NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: [email protected]
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

GIỌT THỜI GIAN

( 09-08-2020 - 12:09 PM ) - Lượt xem: 470

Ông trời sinh ra giọt thời gian. Giọt thời gian để chiêm nghiệm thứ đã qua. Nhớ hồi ấy sao khổ mà quý nhau thế? Khi tất cả đã đi xa rồi, đi trọn cả một cuộc đời nhiều lúc ngồi lại mới thấy thời đẹp nhất là thời thơ ấu, thời tuổi trẻ. Chỉ giọt thời gian trong trẻo mới gợi cho ta những kỷ niệm ùa về…

Giọt thời gian long lanh rưng rưng ấy làm nhớ lại bao kỷ niệm của bao người trong đó có chú bé Thiện. “Buổi sáng hôm ấy trời đẹp lạ lùng. Gần đến mười giờ, nắng vẫn dịu. Những đám mây lông ngỗng phơ phất bay tản mát khắp bầu trời. Từng cụm, từng cụm mây bông nõn, mỏng tang trôi chầm chậm trên nền trời xanh thẳm, trong vắt. Gió vi vút thổi. Từng đợt gió trườn đi nhẹ nhàng trên cánh đồng qua từng đợt sóng lúa xanh đậm, lúc hoe vàng cuồn cuộn xô dạt nơi xa tít tắp. Con tàu sầm sập sầm sập lao đi giữa một vùng đồng bằng phì nhiêu. Thỉnh thoảng nó lại rú lên một hồi còi lảnh lót đầy kiêu hãnh. Khói tàu trắng xóa cuồn cuộn phun lên rồi nhanh chóng nhạt nhòa trong không gian…

Những lời văn hay như vậy, tôi chưa bao giờ đọc cho đến khi vô tình cầm trong tay quyển sách Miền xanh thẳm. Trời ơi, thầy Trần Bắc Quỳ của tôi hơn ba mươi năm về trước đấy ư? Bao kỷ niệm ùa về khi nhớ lại khoảng thời gian tôi gặp thầy ở trường giáo dục trẻ em hư Lục Nam, Bắc Giang.

Tôi tên là Hận nhà ở làng Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang. Làng tôi là nơi nhiều tệ nạn nhất của cái thành phố này.”Nhất Chi Ly, nhì Mỹ Độ” mà.Ở bên bờ sông Thương này những gì đẹp đẽ và độ lượng gắn nhiều với văn thơ nhạc họa dành cho những người khác chứ đâu dành cho đứa trẻ bụi đời như tôi.Hàng ngày chúng tôi thơ thẩn chơi quanh cây sưa đền Tân Ninh mà mong ngóng xem ở chợ nứa có ai thuê mình không? Chỉ là kiếm mấy hào tồn tại qua ngày. Bến Tràng chia ly của người đi sứ Tàu - “Chàng lên ải bắc, nàng về chăm con” nay là một xóm liều với toàn những dân anh chị bất hảo, giang hồ tứ chiếng nghiện ngập.Cha bỏ mẹ con tôi đi từ lúc tôi còn chưa ra đời.Mẹ tôi uất quá đặt cái tên Hận mà như cả một trường hận ca luôn.Có lẽ tôi cứ dặt dẹo sống, lớn lên ở cái làng nghiện ngập ấy nếu không bị tống vào trại trẻ hư ở Lục Nam.Vì sao phải vào đó ? Vì đâm người trọng thương.Cuộc giành giật mưu sinh giữa những đứa trẻ bốc vác khiến chúng đánh nhau.Cuộc cãi lộn không bắt đầu từ tôi nhưng cái kết buồn dành cho tôi khi chọc thủng một mắt bạn máu me tóe loe với đoạn nứa cầm tay. Tôi - Thang Trường Hận, một đứa trẻ 15 tuổi bị tống vào trại dù vô tình hay cố ý gây thương tích.Đó là nguyên do tôi nhận cải tạo trong trại Lục Nam này một lệnh - ba năm trời. Một ngày của những đứa trẻ trong trường được bắt đầu từ 5g30 sáng bằng tiếng kẻng báo thức và chia ra nhiều khoảng thời gian: làm vệ sinh, ăn sáng, đi học, đi lao động, ăn trưa, ngủ trưa, học nghề, lao động chiều, vệ sinh, ăn tối, sinh hoạt chung và 21g30 đi ngủ.Các thầy, cô, quản giáo cũng ăn cùng, ngủ cùng và dạy dỗ lũ trẻ ngỗ nghịch này vất vả gấp năm gấp mười lần học sinh thường. Cành cây cong quá bây giờ uốn thẳng cũng khó!

Vậy có gì liên quan giữa một đoạn văn lãng mạn, bay bổng và đứa trẻ hư mang tên tôi. Có đấy! Tại trại Lục Nam, ngoài những ông quản giáo sầm sì mặt sắt, những trận đòn thừa sống thiếu chết ngấm ngầm giữa các bạn tù, tôi còn có những giờ học văn hóa. Chúng tôi ngồi trong lớp như học trò. Mấy anh chị công an và một người đàn ông đứng lớp làm thầy. Anh thầy giáo hơn tôi khoảng chục tuổi, trông hiền khô tên là Quỳ - Trần Bắc Quỳ. Lũ chúng tôi tinh nghịch gọi thầy là thầy Bắt Quỳ. Thầy bắt chúng tôi quỳ được mới là tài, lũ học trò nghịch ngợm rách giời rơi xuống toàn bày trò trêu ghẹo thầy giáo trẻ hết giấu đồ đến chơi khăm, coi trò đùa tinh quái để làm vui. Thầy cười hiền khô rồi bỏ qua. Lâu ngày cũng thành quen - Thầy hiền quá thể. Thầy quan sát chúng tôi và có lúc nào thầy đưa chúng tôi vào trang viết cũng nên. Thầy kể thầy là người viết sách, tuổi thơ thầy gắn bó nhiều kỷ niệm với Bắc Giang. Thầy khuyên chúng tôi sửa đi những lầm lỗi, giữ lại những gì tốt đẹp nhất để làm lại cuộc đời. Thấp thoáng đâu đó trong câu chuyện của thầy những đôi bờ sông Thương, những đồi sim Yên Thế…là những địa danh quen thuộc với người địa phương chúng tôi. Giọng thầy nhẹ nhàng mà truyền cảm. Tôi tự hỏi sao thầy không ở Hà Nội mà làm giáo sư văn học lại lên đây giáo hóa lũ đầu bò đầu bướu này làm gì?

Sau hơn ba mươi năm, đọc xong cuốn Miền xanh thẳm, tôi đã có lời giải đáp cho câu hỏi trên, xin được viết vài dòng qua lăng kính đứa trẻ đã từng hư:

1.Bắc Giang xưa trong Miền xanh thẳm:

Tỉnh Bắc Giang được thành lập năm 1895 thời vua Minh Mạng nhưng mảnh đất này đã có từ lâu đời. Người dân vẫn thường gọi là Phủ Lạng Thương, Kinh Bắc với con sông Thương nước chảy đôi dòng với 23 làng quan họ rải rác bên sông. Bắc Giang xưa hiện lên trong Miền xanh thẳm với đầy đủ thi vị từ cảnh làng quê Yên Dũng, cảnh núi rừng Yên Thế, cảnh nhà ga, bến tàu, bến sông …qua ngòi bút của nhà văn thật sinh động. Đọc văn ông mà cảm thấy yêu Bắc Giang hơn. Vốn dĩ Trần Hoài Dương là người Hải Dương, ông theo gia đình tản cư về Yên Thế, Bắc Giang và có một thời gian học tập, lao động đáng nhớ và gian khổ tại thị xã này. Trong Miền xanh thẳm, Trần Hoài Dương xây dựng nhân vật chú bé Thiện như một hồi ức tuổi thơ của ông. Bối cảnh chủ yếu là Bắc Giang sau ngày Giải phóng Điện Biên Phủ 1954 tại 3 địa điểm chính:

- Làng Thễ, Bãi Trại, Bình Chương thuộc xã Lan Giới, huyện Yên Thế, nay thuộc huyện Tân Yên, Bắc Giang:

Đây là nơi gia đình Thiện đã ở suốt thời kỳ tản cư. Hết thời kỳ này chú bé Thiện quay về Hà Nội

-         Trường Ngô Sỹ Liên thị xã Bắc Giang:

Cuộc sống ở Thủ đô ngột ngạt khiến nơi Thiện quay lại Bắc Giang khi 13 tuổi. Cậu học ở trường Ngô Sỹ Liên, nơi các anh chị mình đã từng học, nơi đây có thầy cô, bạn bè và cậu cũng thoải mái hơn vì bớt gánh nặng cho gia đình.

- Bến sông Thương, nơi Thiện và bạn bè lao động kiếm thêm thu nhập cải thiện đời sống.

2.Cái thiện:

Không ngẫu nhiên ở đầu “Miền xanh thẳm” đã là con tàu và những chuyến đi. Những chuyến đi để chú bé hành hương về tuổi thơ của mình. Không ngẫu nhiên, tên chú là Thiện. Cái thiện luôn là trăn trở là gửi gắm, là mong muốn của bao ông bố bà mẹ, của bao người cầm bút cho thiếu nhi trong đó có tác giả. Sống cả tuổi thơ, cả cuộc đời với cái thiện, Trần Hoài Dương đã lao vào những nơi tối tăm nhất như Trại giáo dưỡng để tìm ra một cái gì đó tốt đẹp nhất, hướng thiện. Qua những trang viết, ông muốn truyền tải cái Đạo của mình. Ông muốn những chú bé lầm lỗi kia cũng nhận ra được và trở về với sự trong veo nguyên bản. Ông làm theo lời khuyên Tô Hoài , dấn thân để viết, đưa tâm hồn “nơi hầm tối”nhận ra lỗi lầm trở thành”nơi sáng nhất”. Chẳng phải tôi đây đã từng là một linh hồn lạc lối được ánh sáng của cuốn sách cứu rỗi sao?

3.Vững vàng đam mê, vượt mọi nghịch cảnh:

Với một tâm hồn nhạy cảm, Thiện đã trải qua nhiều biến cố cuộc đời:

- Biến cố đầu tiên là gia đình tản cư từ Hải Dương đi Yên Thế, Bắc Giang cuối năm 1946. Khi ra đi cứ tưởng một thời gian ngắn quay lại, chẳng mang đồ đạc gì cả. Ngờ đâu kháng chiến nổ ra phải mất nhiều năm mới trở về được căn nhà ấy. Gia đình Thiện bỗng chốc trắng tay. Trong trí nhớ đứa trẻ 4-5 tuổi ngôi nhà biệt thự đó đẹp lắm, to lắm, có cổng hoa sắt xanh, hoa tigon xanh bò quanh rủ xuống, trẻ con đùa vui chạy lăng xăng trong vườn rộng có tán lá cây hoàng lan vẫn phủ bóng mát…

- Biến cố thứ hai: mẹ mất ở nơi tản cư khiến cậu bé 7 tuổi mất đi một chỗ dựa tinh thần lớn lao. Cả gia đình bỗng bơ vơ thiếu bàn tay yêu thương của người phụ nữ. Gia đình khó khăn càng thêm khó khăn.

- Biến cố thứ ba : Người dì ruột cũng là mẹ kế cùng một lúc mất hai em, gia đình khó khăn đến cùng cực cả về vật chất lẫn tinh thần. Một không khí trầm uất bao phủ. Thiện cảm thấy tốt hơn khi quay trở lại Bắc Giang.

 “Vào đời, vào đời để hiến cho đời tất cả những gì tốt đẹp và nhân đạo của tâm hồn trí óc ta”. Lời kêu gọi cháy bỏng của chú bé Aliosa - nhà văn Maxim Gorky tương lai, đã làm Thiện run lên. Cuộc đời lam lũ, bần hàn của nhà văn tương lai đã lôi cuốn Thiện thực sự, hằn sâu trong tâm khảm, lay động trong tâm hồn bé bỏng. Cậu học theo Aliosa. Cậu theo anh Nhu kiếm sống bằng sức lao động của mình. Sức yếu, cậu giúp anh đẩy xe bò lên dốc Á Lữ thồ vật liệu xây dựng từ bờ sông về thị xã, đường dốc trơn trượt, xe lao dốc còn suýt chết hụt… Cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn vất vả nhưng đã có hướng đi cho Thiện.

4. Thú vị tuổi thơ:

Trong mắt Thiện - một chú bé thành phố những điều mắt thấy, tai nghe ở cái thị xã Bắc Giang này thật lạ.

Đó là một cuộc sống thoát ly hẳn đời sống gia đình. Sống cùng bạn bè và các anh chị trọ học trường Ngô Sỹ Liên sinh hoạt tuy rất đạm bạc nhưng tinh thần lại phong phú. Các món ăn quanh đi quẩn lại có riêu cua, rau muống nhưng kỷ niệm về nồi canh cóc thì không bao giờ quên. Thiện được thầy Tín kể chuyện về sự tích 99 ngọn núi Neo thật đẹp. Kỷ niệm những lần đi câu, tát cá, bắt ếch, đá bóng, đi bơi sông đến mức suýt chết đuối cùng Bảo khiến Thiện phục lăn người bạn nhà quê. Thế giới đồng quê trong Bảo tuyệt vời quá, từ những hồ sen, những cây dứa dại, những bãi cỏ chăn trâu, đâu đâu cũng có sự tích… Thiện không có những kho báu tưởng tượng này nên khi nghe kể những tảng đá chém đôi bởi kiếm của lão phù thủy, những đàn gà mẹ, gà con làm bằng vàng ròng, những con ma lẩn trốn trong lũ cua và những viên sỏi khi bị rang lên kêu nóng quá, nóng quá…cậu thấy rất thú vị. 

Bảo là nhân vật cũng vừa thực và vừa ảo. Thực vì có thật là bạn bè của Thiện, ảo vì cái thế giới tuổi thơ mà Bảo đại diện nó bao la, rộng lớn, vui vẻ quá. Tình yêu quê hương làng xóm khiến Bảo đã trở thành một bách khoa toàn thư, một từ điển sống về đồng quê. Đối lập với tâm hồn nhạy cảm của người bạn thành phố là sự xông xáo mạnh mẽ, tháo vát, tếu táo những lúc khó khăn nhất…Bảo là người bạn luôn sát cánh bảo vệ Thiện. Phải chăng đây là dụng ý của tác giả Trần Hoài Dương? “Trẻ em như búp trên cành / Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Trẻ em cần được nâng niu , bảo vệ. Cái Thiện cũng cần phải được giữ gìn thì mới tốt được. Những tính cách của lũ trẻ phong phú đa dạng đến mức có thể như đối lập đã làm cho câu chuyện trở nên sinh động.

5. Đường vào văn học :

Cuối năm 1956, ngay từ ngày đầu thư viện tỉnh Bắc Giang thành lập, đã luôn có một độc giả nhí gày gò đến đọc. Vì chưa đủ tuổi Thiện đã phải nhờ các anh chị mượn hộ. Dù nhỏ tuổi song cậu lại đọc rất nhiều, thuộc lòng nhiều trích đoạn hay. Hình tượng cậu bé Aliosa nghèo khổ từ lúc phải vào đời kiếm sống đến khi trở thành nhà văn vĩ đại Macxim Gorky đã gieo vào Thiện một ước muốn: Làm nhà văn. Sự phát triển tâm lý của Thiện từ khi xem phim về Gorky đến khi dành hẳn một tuần chép cuốn sách tiếng Pháp về để bố dịch lại là cả quá trình dài duy trì lòng đam mê. Hành trình này phát triển rất logic, cứ lớn dần lớn dần từ khi làm bích báo ở trường, bài thơ của Thiện được đăng báo, đăng vào quyển “Gửi miền Nam”, và khi mang tập bản thảo “Gia đình” ngại ngùng gặp nhà văn Tô Hoài để có lời nhận xét “Văn anh sẵn sàng một không khí trong sáng lắm…” thì tình yêu văn chương ấy đã rõ ràng, cháy bỏng, không thể đảo ngược. Con đường văn chương như đã rộng mở dẫu còn lắm chông gai.

Có một thiệt thòi cho chú bé Thiện là do gia đình sa sút nhanh quá với bao nhiêu thăng trầm. Nếu Thiện được gần cha hơn, gia đình không gặp biến cố gì, có lẽ Thiện sẽ hiểu văn học Pháp nhiều hơn và có lẽ cũng không có một thời bươn trải kiếm sống kiểu Aliosa, sẽ là cậu bé khác, một con người khác.

Ở mái trường Ngô Sỹ Liên, Thiện được nhiều sự động viên của bè bạn và thầy cô, nuôi dưỡng văn nghiệp của mình lúc khởi đầu. Thầy Hùng tìm nhiều cuốn sách cho học trò đọc như “Vượt côn đảo”, thầy Luyến gửi bài thơ của Thiện đăng báo. Anh Nhu trước khi tạm biệt đã dặn dò cậu bé dù thế nào cũng không được bỏ học, cố gắng theo đuổi đam mê của mình, anh tặng một quyển “Gửi miền Nam” làm quà - quyển sách quý giá mà Thiện săn tìm bao lâu. Cậu bé thiệt thòi về hoàn cảnh gia đình nhưng nhà trường đã bù đắp những thiệt thòi đó, để rồi hôm nay chúng ta có một nhà văn.

6.Tình cảm gia đình:

Trong gian khó, Thiện với cái tên đầy ý nghĩa của mình vẫn có những tình cảm trân quý, thiêng liêng. Cậu là con thứ năm trong gia đình tám anh chị em. Ngoài mấy người mất sớm, mấy anh chị em của Thiện cũng mỗi người một nơi: Anh Lượng làm công nhân đường sắt Lào Cai sau đi bộ đội, chị Trọng đi làm thanh niên xung phong sau học sư phạm, chị Ngà đi theo ngành văn công. Mẹ mất, bố lấy dì ruột sinh được mấy người em cũng mất như Hiếu, Hoa…Trong chuyện nhà Thiện, nỗi buồn phiền liên tiếp khiến không khí u ám bao phủ. Người cha bất lực vì không thể nuôi nổi gia đình, ông sinh bất phùng thời, ông cũng đau khổ lắm chứ. Khi 10 đồng, khi 20 đồng ông gửi cho Thiện trên Bắc Giang, ông thấy vui khi Thiện đã có thể tự lập sống một mình, ông thấy vui khi con trai mình có niềm say mê tri thức, văn chương…điều mà ông đã lỡ hẹn với cuộc đời. Thời khó khăn, con người ta cư xử sao tình người thế. Người em dành dụm mua quà cho chị, đi một quãng đường dài hơn sáu mươi cây số, để làm chị vui…

7.Mái trường, thầy cô và bè bạn:

Đời sống khó khăn quá, Thiện về với mái trường Ngô Sỹ Liên, nơi các anh chị mình đã từng học. Trường có từ thời Pháp, học sinh học giỏi có tiếng, tháng 2 năm 1946 đổi tên thành ngôi trường mang tên nhà viết sử. Thời của Thiện, hằng năm có từ 12 đến 15 lớp trong 10 năm có 1950 học sinh lớp 7 và lớp 10  ra trường. Có 4 thầy làm hiệu trưởng trong thời kỳ này: thầy Lê Minh (1954-1956), thầy Nguyễn Văn Hồng (1956-1959), thầy Trần Lê Tấn (1959-1961), thầy Trần Cư (1961-1965). Năm 1954, hòa bình lập lại, trường về thị xã Bắc Giang. Từ trong đống gạch vụn đổ nát của chiến tranh, thầy trò của trường lao vào lao động xây dựng lại trường với 11 lớp học (cả cấp 2 và cấp 3), phòng thí nghiệm, khu tập thể…

Năm học 1957-1958 trường chuyển giáo dục từ hệ phổ thông 9 năm sang hệ phổ thông 10 năm. Năm học 1959-1960, trường tách riêng cấp 2 (thầy Trần Lê Tấn - Hiệu trưởng cấp 3 - với 8 lớp, cô Nguyễn Thị Kim làm hiệu trưởng trường cấp 2 - với 7 lớp) để phù hợp với việc chuyển hướng giáo dục.

Ở mái trường này, Thiện nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn học cả về tinh thần lẫn vật chất, giúp Thiện vượt lên những bỡ ngỡ ban đầu. Người dẫn Thiện từ Hà Nội về và sắp xếp ăn ở là thầy Tín dạy chính trị và giáo dục công dân. Lúc này cô Kim răng khểnh làm chủ nhiệm, thầy Lê Minh là hiệu trưởng, thầy Luyến dạy văn …ai cũng quan tâm đến cậu trò nhỏ. Bài văn của Thiện thường được điểm cao nhất, đọc to cho cả lớp nghe. Chính ở lớp 5A này các thầy cô đã ươm lên các em tình yêu say mê học tập trong đó có tình yêu văn chương.

Ở đây Thiện gặp anh Nhu người Gia Lương, Thuận Thành đã từng là bạn của anh chị Thiện thời còn trên Yên Thế. Anh Nhu, anh Hoàng và mọi người coi cậu như em trai đùm bọc yêu thương trong cả khi kiếm sống lẫn lúc học hành.

Ở đây, Thiện gặp Bảo, người bạn nối khố luôn thương yêu, bảo vệ mình. Nhà Bảo tận Yên Dũng, bố làm Ty giáo dục, lên thị xã học bởi quê không có trường. Bao nhiêu trò chơi , trải nghiệm bên ngoài thường do Bảo đầu têu. Bao nhiêu câu chuyện tếu táo của Bảo đã xua tan đi cái nhọc nhằn kiếm sống khi cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”.

Ở nơi đây, mái trường Ngô Sỹ Liên này thực sự là một ngôi nhà ấm cúng dung dưỡng tâm hồn…điều mà suốt đời Trần Hoài Dương không bao giờ quên.

8.Nghệ thuật kể chuyện của Trần Hoài Dương:

Trần Hoài Dương như một người thợ làm bánh lành nghề, một bên là những hồi ức không phai mờ của tuổi thơ, một bên là những câu chuyện cổ tích. Ông nhào trộn chúng, ráp nối chúng thật khớp và nhuần nhuyễn. Ông xây dựng nhân vật Bảo - người bạn thân của Thiện là một cậu bé láu lỉnh, có nhiều mẹo mực, thuộc nhiều câu chuyện ly kỳ nhưng dẫu sao vẫn là trẻ con. Chỉ trong thoáng chốc thôi, ta cứ có cảm nhận sao Bảo người lớn thế, sao Bảo biết những chuyện ông Tả Ao tìm phong thủy cho làng, sự tích gà mẹ, gà con…trong Bảo cũng có lời văn của người kể chuyện. Tác giả đưa vào để làm mềm đi, cài thêm những câu chuyện có ý nghĩa giáo dục cho trẻ em. Mà hầu hết các tác phẩm của Trần Hoài Dương, đều là truyện không có cốt chuyện. Trong đó lời văn của tác giả đóng vai trò quan trọng nhất là trong các đoạn tả cảnh và miêu tả tâm lý nhân vật. Đọc Trần Hoài Dương thấy ông yêu các em biết bao, giọng văn nhẹ nhàng, bình dị, thủ thỉ. Ông càng nhạy cảm bao nhiêu thì càng gần với các em bấy nhiêu. Những ký ức tuổi thơ tươi đẹp, những vốn quan sát của ông đối với thiếu nhi, tâm hồn lành mạnh bao dung của ông đối với các em đã làm nên một nhà văn cho thiếu nhi tuyệt vời.

9.Vĩ thanh:

Sau gần ba mươi năm, tôi mới hiểu thêm người thầy mình đã từng học. Những lời giảng dạy của thầy đã cứu vớt linh hồn lầm lạc của tôi. Ba năm trong trại  đã làm tôi trở nên trưởng thành và có suy nghĩ đúng đắn hơn. Về nhà tôi đổi tên thành Thang Ngọc Hân. Tôi xóa bỏ những dấu ấn nặng nề trong cuộc đời mình, trong cả cái tên mình, đón về cho mình một viên ngọc trong sáng quý giá, đó chính là tuổi thơ tôi.

Cảm ơn người thầy đã vô tình lướt qua đời tôi, người thầy đã dành cả cuộc đời mình để vun đắp cái đạo làm người cho thiếu nhi, người thầy, nhà văn không ham danh lợi chỉ ham viết, sẵn sàng từ bỏ hộ khẩu Hà Nội, những cái ghế TBT quyền lực…để thanh thản được viết những gì mình yêu thích, để có thể quan sát, viết được một cái gì đó trong sáng lắm !

NGUYỄN VĂN VIỆT

Các Bài viết khác