng ấy thanh tân ai đã biết/ Đố ai dám thả nạ rồng rồng”

Trên Blog OCuaso của Huỳnh Minh Nhật, một bạn họa sĩ yêu thơ xứ Quảng (ngụ ở Tây Nguyên) cho rằng: “Thơ Hồ Xuân Hương không chỉ có cái “ngông” và những bài tự tình trách phận một cách kín đáo, đặc sắc. Thơ Hồ Xuân Hương còn là những bài vịnh, bài thơ rất… tục và táo bạo. Người đương thời gọi thơ Xuân Hương có nét “thanh thanh tục tục” đặc biệt mà không ai có được… nhưng cái “thanh thanh tục tục” đó đã khiến nhiều người khi đọc ra phải đỏ mặt!”.

Quả thực! Đọc xong bài thơ, không nghĩ thì thôi, nhưng nếu nghĩ sang ý tục, mấy ai không “đỏ mặt”?.

2/ Những bài thơ mang khí chất nữ quyền

Bên cạnh những bài thơ Nôm hừng hực “ngôn tình” thanh mà tục, thì những bài thơ thể hiện khí chất nữ quyền của Hồ Xuân Hương cũng luôn sừng sững trên bức tường Văn học nước nhà.

Đó là bài thơ “Đề miếu Sầm Nghi Đống”, trước đây được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn cấp 2: “Ghé mắt trông lên thấy bảng treo/ Kìa đền thái thú đứng cheo leo/ Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

Chỉ mới đọc lên thôi, đã nghe hào sảng, khí phách. Và hình ảnh người phụ nữ 250 năm trước như hiện lên trước mắt ta với sự ngang ngạnh, xấc xược… trước “oai hùm một thưở xâm lăng”.

Là phụ nữ Việt, yêu thích nữ công gia chánh, chúng ta lạ gì với món chè trôi nước dân dã của miền quê. Hãy đọc lại và ngẫm xem, Hồ Xuân Hương miêu tả quá chính xác cái hồn của bánh, nhưng lại là cái thần của người phụ nữ trong chốn lênh đênh: “Bánh trôi nước”: “Thân em thời trắng phận em tròn/ Bảy nổi ba chìm mấy nước non/ Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn/ Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son ”

Dị bản khác “Thân em VỪA trắng LẠI VỪA tròn/ Bảy nổi ba chìm VỚI nước non…MÀ em vẫn giữ tấm lòng son”.

Còn đây là bài “Vô Âm Nữ”: “Mười hai bà mụ ghét gì nhau/ Đem cái xuân tình cắm ở đâu/ Rúc rích thây cha con chuột nhắt/ Vo ve mặc mẹ cái ong bầu/ Nào ai biết được vông hay chóc/ Nọ kẻ chia ra cuống mấy đầu/ Thôi thế thời thôi thôi cũng rảnh/ Trăm năm càng khỏi tiếng làm dâu

Tiếp nữa là bài Canh khuya”: “Canh khuya văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan mấy nước non/ Chén rượu hương đưa say lại tỉnh/ Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn/ Xiên ngang mặt đất rêu từng đám/ Đâm toạc chân mây đá mấy chòm/ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình son trẻ tí con con”

Rồi bài Tự tình”:“Tiếng gà xao xác gáy trên vòm/ Oán hận trông ra khắp mọi chòm/ Mõ thảm không khua mà cũng cốc/ Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om/ Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ/ Sau hận vì duyên để mõm mòm/ Tài tử văn nhân ai đó tá/ Thân này đâu đã chịu già tom”

Những nỗi niềm thương thân trách phận, xót lòng cho kiếp đàn bà - mà lại là đàn bà làm thơ, được nàng Hồ giải bày trong các bài thơ có tiêu đề gần giông giống nhau. Các bài thơ này không mang ý ẩn dụ rõ nét, tục mà thanh lộ rõ như các bài thơ trên. Nhưng lại mang đậm yếu tố khơi gợi nữ quyền. Đó là các bài “Thương ôi phận gái: “Thương ôi phận gái cũng là chồng/ Ghét bỏ nhau chi hỡi Nguyệt ông/ Rồng tắm ao tù từng phận tủi/ Mưa gieo xuống giếng uổng lòng mong/ Xót thân hoa nở song lầm cát/ Thẹn mặt trần ai đứng giữa vòng/ Âu hẳn tiền nhân sao đấy tá/ Thôi đành một kiếp thế cho xong”

Hay như Thương thay phận gái”: “Thương thay phận gái cũng là người/ Nỡ bỏ xuân xanh quá nửa đời/ Ông Nguyệt nỡ nào trêu quải mãi/ Chị Hằng khéo nhẽ éo le thôi/ Hoa còn phong nhụy ong ve vãy/ Gió đã phai hương bướm tả tơi/ Quá ngán thợ trời ghê gớm bấy/ Xuân xanh được mấy chút thương ôi”

Rồi Thân phận người đàn bà”: “Hỡi chị em ơi có biết không/ Một bên con khóc một bên chồng./ Bố cu lổm ngồm bò trên bụng,/ Thằng bé hu hơ khóc dưới hông./ Tất cả những là thu với vén/ Vội vàng nào những bống cùng bông./ Chồng con cái nợ là như thế,/ Hỡi chị em ơi có biết không ?”

Một bài thơ khác cũng thể hiện tinh thần phản kháng nam quyền. Thời ấy, trai năm thê bảy thiếp. Bài thơ của Hồ Xuân Hương đã là sự tiên phong mạnh mẽ cho sự cựa quậy, phản kháng cái hủ tục khắt khe, gò bó người phụ nữ ngày trước. Như bài “Lấy chồng chung”: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng/ Năm chừng mười họa hay chăng chớ/ Một tháng đôi lần có cũng không/ Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng/ Cầm bằng làm mướn mướn không công/ Nỗi này ví biết dường này nhỉ/ Thời trước thôi đành ở vậy xong”. Chỉ cần đọc bài thơ lên, âm thanh tự nó đã tác động đến con người, đã nghe cái mầm uất nghẹn, đã tưởng ra cái sợi dây vô hình trói buộc, không cần phải phân tích cụ thể ngữ nghĩa sâu cay của chúng. Và thúc dục một sự cởi trói cho nữ quyền.

Quả là độc đáo cho tư tưởng hiện đại của một nữ lưu sinh ra từ giữa thế kỷ XVIII.Tựu trung, các tác phẩm của Nữ sĩ phần nào phản ánh thực trạng tang thương ở thời đại bà sống và sự mục rữa của những lề lối cũ xưa.

3/ Những bài thơ tình xốn xang, day dứt lụy của một đời tài hoa với Nguyễn Du và tập Lưu hương ký

   Người đời khi nói đến Hồ Xuân Hương, sẽ nhớ nhiều nhưng bài thơ mang yếu tố “sex’ của bà. Nhưng làm nên giá trị sâu lắng cho tâm tình của phụ nữ trong thời đại hạ kỳ trung đại chính là mảng thơ tình da diết, hoài mong, cháy bỏng của bà với một thi nhân tài hoa bậc nhất thời ấy.Đó là những bài thơ tình được viết ra từ những ngày mong, đêm ngóng; từ những trắc trở, trái ngang; từ những đọa đày thân phận; từ những trói buộc lễ nghi; từ những ngày dài chinh biến…

   Theo nhiều học giả, nhà nghiên cứu về Hồ Xuân Hương đã  cho là: cái duyên đã đưa đẩy cái tình, để nhiều bài thơ của bà ra đời từ mối tình si. Thi nhân ấy như thanh mai trúc mã với bà từ thuở thanh tân, đó chính là đại thi hào Nguyễn Du của Văn đàn thi ca Việt. TS Phạm Trọng Chánh (2), quê Phan Thiết - Bình Thuận là một người nghiên cứu khá sâu kỹ về đời - thơ của Hồ Xuân Hương.

 Theo Giai nhân di mặc, Hồ Xuân Hương là ái nữ của Sinh đồ Hồ Phi Diễn (1704 – 1786), người Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh.Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ tên Hà Thị ( ? – 1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh (quê Bình Thuận), dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa Phi mai xuân sắc nhất kinh thành của Tốn Phong Phan Huy Huận, khẳng định: Hồ Phi Mai là nguyên danh, Xuân Hương là biểu tự và Cổ Nguyệt Đường (古月堂) là bút hiệu.Cổ Nguyệt đường là một dinh thự lớn nằm ven bờ Hồ Tây, bấy giờ là chốn phồn hoa đô hội.

Theo thông lệ ngày trước, con gái qua thì trăng tròn, được cưới gả từ rất sớm. Hồ Xuân Hương cũng thế. Nhưng đường tình duyên của bà trắc trở, dẫu qua hai lần đò đều không viên mãn. Giai thoại về đường chồng con của bà cũng lắm thị phi. Bàmang thân phận làm lẽ cho một hào phú có biệt hiệu Tổng Cóc, thuộc dòng dõi văn nhân, chuộng ca ngâm, cảm mếntài thơ của vợ lẽ. Yêu quý vợ nên Tổng Cóc đã cất nhà Thủy Tạ cho nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở riêng, thỏa đam mê thi phú.

Chung sống với Tổng Cóc được khá lâu thì Hồ Xuân Hương dứt áo ra đi với một cái thai (đứa bé vắn số). Có thuyết cho rằng, bà bỏ đi sau khi Tổng Cóc đã đột ngột từ trần. Có thuyết nói: bà không chịu được điều tiếng của vợ con Tổng Cóc (thường được gọi là Đội Kình)và người làng. Lại có thuyết nói: với bản tính phóng đãng, Hồ Xuân Hương đã trốn đi cùng người tình là Phạm Viết Ngạn, tức ông Phủ Vĩnh Tường và sinh một người con tên Phạm Viết Thiệu (nhưng được 27 tháng thì ông Phủ mất. Hồ Xuân Hương lại có bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường lưu danh):

“Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!/ Thiếp bén duyên nàng có thế thôi/ Chôn chặt văn chương ba thước đất/ Ném tung hồ thỉ bốn phương trời/ Cán cân tạo hoá rơi đâu mất;/ Miệng túi càn khôn thắt lại rồi/ Hăm bảy tháng trời là mấy chốc;/ Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!”.

Người đời cũng truyền khẩu: Nữ sĩ họ Hồ sống phong lưu, là một hoa nương thanh sắc vẹn toàn, và có những mối tình với Phạm Đình Hổ, Phạm Thái, Phạm Quý Thích, Nguyễn Du, Nguyễn Hầu, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tĩnh, Phan Huy Huân, Mai Sơn Phủ, Thạch Đình, Cự Đình, Thanh Liên. Nhưng mối tình với Nguyễn Du, luôn được các học giả nghiên cứu và quan tâm nhiều.

Tiến sĩ Phạm Trọng Chánh, năm 2011 đã có một chuyến đi dài tìm về làng Nghi Tàm bên Hồ Tây, “thăm dấu vết từng di tích ghi dấu trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ và nhất là 31 bài thơ của Tốn Phong”. Thời gian 5 ngày và với bao ngày tìm đọc tài liệu, sự nghiên cứu tâm huyết…và bài viết sâu sắc, trí tuệ, tài hoa về mối tình của Hồ Xuân Hương với chàng họ Nguyễn: “Đi tìm Cổ Nguyệt đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du” đã xuất hiện.

Ông tâm tình: “Cổ Nguyệt Đường nơi đâu? Tôi đi nhiều lần trên con đường nhỏ không tên từ chùa Kim Liên đến đình Nghi Tàm và đọc lại thơ các danh sĩ, Nhà nàng là một khu đất rộng trên đường này, nằm bên Bến trúc Nghi Tàm”

Đình làng Nghi Tàm xưa là một khu đất rất rộng, xưa có Đài Khán Xuân của Chúa Trịnh, nay chỉ còn một cái đình nhỏ khu đất hẹp lại. Cạnh đài Khán Xuân còn có ngôi gác tía của Nguyễn Khản, anh Nguyễn Du

Cổ Nguyệt Đường cạnh chùa Kim Liên, phía trước nhà có trồng một cây bàng lớn: Chung quanh nhà có trồng nhiều cây mai mơ. Nhà nàng cạnh bến trúc làng Nghi Tàm. Trên bến có trồng vài cây liễu: Bến nước đìu hiu liễu rủ cành. Trong vườn có trồng cây vông và cây mận: Ngô đồng lá cũ mơ hồn phượng, ngõ hạnh lạnh tàn chuyển bóng oanh. Nhà Xuân Hương có trồng nhiều hoa, hoa đào, để bán như các nhà khác trong làng Nghi Tàm:Nhà nàng quay mặt về hướng Đông nhìn ra Hồ Tây:: Đối mặt trời xanh, mưa móc thuận.

Trong bài Mộng đắc thái liên (Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch) Nguyễn Du gọi Xuân Hương là lân nữ, cô hàng xóm, và hẹn hò cùng nàng hái sen ở Tây hồ: “…Tây Hồ, hái, hái sen, / Hoa, gương chất mạn thuyền,/ Hoa tặng người mình kính, / Gương tặng người mình thương. / Sáng nay đi hái sen./ Hẹn láng giềng đi với./ Nàng đến tự bao giờ ?/ Cách hoa nghe cười nói…”. Mối tình như mơ ấy kéo dài trong ba năm (1790-1793).

Theo TS Phạm Trọng Chánh (2), có những mốc thời gian và những bài thơ trao - gửi của Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, chứng tỏ họ có một mối tình yêu đương da diết. Như bài Hỏi Trăng trong thơ truyền khẩu Hồ Xuân Hương, văn bản Landes do Lê Quý chép năm 1882 từ một bản của con cháu Tử Minh, học trò Xuân Hương, ghi lại tâm sự một người con gái mới biết yêu. Yêu Nguyễn Du rồi Xuân Hương tự hỏi với lòng mình.

Với bài Duyên kỳ ngộ trong văn bản Landes. Xuân Hương tin rằng gặp Nguyễn Du là duyên kỳ ngộ. Vì dinh thự cha anh ở Bích Câu bị kiêu binh đốt phá, nên mới ra ở nơi gác tía câu cá của ông anh Nguyễn Khản nên có dịp gần gũi với Xuân Hương. Hồ Phi Mai tin ở duyên số, dù có xa nhau ngàn dậm, có duyên thì sự cũng thành, sẽ cưới nhau.

   Mùa Xuân 1790, Nguyễn Du báo tin cho Hồ Phi Mai biết chàng trở về Hồng Lĩnh cùng em Nguyễn Ức, xây dựng lại từ đường, đình chùa, cầu Tiên…Nguyễn Nể không thể trông coi việc xây cất nên giao việc này cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức. Biết tin này Hồ Xuân Hương đau đớn viết bài Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình. Nghĩ đến tình đời sụt sùi rơi lệ, nhân đó cầm bút viết nhanh thơ đưa Nguyễn Du để gửi trình bày tỏ nỗi lòng mình. Mối tình đầu thắm thiết, Xuân Hương thệ nguyện ba kiếp hẹn nghĩa non vàng với Nguyễn Du.

Bài Giang nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân, (Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam- Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch), Hồ Xuân Hương viết năm 1793 để tiễn Nguyễn Du về Hồng Lĩnh. Xa nhau rồi còn sẽ có ngày chúng ta gặp lại nhau. Nếu lỗi lời thề non hẹn biển thì thà chết đi trên ngọn sóng đào.

Nguyễn Du cũng đã trả lời bài Nhân tặng của Xuân Hương bằng bài Ký hữu (Gửi bạn bài số 33 trong Thanh Hiên thi tập). Xuân Hương viết: Cậy có vầng xanh tỏ tấm lòng, Nguyễn Du đáp lại: Một vầng trăng sáng tình ta đó.

Bài Thu dạ hữu hoài trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, viết khoảng năm 1794, Xuân Hương gửi Nguyễn Du. Câu Bóng nhạn về đâu, mây ở lại, nhạn là sự ví von Nguyễn Du đã bay xa, mây là Xuân Hương còn ở lại. Đêm tàn, Xuân Hương còn thức, ngơ ngẩn thương nhớ người đi xa.

Nguyễn Du phúc đáp bài Thu da hữu hoài của Hồ Xuân Hương bằng bài Thu dạ I (trong Thanh Hiên thi tập): Anh đã nghe tiếng dế trùng than khóc nơi tường đông, vì mây ở lại Thăng Long với em nên Hồng Lĩnh trời lạnh ngắt không một vầng mây. Xuân Hương đã phúc đáp bài Thu Dạ I của Nguyễn Du bằng bài Thu Vũ. (Mưa Thu). Nàng đã khóc khi nghe Nguyễn Du bệnh gần cả năm, tóc đã nhuốm bạc. Trời ảm đạm mây mù dăng mờ mịt, lòng em như mây.

Nguyễn Du lại có Thạch đình tặng biệt, Hồ Xuân Hương đã chua xót họa lại bằng bài Họa Thanh Hiên nguyên vận (Thơ Hồ Xuân Hương chép trong Lưu hương ký).
            Rồi mùa thu sau, Xuân Hương lại gửi đến Nguyễn Du bài thơ chữ Hán: Cố kinh thu nhật (Hương Đình Cổ nguyệt thi tập). Nguyễn Du phúc đáp bài Cố kinh thu nhật của Hồ Xuân Hương bằng bài Khai song, dùng lại điển tích thanh chiên và cũng ý mùa thu. Nguyễn Du vẫn giữ mãi cái chăn xanh, như tấm lòng yêu thương nàng, và cho biết đang chữa bệnh nên chậm thư phúc đáp.

Xuân Hương lại gửi cho Nguyễn Du một bài thơ khác, bài Thu nhật tức sự. Nguyễn Du lại viết bài thơ Thu nhật ký hứng, mở đầu bằng chữ Tây Phong đáp lại bài thơ Thu nhật tức sự của Hồ Xuân Hương.
            Thời gian xa cách thấm thoát đã hai năm. Nguyễn Du vẫn biền biệt nơi Hồng Lĩnh. Mẹ Xuân Hương thúc ép nàng lấy chồng, Có anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, con cụ Lang, cậy người mai mối. Nhân có người về Hà Tỉnh. Hồ Xuân Hương gửi thơ cấp báo.

Nguyễn Du phúc đáp bằng bài thơ Ký Mộng, mơ Xuân Hương, bỏ mẹ, bỏ lớp dạy trẻ, vượt đèo Tam Điệp đầy hổ báo, vượt Sông Lam lắm cá sấu, đường đi thật hiểm trở, vào Hồng Lĩnh thăm mình.

Bài thơ này, Nguyễn Du gửi cho Hồ Xuân Hương năm 1795. Hồ Xuân Hương hiểu mối tình mình chỉ là giấc mộng.

   Tâm sự Nguyễn Du lúc này trong bài Tạp thi IBạc đầu tráng sĩ ngửng trời than, Dựng nghiệp mưu sinh thảy lỡ làng, Thu Cúc, Xuân Lan thành mộng ảo. Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh.. Nguyễn Du cho rằng chuyện tình của mình với cô Cúc làng Trường Lưu hay với Xuân Hương làng Nghi Tàm đều đã thành mộng ảo.Từ khi lấy anh thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, chẳng bao lâu anh thầy Lang mất, nàng lại trở về với mẹ, Cổ Nguyệt đường dạy học, rồi yêu Mai Sơn Phủ, mối tình để lại những bài thơ nồng nàn thắm thiết, thề thốt.. trong Lưu Hương ký. Mai Sơn Phủ cũng người ở Vinh (Vịnh Phố) trở về quê để cậy cha mẹ cưới hỏi, chàng về quê thì biệt tăm trong chiến tranh, trong trận đánh cuối cùng vua Gia Long và Tây Sơn.

Hồ Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Phú thì gặp một học trò cũ của cha, là Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, Xuân Hương nhận làm lẽ, nhưng vợ cả ghen tuông. Bên song cửa Cổ Nguyệt đường, Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh ký gửi Xuân Hương Hồ Phi Mai.Sau khi nhận được bài thơcủa Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương dứt khoát dứt tình với Tổng Cóc. Bài thơ làm nàng thức tỉnh, nàng không thể nào tủi buồn, uất hận vì phận làm lẽ mà chết như nàng Tiểu Thanh. Hai chữ “tố như” trong bài, theo tự điển Thiều Chửu: Tố là tơ trắng, nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao khiết, như là như cũ, như vậy, giống như. Nghĩa: không biết rồi đây ba trăm năm lẽ nữa, ai khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh (2).

Hồ Xuân Hương, trở về Cổ Nguyệt đường, dù mang thai 6 tháng, sợ dư luận dị nghị, nàng ra phố Nam, mở tiệm bán sách, bút giấy mực… Năm ấy nàng 35 tuổi, sắc đẹp mặn mà khiến Tốn Phong hết lời ca tụng.

Biết rằng mối tình ngang trái, không còn gì nữa. Hồ Xuân Hương dứt khoát để yêu Tri phủ Tam Đái Vĩnh Tường Trần Phúc Hiển sau được thăng làm Tham Hiệp Trấn Yên Quảng. Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi; Xuân Hương góp thơ thành tập cuối cùng Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập.”(2)

Ngày nay, đọc lại những bài thơ tình xốn xang, day dứt lụy của nữ sĩ họ Hồ, ta cảm thán biết bao thân phận đàn bà tài hoa mà phận bạc, cảm xúc biết bao với mối tình như mơ, như thơ của nữ sĩ xinh đẹp, đa tình với người thơ Nguyễn Du. Lưu hương, lưu hương… một đời thơ như mộng. Ven bờ hồ Tây lộng gió, vang vọng tiếng sâm cầm một thời, có chăng, ở nghĩa địa Đồng Táo đã từng có một nấm mộ của người nữ sĩ tài hoa mà mệnh bạc và cho đến nay, mộ bà đang nằm ở đâu trong lòng hồ vẫn là dấu hỏi cho hậu thế.

Về tác phẩm, nữ sĩ họ Hồ lưu lại:

- Một là văn bản “Quốc văn tùng ký” củaHải Châu - Từ Nguyễn.được nhận diện cổ nhất có chép thơ Hồ Xuân Hương: 

- Hai là “Xuân Hương thi tập” do Phúc Văn Đường tàng bản ấn hành tại Hà Nội năm 1930, hầu hết là các di tác của nữ sĩ họ Hồ. Trong sách có khoảng 60 bài nhưng lẫn cả thơ của những tác giả khác.

- Ba là văn bản đáng quý “Lưu hương ký” với bài tựa của Phan Huy Huân, được học giả Trần Thanh Mại phát kiến và công bố trên thi đàn vào năm 1964gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm. Người đời vẫn tụng ca những vần thơ chữ Hán- làm nên một tập Lưu hương ký dào dạt những cung bậc của tình yêu nhớ nhung, chia ly vời vợi…của nữ sĩ.

- Bốn là tập thơ cuối cùngHương Đình Cổ Nguyệt thi tập”.

Nhận định về Xuân Hương thi tập Lưu Hương ký, trong Giáo trình Văn học của Đại học Cần Thơ có viết: “Với một nghệ thuật điêu luyện, nhà thơ viết về tâm sự và những mối tình của mình với những người bạn trai. Đọc kỹ người ta thấy có một khoảng cách khá xa giữa tập thơ Nôm của Xuân Hương và "Lưu hương ký", chủ yếu là về phong cách biểu hiện. Trong "Lưu hương ký" có cả thơ chữ Hán lẫn thơ chữ Nôm. Riêng phần thơ chữ Nôm trong "Lưu hương ký" nếu so sánh với thơ lâu nay được coi là của Xuân Hương thì hai bên vẫn có sự khác nhau. Thơ chữ Nôm trong "Lưu hương ký" có rất nhiều từ Hán Việt, giọng thơ lại hiền lành chứ không góc cạnh, gân guốc như ở “Xuân Hương thi tập”.

- Trong nghệ thuật: nhiều nhà văn, nhà thơ, soạn giả sân khấu, nhạc sĩ… đã lấy cảm hứng từ cuộc đời và sáng tác của nữ sĩ Hồ Xuân Hương để đem vào tác phẩm của mình. Như Vở chèo Hồ Xuân Hương (1988) - soạn giả Thùy Linh và Bùi Đức Hạnh, đạo diễn: Bùi Đắc Sử. Truyện ngắnChút thoáng Xuân Hương của Nguyễn Huy Thiệp. Tiểu thuyết "Tình sử Hồ Xuân Hương" của Bùi Bội Tỉn. Về âm nhạc, nhạc sĩ Hồ Hoài Anh và Dương Đại Dương (TripleD) đã phổ bài "Bánh Trôi Nước"2017”. Về họa phẩm: Minh họa thơ Hồ Xuân Hương(Bùi Xuân Phái ), họa phẩm Thi sĩ Hồ Xuân Hương (Phùng Di Thuần).

- Trong giáo dục, những bài Bánh trôi nước, Đề đền Sầm Nghi Đống, Tự tình II đã từng được đưa vào sách giáo khoa Trung học cơ sở và Trung học phổ thông của nước ta. Tại các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm ... sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam được học về tác giả Hồ Xuân Hương.(1)

Kết luận

Thơ ca và cuộc đời của Hồ Xuân Hương đầy sự bí ẩn, giàu nét phóng túng, hành trạng đầy giai thoại với các nhân vật nổi tiếng cùng thời luôn gây nguồn cảm hứng vô tận cho hậu thế.

Thơ Hồ Xuân Hương được xem là một hiện tượng độc đáo của dòng thi ca cổ điển Việt Nam, đa phần làm theo thể thất ngôn bát cú hoặc thất ngôn tứ tuyệt với bút phápđiêu luyện, dùng từ ngữ dung dị, thơ chữ Nôm đặc sắc hơn thơ chữ Hán. Ý tưởng trong thơ chữ Nôm rất táo bạo, nên tất yếu chạm vào sự cấm kị của lễ giáo phong kiến đương thời.

Ngày nay, đọc thơ nữ sĩ, xem những tác phẩm có liên quan đến Bà, hay đi trên những con phố, con đường như: phố Hồ Xuân Hương, ở quận Hai Bà Trưng (Hà Nội), phố Hồ Xuân Hương, ở quận Hồng Bàng (Hải Phòng), đường Hồ Xuân Hương ở quận 3 (thành phố Hồ Chí Minh), đường Hồ Xuân Hương ở Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa), địa danh Hồ Xuân Hương ở trung tâm thành phố Đà Lạt, đường Hồ Xuân Hương ở phường Rạch Sỏi (thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang), ta vẫn không khỏi bồi hồi, tưởng nhớ người nữ sĩ tài hoa có tố chất thông minh, cuộc đời nhiều trái ngang, mang thân phận làm lẽ mọn…luôn muốn vươn lên tháo bỏ gông cùm phủ chụp trên cuộc đời người phụ nữ. 

Dù câu hỏi “có hay không” về một nữ sĩ tên Hồ Xuân Hương trên Văn đàn nước Việt vẫn còn bỏ ngỏ lời giải đáp, thì chúng ta vẫn cứ say mê với những dòng thơ đầy chất nữ quyền, thể hiện cái tôi vươn lên mạnh mẽ của một người phụ nữ đẹp, yêu thơ ca, yêu cuộc sống; và ghi nhận sự đóng góp của thi nhân nữ sĩ trong lịch sử văn học dân tộc. Nữ sĩ đã đến với cuộc đời này, sống cách chúng ta trên 200 năm qua và đã đóng góp cho đời những vần thơ tình yêu không tuổi “tục mà thanh”, những bài thơ tình đắm đuối với người mình thương và những bài thơ đầy khí chất nữ quyền.

Bà Chúa thơ Nôm của thơ ca nước Việt. Không ai trước bà và không ai sau bà, xứng đáng nhận danh xưng này.

Tài liệu tham khảo:

1/ Nguồn Wikipedia

2/ Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du- TS Phạm Trọng Chánh

3/ Hồ Xuân Hương

NUYỄN THỊ LIÊN TÂM

Các Bài viết khác