NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: [email protected]
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NGUYỄN HUY TƯỞNG - TRĂN TRỞ "NGHỆ SĨ VÀ CÔNG DÂN"

( 01-06-2022 - 12:18 PM ) - Lượt xem: 713

Bộ ba tập "Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng" do Nhà xuất bản Thanh Niên in ấn, phát hành năm 2006 đem đến một chân dung toàn vẹn về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960). Xuyên suốt thế giới nội tâm phức tạp của nhà văn được ghi lại trong những trang viết mang tính riêng tư, cá nhân nhất, độc giả có thể thấy những trăn trở suốt một đời của ông từ hai góc nhìn Công dân và Nghệ sĩ.

Bộ ba tập "Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng" do Nhà xuất bản Thanh Niên in ấn, phát hành năm 2006 đem đến một chân dung toàn vẹn về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960). Xuyên suốt thế giới nội tâm phức tạp của nhà văn được ghi lại trong những trang viết mang tính riêng tư, cá nhân nhất, độc giả có thể thấy những trăn trở suốt một đời của ông từ hai góc nhìn Công dân và Nghệ sĩ.

Là một cây bút có thành tựu từ trước Cách mạng tháng Tám, đi theo Cách mạng từ những ngày đầu  và gửi gắm mình cho lý tưởng của Đảng đến hơi thở cuối cùng, được giao nhiều trọng trách của người quản lý văn nghệ, đại biểu Quốc hội, có lẽ, ông đã hoàn thành khá trọn vẹn vai trò một công dân yêu nước, mẫu mực. Lý tưởng nghệ thuật mà ông đam mê từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường cũng được thắp lên từ lòng yêu nước. “Phận sự của một người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ thôi” (Nhật kí ngày 19-12-1930). Nếu chỉ nhìn vào văn nghiệp, ta không hoài nghi gì về ý thức công dân đã hòa hợp nhất quán với những suy tư của tâm hồn nghệ sĩ của ông; tuy nhiên những dòng nhật ký mà sau khi ông qua đời gần nửa thế kỷ mới được công bố lại cho ta thấy những mâu thuẫn, trăn trở bất ngờ ở những năm tháng cuối đời, khi mà ông đã ở vị trí khá cao trong vai trò nhà quản lý. Những trăn trở ấy là những mâu thuẫn nội tại trong cá nhân ông nói riêng hay của bối cảnh xã hội nói chung? Cái nhìn phản tỉnh của chính ông và cái nhìn về khách quan, về những sự kiện, con người thời ông sống qua những dòng nhật ký sẽ phần nào lý giải.

Từ cuốn nhật ký đầu tiên, Nguyễn Huy Tưởng đã thể hiện suy tư già dặn của người thanh niên mới tuổi đôi mươi về phận sự một công dân yêu nước, yêu văn chương và lịch sử nước nhà. Chàng thanh niên hai mươi tuổi ấy đã ghi vào nhật kí những dòng cảm xúc: “Ta đây tuổi còn trẻ, tính còn ngây thơ, đọc sử Bình Nguyên mà lòng yêu quý non sông phơi phới, trong lúc thán phục các vị anh hùng , muốn nêu các vị vào khúc anh hùng ca để truyền về hậu thế,cho muôn nghìn đời sau soi vào...Than ôi! ta chẳng biết, nhưng ta cảm các vị anh hùng, thì ta nêu các vị anh hùng lên, đó là chức trách của một người quốc dân vậy”(ngày 12-10-1933). Ông sớm đã ý thức rõ tầm quan trọng của việc truyền bá sử sách nước nhà đối với thế hệ trẻ, đặc biệt trong buổi giao thời của văn hoá Đông Tây mà phần thắng thế đang ngả dần về phía văn minh Âu châu. “Người không biết sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng được”(Ngày 13-1-1932). Con đường truyền bá tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc qua văn chương chính là ngọn lửa thắp lên cảm hứng lịch sử trong các tác phẩm văn học của ông. Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng đã theo sát hành trình văn nghiệp, từ khi ông là cậu học trò thành chung ở Hải Phòng đến trang cuối cùng trên giường bệnh (21-6-1960) ít ngày trước khi ông ra đi mãi mãi. Đối với nhà văn, "Nhật ký là cuốn sách chân thật hơn cả mọi cuốn sách mà cũng rộng rãi tự nhiên hơn các sách khác", viết để rèn tay nghề, để tích lũy vốn sống phục vụ sáng tác và cũng để ký thác những ẩn ức, những tâm sự mà đời thực khó có thể bộc bạch cùng ai. Những trang nhật ký tư tưởng của một nhà văn mới vào nghề cũng hé mở ra những tư tưởng có ảnh hưởng đến lối viết, nhân sinh quan của ông. Bước đầu " Đến với văn chương và cách mạng" (tên tập 1 của bộ Nhật ký do soạn giả Nguyễn Huy Thắng đặt), Nguyễn Huy Tưởng chịu ảnh hưởng nhiều từ tinh thần bi tráng của bi kịch cổ Hy – La, của chủ nghĩa dân tộc và đặc biệt là triết học của Nietzsche. Trong nhật ký ngày 20/6/1938, ông viết: "Tôi chán với cái thuyết thế giới đại đồng. Tôi không muốn trông xa, tôi không ước vọng gì cả: tất cả mục đích của tôi chỉ gồm trong hai chữ: quốc gia. Tôi chỉ biết có nước Việt Nam, có một góc đất ở hoàn cầu nó đau khổ và chỉ biết làm thế nào cho nó được giải phóng mà thôi. Tôi hoàn toàn theo chủ nghĩa quốc gia". “Tôi đi tìm chân lý từ những sách triết học, từ thuyết nhân nghĩa của đạo Nho, đến lý thuyết từ bi bác ái của đạo Phật, tôi rơi vào chủ nghĩa sức mạnh của Nietzsche, bởi vì tôi nghĩ đối với một dân tộc yếu hèn thì sức mạnh là con đường giải thoát. Tôi vùi đầu vào trong đống sách lịch sử để lấy cái vinh quang của ông cha mà bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho mình. Tôi chuẩn bị viết văn để ca ngợi lịch sử, ca ngợi dân tộc, kích động lòng yêu nước của đồng bào”. Ông thán phục Nietzsche ở tinh thần: "ca tụng sự sống một cách thiết tha, cái người đã khuyên ta nên sống một đời mãnh liệt, can đảm, không biết sợ là gì" (nhật ký ngày 20/10/1938). Trách nhiệm công dân của người trí thức ấy chính là con đường văn chương, truyền bá chủ nghĩa dân tộc bằng nghiệp cầm bút.

Những năm đi kháng chiến, Nguyễn Huy Tưởng cũng như các văn sĩ thời đó có tâm thế hăm hở nhập cuộc cũng từ ảnh hưởng chất lãng mạn, hào hùng từ thời 1930-1945, mộng mơ lý tưởng. Nếu như Nam Cao viết Đôi mắt để gửi gắm những nỗi niềm phản tỉnh trong nhận thức về Cách mạng, quần chúng cách mạng, Nguyễn Huy Tưởng lại gửi vào Nhật ký cá nhân những băn khoăn về thời cuộc, chỗ đứng của văn nghệ sĩ. Đó là khi vở kịch Những người ở lại của ông được lên sân khấu ở Liên khu 10, sau đó, ông nhận được rất nhiều lời gièm pha, chỉ trích về nội dung kịch bản. Chính lúc này, trong ông có những trăn trở, suy tư về đồng nghiệp, về bản thân, về "xã hội cách mạng". "Giờ đây, trong xã hội cách mạng, đã thành hình một giai cấp thượng lưu (…) tự phụ và hám lợi. Có lẽ cần một thái độ bi quan với những con người mới ấy. Cũng không phải vì thù hằn họ. Ta có cho Những người ở lại là một tác phẩm hoàn toàn đâu… Ta thấy khó sống trong cái không khí oi bức của sự độc đoán về văn nghệ… Ta phải làm thế nào sống mà còn giúp đời một cái gì. Giúp đời, giúp cho cuộc chiến đấu, rút cục đấy vẫn là công việc chính của mọi người, của con người Văn nghệ" (Nhật ký đêm 15-2-1949). Mặc dù vậy, trong không khí kháng chiến chung, ông vẫn luôn tự vấn bản thân, nghiêm khắc phê bình bản thân khi có dao động về tư tưởng. Mục đích tối thượng của văn nghệ sĩ lúc bấy giờ là đặt nhiệm vụ bám sát, phục vụ kháng chiến lên hàng đầu, tuyên truyền lý tưởng của Đảng nên ông hiểu vai trò của mình trong công cuộc kháng chiến chung là tạo sự thống nhất trong tư tưởng.

Những trăn trở về vai trò Nghệ sĩ và công dân đậm nét nhất ở cuốn Nhật ký cùng tên. Tập III được bắt đầu từ ngày 18.9.1954, ngày tác giả lên đường về tiếp quản Thủ đô, kết thúc ngày 21.6.1960, chỉ hơn một tháng trước khi ông mất: về thời gian thì đây là sáu năm cuối đời của Nguyễn Huy Tưởng, trùng với sáu năm đầu tiên sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, sáu năm với nhiều sự kiện sóng to gió lớn của đất nước như cải cách ruộng đất, phong trào chỉnh huấn văn nghệ sỹ trí thức... Những biến cố này tác động mạnh đến tâm thức người nghệ sĩ nhạy cảm Nguyễn Huy Tưởng, những day dứt, mâu thuẫn dồn nén trong những trang nhật ký thời kỳ này cho thấy một nhân cách trí thức thời "tao loạn". Sau kháng chiến chống Pháp, ông đã là một nhà văn có danh tiếng, gánh vác nhiều trọng trách quản lý trong Hội văn nghệ và có điều kiện tiếp xúc với những yếu nhân chính trị, chứng kiến những sự kiện trọng đại về văn hóa. Rất nhiều những suy tư chưa kịp được hiện diện trong tác phẩm của ông, đã được lưu lại trong những trang viết "thành thực với chính mình" như một sự ký thác, trút bỏ những gánh nặng trong lòng mà không phải sợ hãi những hệ lụy về chính trị. Là người nhận nhiều giải thưởng văn học thời kháng chiến chống Pháp nhưng chính ông khi nhìn lại một giai đoạn này lại có cái nhìn thẳng thắn, nghiêm khắc phê bình: "Kiểm điểm lại 10 năm kháng chiến, tác phẩm văn học không được là bao. Mà cũng chỉ là kể sự việc, không có tư tưởng, không có vấn đề, không có những bài học gì cho tâm hồn... Quan niệm phục vụ kịp thời, nó đã lãng phí bao nhiêu tài năng, dẫn đến biết bao những tác phẩm vô giá trị, những nghệ sĩ cơ hội"( nhật ký ngày 8-6-1956). Đến năm 1987, Nguyễn Minh Châu viết Hãy đọc lời ai điếu cho nền văn nghệ minh họa nhìn nhận về nền văn nghệ kháng chiến với góc nhìn phê phán được coi là "người mở đường tinh anh" của văn học thời Đổi mới nhưng chưa phải là người đầu tiên nhìn ra "căn bệnh" của văn nghệ sau Cách mạng tháng Tám. Điều đáng nói là Nguyễn Huy Tưởng từ ba mươi năm trước, khi đang là một quan chức trong ngành văn nghệ đã sáng suốt nhìn nhận về điều này nhưng không phủ nhận một chiều mà đau đáu trăn trở tìm cách cứu vãn thực trạng văn nghệ. "Phải thay đổi đường lối tuyên truyền. Phải mạnh dạn nhìn vào cái xấu. Vấn đề là biểu hiện cái xấu như thế nào, đến mức độ nào. Không phải một tác phẩm văn nghệ ra đời là phá được cuộc đấu tranh, nếu nó đả kích sai lầm, mà chính là nó góp phần xây dựng vào". (ngày 5-7-1956). Hai con người nghệ sĩ và công dân của Nguyễn Huy Tưởng thống nhất ở quan điểm mong mỏi xây dựng một nền văn nghệ đích thực giá trị, nhưng là con người lãnh đạo, ông phải hành xử, phát biểu quan phương theo chủ trương, đường lối. Con người nghệ sĩ trong ông không ít lần tự thú xấu hổ vì bản thân "rất buồn cho cái lối tuyên truyền láo toét của mình" (ngày 19-9-1956). Nhận được thư từ thân nhân của nguyên mẫu Truyện Anh Lục – tác phẩm từng được giải trong kháng chiến chống Pháp, ông cay đắng vì "Truyện Anh Lục không đúng sự thật. Không ngờ hậu quả lại tai hại thế. Không nên bao giờ viết người thực việc thực cả.Một điều đau xót quá: Chế độ dạy nông dân nói dối" (ngày 6-11-1956). Những trải nghiệm mắt thấy tai nghe ở những năm đầu hòa bình lập lại trên miền Bắc giúp ông soi chiếu những nỗi hoài nghi về lý tưởng nghệ thuật mình đang phụng sự, về mối quan hệ giữa hiện thực và sáng tác. Những cảm giác bức bối sinh ra từ đó. Không chỉ ông, hàng loạt văn nghệ sĩ khi chứng kiến những đổi thay của thời bình, những sai lầm trong chính sách cải cách ruộng đất, chỉnh huấn trí thức đã có những phản kháng dẫn tới phong trào Nhân văn Giai phẩm. Nguyễn Huy Tưởng không hùa theo nhóm Nhân văn mà luôn cảnh giác "có 1 cái gì phức tạp, lén lút, rờn rợn trong cái tổ người này" nhưng ông có sự đồng cảm, thương xót với những con người mà ông từng mến phục tài năng ấy. Chứng kiến gia cảnh nhếch nhác của Khoát (Nguyễn Xuân Khoát), ông ngậm ngùi "thương bạn. Nghệ sĩ nghèo quá, nghèo mà lại không sáng tác được. Chế độ thực là phí các nhân tài" (ngày 10-11-1956). Ông là người "viết thư cho ông Trường Chinh phản đối biện pháp đối với Nhân văn" (ngày 9-12-1956), "nghĩ thương cho anh em Nhân văn, thương Đang, Lê Đạt, Hoàng Cầm,…" (ngày 11, 12-12-1956). Ám ảnh những năm tháng này là "làm sao cho không khí văn nghệ đỡ ngột ngạt" (13-12-1956), dù ông biết những điều mình nói thẳng và nói thật với cấp trên cũng gây ra nhiều thiệt hại cho bản thân nhưng vẫn vui vì bản thân đã góp phần để anh em văn nghệ sĩ tin tưởng "Đảng không xuôi chiều". Những năm tháng này, bao dồn nén được ông gửi vào bài tùy bút Một ngày chủ nhật, một bài viết đủ để ông bị đem ra công kích, đả phá lên bờ xuống ruộng trong hội Văn nghệ. Ông từ bỏ công tác lãnh đạo ở Hội và chuyển hẳn sang sáng tác. Nguyễn Huy Tưởng thấu hiểu hơn ai hết những đau đớn của cuộc tự lột xác để thích ứng với hoàn cảnh, cùng sẻ chia với ông còn có Nguyễn Tuân, nhà văn tài hoa phóng túng, ghét khuôn khổ nhàm chán và tẻ nhạt. Trong những ngày mất phương hướng ấy, ông đã suy ngẫm rất nhiều về con đường sáng tác của mình: “ngồi nghĩ lơ mơ về công việc phải làm để sinh sống. Kịch? Xuất bản tập nhi đồng? Viết truyện lịch sử. Tiếc trong kháng chiến đã phá tiểu thuyết An Tư. Thật là ngu ngốc. Mất bao nhiêu tài liệu. Viết: Sát Thát - Cuốn tiểu thuyết lịch sử ra đời sẽ được hoan nghênh nhất định. Bởi vì chán tai với cái phục vụ kịp thời trắng trợn, cái lối ăn xổi sẽ dẫn nghệ thuật đi đến đâu?”. Dường như, cảm hứng lịch sử là cảm hứng thường trực trong ông, nó giúp ông vượt qua những ngày tháng khó khăn nhất, khơi lại xúc cảm trong một tâm hồn tưởng như đã quá mỏi mệt và chán nản, thắp lại ngọn lửa nhiệt tình với văn chương. Cũng thời gian đó, ông khởi bút viết tác phẩm Sống mãi với thủ đô. Quá trình sáng tác đầy những day dứt, ngổn ngang giữa những bộn bề lo toan cuộc sống gia đình và sự nghiệp, lý tưởng và hiện thực, chính trị và văn chương, tâm huyết và bổn phận, thêm vào đó là những giày vò về thể xác do căn bệnh ung thư. Tháng 4-1958, tập I tiểu thuyết sau khi sửa lại lần thứ hai đã hoàn thành, nhưng đây cũng là lúc nhà văn muốn bỏ nó đi để viết lại từ đầu, bởi ông cho rằng chủ đề chính chưa nổi bật, bố cục tác phẩm loãng, nhân vật chưa bộc lộ rõ cá tính. Chưa kịp làm điều đó thì Nguyễn Huy Tưởng bị gọi đi lớp văn nghệ mà trên thực tế là tập hợp những nhà văn “có vấn đề” về tư tưởng đi cải tạo lao động. Ông thôi chức giám đốc nhà xuất bản Kim Đồng, đi thực tế Điện Biên cùng Nguyễn Tuân, Văn Cao, Lưu Quang Thuận (từ tháng 7 đến tháng 12). Những trang nhật kí thời gian này của ông cho thấy phần nào đời sống tinh thần của những văn nghệ sĩ ấy: “Thấy cuộc sống vẫn có cái gì không phải là đúng là cuộc sống của con người.Không thể bất cứ lúc nào cũng đưa ra lập trường và quyền lợi của tập thể. Biết bao nhiêu là cái trường hợp lấy tập thể ra để mà hạ cái nhân phẩm của con người.”. Những biến cố trong đời sống không làm mất đi tình yêu với nghệ thuật trong ông, dù bị phê bình, bị đánh giá sai, không vì thế mà nhà văn nguôi đi cảm hứng với những điều ông tâm huyết. Những ngày tháng phát bệnh, Nguyễn Huy Tưởng vẫn đau đáu với ý nghĩ tìm lối thoát cho văn chương: “Bao giờ cho có sinh khí của một nền văn học thật đúng? Bao giờ cải thiện tình hình đình đốn này của văn học Việt Nam?” Phản ứng với lối văn nghệ công thức không có nghĩa người nghệ sĩ trong ông tách bạch và đối kháng với con người công dân hết lòng theo Đảng, xét cho cùng, ông là mẫu người nghệ sĩ của chế độ, phụng sự chế độ. Nhân cách trung thực của nhà văn mang nhãn quan sử gia luôn nhìn đời như nó vốn có đã làm cho người công dân trong ông có cái nhìn mở mang hơn, cấp tiến hơn, nhân văn hơn. Nhật ký ngày 20.4.1960 bộc lộ rất rõ điểm này: “Văn học phục tùng chính trị. Văn học phục vụ chiến đấu. Ta đồng ý với tấm lòng chân thành của ta. Vấn đề chỉ là yêu cầu một sự hiểu biết về văn học, về tính chất của văn học. Nó không chịu được một sự ràng buộc. Nó cần tự do như cây cần có không khí để thở, để lớn đẹp”. 

Sinh thời, có lẽ Nguyễn Huy Tưởng không bao giờ hình dung nhật ký của mình lại trở thành một tư liệu quý giá đến thế với những người quan tâm đến văn học sử của một thời đầy biến động. Chính vì là những trang viết cho mình, dù là chủ quan nhưng những sự kiện, những chi tiết về con người, xã hội, văn hóa vẫn hiện lên tỉ mỉ và chi tiết hơn bất cứ một cuốn lịch sử nào. Đọc nhật ký của ông, người đọc thu lượm được bộn bề những thông tin về một thời quá khứ, chân thực hơn bất cứ cuốn hồi ký văn học nào. Quan trọng hơn cả, bộ Nhật ký đã phản ánh rõ nét chân dung Nguyễn Huy Tưởng – người trí thức với tư duy sử gia và ý thức phản tỉnh, không dễ dãi xuôi chiều, một nhân cách trung dung, nghiêm ngắn và bất biến trước thời cuộc, một nhà văn dù ở bất cứ cương vị nào vẫn giữ cho mình cái nhìn nhân văn về cuộc đời, hướng tới những giá trị Chân – Thiện – Mỹ.

TS Đỗ Thị Thanh Nga

Các Bài viết khác