NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

MOTIF CÁI SONG TRÙNG TRONG TRUYỆN NGẮN EDGAR ALLAN POE (10/09/2012)

( 07-09-2013 - 10:40 AM ) - Lượt xem: 1163

Edgar Allan Poe (1809-1849) là nhà văn thuộc thế hệ đầu tiên của nền văn học độc lập Mĩ, đồng thời là một trong những ông tổ của loại hình văn học kì ảo. Poe đã vận dụng nhiều thủ pháp để xây dựng nên cái kì ảo trong tác phẩm của mình, trong đó có việc vận dụng motif cái song trùng. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu các đặc trưng của cái song trùng, đồng thời liên hệ vai trò của nó trong việc tạo nên cái kì ảo trong truyện ngắn Edgar Poe...

 
MOTIF CÁI SONG TRÙNG TRONG TRUYỆN NGẮN EDGAR ALLAN POE
Thứ hai - 10/09/2012 17:02
 
 
Edgar Allan Poe (1809-1849) là nhà văn thuộc thế hệ đầu tiên của nền văn học độc lập Mĩ, đồng thời là một trong những ông tổ của loại hình văn học kì ảo. Poe đã vận dụng nhiều thủ pháp để xây dựng nên cái kì ảo trong tác phẩm của mình, trong đó có việc vận dụng motif cái song trùng. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu các đặc trưng của cái song trùng, đồng thời liên hệ vai trò của nó trong việc tạo nên cái kì ảo trong truyện ngắn Edgar Poe.



Cái song trùng (the double) đã tồn tại từ lâu trong các nền văn hoá nghệ thuật nhân loại. Đó là sự thể hiện các con vật, sự vật theo nguyên lí cặp đôi, thể hiện tính lưỡng diện, sự tồn tại song song không thể thiếu nhau của các đối cực… Tôn giáo truyền thống thường quan niệm “linh hồn là bản trùng của chủ thể sống, có thể tách rời thể xác khi chủ thể chết, hoặc trong giấc mộng hoặc do một thao tác ma thuật, và có thể thác sinh vào chính thể xác đó hay vào một thể xác khác. Như vậy, hình ảnh con người tự hình dung về mình là một hình ảnh nhân đôi”[1].
 
Cái song trùng tồn tại như một mẫu gốc (archetype) có sức sống rất lớn trong văn học các dân tộc. Đặc biệt, riêng trong lĩnh vực văn học, và cụ thể hơn nữa là văn học kì ảo thì, đến giai đoạn chủ nghĩa lãng mạn, “chủ nghĩa lãng mạn Đức đã phủ lên cái song trùng (Doppelgänger) một màu sắc bi đát và oan nghiệt… Nó có thể là người bổ sung, nhưng thông thường hơn là đối thủ khiêu chiến với ta… Trong các truyền thuyết cổ, gặp cái song trùng của mình là một biến cố tai hại, đôi khi là dấu hiệu của cái chết”[2]. Trong tiếng Đức và tiếng Anh hiện đại, “Doppelgänger” có ý nghĩa “người xuất hiện đột ngột gây sự bất ngờ, làm giật mình người khác”, đôi khi nó đồng nghĩa với cả từ “bóng ma” (spectre).
 
Nếu dựa trên quan niệm rằng cái song trùng vừa là người bổ sung thể hiện “sự tồn tại song song không thể thiếu nhau của các đối cực”, vừa là một ám ảnh, “một đối thủ khiêu chiến”, và “gặp cái song trùng của mình là một biến cố tai hại, đôi khi là dấu hiệu của cái chết”, thì có thể quan sát thấy cái song trùng tồn tại một cách phổ biến trong một số lượng lớn các truyện ngắn của Edgar Poe. Vấn đề cần quan tâm ở đây là cái song trùng không tồn tại đơn thuần để Poe chuyên chở ý niệm triết học nào đó của mình (điều này tất nhiên là có), mà nó còn phải được Poe tạo ra một ảo giác giữa hư và thực gây hoang mang do dự cho chủ thể khi đối mặt với nó - cơ sở cho sự tồn tại của cái kì ảo.
 
Trong sáng tác của Poe xuất hiện cả hai kiểu song trùng: kiểu song trùng như là sự tồn tại không thể thiếu nhau, và kiểu song trùng tồn tại như là sự ám ảnh của nhau.
 
Kiểu song trùng thứ nhất thường xuất hiện ở những nhân vật mà giữa chúng có những mối quan hệ mật thiết: vợ - chồng, anh - em, mở rộng hơn nữa là giữa cá nhân và ngoại cảnh, con người và Chúa trời… Sự tồn tại khăng khít giữa các khách thể trong một thời gian dài và với một hoàn cảnh đặc biệt dường như đã làm nảy sinh một sự tương liên đặc biệt, vượt ra khỏi các quy luật tồn tại thông thường, hay nói cách khác chúng nhuốm một màu sắc siêu nhiên bí hiểm. Bản thân sự tồn tại của khách thể này là cơ sở cho sự tồn tại của khách thể kia, và khi một khách thể này tan rã thì khách thể kia cũng không còn lí do tồn tại, hoặc chìm đắm trong u sầu mộng tưởng và giao tiếp với nửa đã mất bằng một “kênh” đặc biệt, hoặc cũng đi đến một sự tan rã và cùng dẫn đến một sự sụp đổ nhiều cấp bậc vào một khách thể lớn hơn, vô hình - Đức Chúa trời, Đấng sáng tạo.
 
Ligeia, Morella, Berenice, Eleonora,… là nhóm truyện của Poe về đề tài “nỗi sầu muộn khi người bạn đời đã mất”. Có thể nhận ra ở đây một dạng song trùng giữa nhân vật “tôi” và người tình của mình. “Tôi” là phần đời thường, phần thực tại. Người bạn đời của “tôi” là đại diện cho vẻ đẹp và trí tuệ siêu phàm, đạo đức thánh thiện. Trong “tôi” luôn tồn tại mâu thuẫn và đấu tranh giữa sự phấn đấu vươn lên đạt tới bể kiến thức mênh mông và đạo đức cao cả, với bản năng tối tăm cố hữu luôn muốn thu mình lại, vùi mình trong cảnh sống cô đơn. Hai khuynh hướng này tồn tại cạnh nhau: khi sự khao khát vươn lên cái tuyệt đối bị bẻ gãy, được biểu tượng qua cái chết của người bạn đời, thì lập tức khuynh hướng kia trỗi dậy: nhân vật sống vùi mình trong sầu thảm. Nhưng bản thân sự vùi mình trong cô đơn sầu thảm và luôn nhớ về quá khứ cũng chứng tỏ khuynh hướng vươn lên kia không bị triệt tiêu mà vẫn tồn tại dưới dạng này hay dạng khác và sẽ trở về khi có cơ hội thích hợp: sự đầu thai, người chết sống lại… Quan trọng là ở đây, tính song trùng phải được lồng vào một motif, đề tài thần bí, kiểu hồn ma sống dậy trở về cõi thế, hoặc ảo giác hư thực của một nhân vật chịu sự ám ảnh, dằn vặt trong mộng tưởng, từ đó cái song trùng vừa có một hiệu ứng hoang mang tạo nên cái kì ảo đồng thời chuyên chở chiều sâu triết học của nó.
Rõ ràng, những truyện ngắn của Poe với một khuôn mẫu cốt truyện chung là nỗi sầu thương người bạn đời đã mất không chỉ đơn thuần đề cập đến vấn đề tình yêu và gia đình. Một cái kì ảo kết hợp cả yếu tố ảo giác hư thực và thần bí vào cái song trùng tồn tại xuyên suốt, còn thể hiện cả một ý niệm triết học về mối quan hệ giữa cái tuyệt đối và cái hữu hạn, chất thần thánh và chất thực tại, lí trí và bản năng… trong bản chất của tồn tại. Đó chính là chiều sâu ý nghĩa trong truyện ngắn của Edgar Poe.
Cũng vậy, trong Sự sụp đổ của ngôi nhà Usher (The Fall of the House of Usher), anh em Roderick và Madeline, những thành viên cuối cùng của dòng họ Usher nhiều đời danh giá tồn tại bên nhau trong toà lâu đài cổ của dòng họ như là một song trùng không thể thiếu được nhau. Sự tồn tại của Roderick là cơ sở cho sự tồn tại của Madeline và ngược lại. Giữa họ có một linh tính đặc biệt, không cần đến phương tiện ngôn từ và trong một sự cách biệt về không gian, họ vẫn có thể nắm bắt được những tâm tư cảm xúc của nhau. Người đọc tinh ý có thể nhận ra ở đây dấu ấn kĩ thuật của Poe trong việc tạo ra một sự mơ hồ hư thực. Ở phần đầu truyện, Poe đã dẫn giải mối quan hệ giữa hai anh em nhà Usher qua lời kể của Roderick. Theo lời của Roderick, Madeline là người em gái sinh đôi thân thiết, là người cùng dòng máu cuối cùng còn sót lại của Roderick trong dòng họ nhà Usher. Tình cảm gắn bó khăng khít từ nhỏ giữa họ là sự xác tín mà Poe tạo ra cho tính hiện thực của khả năng nắm bắt suy nghĩ cảm xúc giữa hai anh em nhà Usher. Sự xác tín này cuối cùng sẽ gặp phải sự “kháng cự” ngày càng tăng của sự trùng lặp mang tính siêu nhiên: sự suy sụp về tinh thần của người anh diễn ra đồng thời với sự tàn tạ về thể xác của cô em. Dường như sự tồn tại của Madeline chỉ là sự tồn tại của phần thể xác cho một sự tồn tại chỉ về mặt tinh thần ở Roderick. Cho nên khi bệnh tật bí ẩn của Madeline tiến gần đến sự tê liệt về thể xác thì sự kích động về tinh thần của Roderick diễn biến thành hình thức của một “cảm giác bén nhạy đầy buồn thảm” chia cắt cơ thể anh ta khỏi thế giới vật chất làm tất cả cảm giác bình thường trở nên đau đớn. Khi Madeline đã lâm vào một tình trạng chết lâm sàng, hay là chứng giữ nguyên thế (catatonia), hay là bị chôn sống trong nhà tạm táng thì cũng là lúc Roderick “ngừng mọi hoạt động thường xuyên có hàng ngày như chơi nhạc, đọc sách, vẽ tranh, lúc nào cũng thẫn thờ như người mất hồn”. Và linh hồn không thể tồn tại khi phần xác của nó đã sụp đổ, cho nên linh hồn - sự tồn tại của Roderick phải quyết tâm đi tìm sự tồn tại vật chất của nó nơi thể xác của Madeline. Thực và ảo, khoa học và siêu nhiên giao thoa nhau và đến giai đoạn cuối của câu chuyện, cái ảo giác hư thực giữa khoa học và siêu nhiên kết hợp với cái thần bí tạo ra một màn cảnh (scence) kì ảo hoang mang rùng rợn thuộc vào loại hay nhất trong những trang truyện của Poe nói riêng và văn học kì ảo nói chung: sự trùng phức của những không gian khác nhau, Roderick - phần hồn đi tìm Madeline - phần xác của mình, và ngược lại, phần xác - Madeline cũng vượt thoát hầm mộ để trở về với phần hồn - Roderick: “Không nghe gì sao? Vâng, tôi đang nghe, tôi đã nghe thấy nó. Lâu - lâu - lâu lắm rồi - nhiều phút, nhiều giờ, nhiều ngày qua tôi đã nghe thấy nó - Nhưng tôi đã không dám - ôi, tội nghiệp thân tôi, kẻ đáng thương khốn khổ! - Tôi đã không dám - Tôi đã chẳng dám lên tiếng! Chúng tôi đã chôn sống cô ấy trong mồ! Tôi đã chẳng nói rằng giác quan tôi tinh nhạy? Bây giờ tôi nói cho anh biết rằng tôi đã nghe những chuyển động yếu ớt đầu tiên của cô ấy trong cỗ quan tài trống rỗng. Tôi đã nghe thấy chúng - từ nhiều, nhiều ngày trước - nhưng tôi đã không dám - Tôi đã không dám nói lên! Và giờ đây - đêm nay - Ethelred - ha! ha! - cánh cửa phòng của thầy tu khổ hạnh đã bị phá sập, và tiếng gào rú giãy chết của con rồng, và tiếng rền vang lanh lảnh của tấm khiên! Hãy nói lên, đúng hơn, hãy đập vỡ chiếc quan tài đó đi, và hãy nghiền nát những chiếc bản lề sắt của nhà tù, và những cuộc vật lộn của cô ấy bên trong lối đi của mái vòm bằng đồng. Ôi tôi biết trốn đi đâu? Ngay bây giờ cô ấy sẽ chẳng còn ở đây nữa ư? Có phải là cô ấy đang thúc giục mắng nhiếc tôi phải khẩn trương hơn nữa? Chẳng phải là tôi đã nghe thấy tiếng bước chân cô ấy trên sàn nhà? Chẳng phải là tôi đã nhận ra tiếng đập khủng khiếp và nặng nề nơi con tim cô ấy? Thằng Điên!” Đến đây anh ta bỗng chồm lên giận dữ và thét lên những âm thanh cứ như thể trong nỗ lực lìa bỏ linh hồn của mình: “THẰNG ĐIÊN! TA BẢO CHO MI BIẾT RẰNG GIỜ ĐÂY CÔ ẤY ĐANG ĐỨNG Ở BÊN NGOÀI CỬA ẤY!” [3].
Cho đến những màn cảnh cuối cùng này, nhìn lại chỉnh thể toàn truyện, ta thấy Poe đã kết cấu truyện ngắn của mình với tầng tầng những trùng phức khác nhau: anh em nhà Usher là một cặp song trùng; những con người cuối cùng trong dòng họ Usher, mà cụ thể là Roderick Usher, với toà lâu đài là một cặp song trùng; toà lâu đài của dòng họ với bức hoạ của Usher, bài thơ của Usher về “Lâu đài ma quái” (Haunted Palace) là những song trùng bởi sự tương hợp đến kì lạ và sự tồn tại không thể thiếu nhau giữa chúng. Toà lâu đài ma quái trong bài thơ mà Roderick ứng tác ấy không gì khác hơn chính là bản thân toà lâu đài Usher, dòng họ nhà Usher trí tuệ, nghệ thuật và hạnh phúc của “danh gia lừng lẫy một thời” nhưng giờ đây “Mọi bất hạnh đã như dòng lũ lớn, Cuốn sạch đi cả sự nghiệp lẫn vinh quang”. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã nhận thấy có một mối tương quan kì lạ giữa hình dáng toà lâu đài với các bộ phận của khuôn mặt và cái đầu của Usher. Bản thân Roderick Usher cũng có một mối dị đoan đáng sợ về khả năng cảm giác của tất cả các loài thực vật và giới vô cơ, trật tự sắp xếp của những viên đá xung quanh nhà… “Sự hiển nhiên của nó, sự hiển nhiên của khả năng cảm giác, sẽ được nhìn thấy trong sự tiến dần từng tí một nhưng chắc chắn ở việc cô đặc lại của một bầu khí quyển bao trùm xung quanh hồ nước và những bức tường (…), kết quả này có thể được khám phá trong sự tác động âm thầm nhưng dai dẳng và khủng khiếp trong hàng thế kỉ định hình cho số mệnh của dòng họ Usher, và khiến anh ta tàn tạ như những gì tôi quan sát thấy hiện thời”[4].  Ta hiểu vì sao ở đầu truyện, người kể chuyện xưng “tôi” chợt rùng mình kinh sợ khi nhìn thấy hình bóng toàn bộ toà lâu đài in trong lòng hồ - anh ta đã chợt gặp phải cái song trùng của dòng họ nhà Usher. Anh em nhà Usher tồn tại gắn liền với toà nhà, chưa bao giờ dám vượt ra khỏi toà lâu đài, chính xác hơn là như đã bị chôn sống bao ngày trong đó. Vết nứt dài từ mái vòm bức tường mặt, chạy theo đường dích dắc kéo dài xuống tận chân tường của ngôi nhà chẳng gì khác hơn là sự rạn nứt và báo hiệu sự đổ vỡ tất yếu trong đời sống tâm linh và nhân cách những con người cuối cùng của nhà Usher. Do vậy, sự sụp đổ của nửa này sẽ dẫn tới sự sụp đổ tất yếu của nửa kia trong cái song trùng đó. Khi Madeline từ hầm mộ trở về rồi ngã vật xuống chết, thì Usher cũng “đổ vật xuống sàn như là kết quả của những nỗi khiếp hãi mà anh ta đã phải chịu đựng”; sự suy tàn của con người - thể hiện ở sự tàn tạ về thể xác của Madeline và sự suy sụp về tinh thần của Roderick - gắn liền với sự rạn nứt hoang tàn của cả lâu đài. Và khi những thành viên cuối cùng của dòng họ Usher đã chết thì cả toà lâu đài do vậy cũng không còn lí do tồn tại: “Tôi hoảng sợ chạy khỏi căn phòng, khỏi toà lâu đài. Cơn bão vẫn quay cuồng ở bên ngoài khi tôi tìm đường băng qua lối mòn cổ xưa. Bất ngờ một ánh chớp chói loà dữ dội phóng ra dọc theo con đường, và tôi ngoái nhìn lại xem một tia sáng yếu ớt bất thường đã phóng ra từ đâu. Toà nhà đồ sộ và bóng hình của nó đứng đơn độc phía sau tôi. ánh sáng chói loà bao trùm, và vành trăng đỏ như máu giờ đây chiếu sáng gay gắt xuyên qua cái vết nứt khó thấy chạy từ mái xuống móng nhà theo một đường dích dắc mà tôi đã nhắc đến từ trước. Trong khi tôi dán mắt nhìn vào thì vết nứt đó bất ngờ nứt toát ra, từ đó bùng lên trận gió xoáy với sức nóng mãnh liệt. Một khối cầu lửa ngay lập tức bùng lên trước mắt tôi - đầu óc tôi quay cuồng khi tôi nhìn thấy những bức tường đồ sộ đổ sụp xuống từng mảnh - tiếng ầm ầm dữ dội kéo dài như tiếng của ngàn vạn khối nước - và hồ nước sâu, nhớp nháp dưới chân tôi buồn rầu và lặng lẽ trùm lên các mảnh vỡ của “ngôi nhà Usher” ”[5].
Theo Martha Womack: “Sự sụp đổ của ngôi nhà Usher minh hoạ cho lí thuyết của Poe rằng sự thống nhất của hiệu quả phụ thuộc vào sự thống nhất của giọng điệu. Mọi chi tiết của câu chuyện, từ sự miêu tả mở đầu về cái hồ nhớp nháp trên núi và những căn phòng âm u của ngôi nhà cho tới cơn bão huyền bí như là những bước đệm nâng đỡ Madeline quay trở lại từ chiếc quan tài, giúp chuyển tải sự khủng khiếp tràn ngập và cuối cùng phá huỷ tâm hồn yếu ớt mỏng manh của Roderick Usher”[6]. Sự hoang mang nảy sinh từ tính ảo giác hư thực của cái song trùng kết hợp với sự rùng rợn cao độ từ cái thần bí đã tạo ra một hiệu ứng đặc biệt của cái kì ảo ở đây mà các nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng kĩ xảo điện ảnh hiện đại của Hollywood cũng khó mà bì kịp.
Mặt khác, ta còn thấy Roderick Usher là một nghệ sĩ có những cảm nhận tinh nhạy đến độ ghê sợ, sức sáng tạo nghệ thuật phi thường trên nhiều lĩnh vực. Liên hệ với nguyên lí sáng tạo của Poe thể hiện trong tác phẩm Eureka của ông: “Poe tin rằng trí năng có hạn của người nghệ sĩ phải phản ánh càng chính xác càng tốt trí năng vô hạn của Chúa (…). Các dự đồ của Chúa phản ảnh sự hoàn thiện của vũ trụ. Vì vậy người ta có thể nhận ra sự thăng hoa của ý chí con người trong sự thăng hoa của Đấng sáng tạo”[7]. Kết hợp điều này, đứng từ góc độ mà chúng ta đang đề cập ở đây, còn có thể liên tưởng tới cái song trùng theo quan niệm của Poe giữa cái đơn nhất và Vũ trụ, giữa cá nhân nghệ sĩ và Đấng sáng tạo tối cao. Do vậy, cái chết của Roderick Usher còn là sự trở về với bản chất sáng tạo của Thượng đế trong bản ngã của chính mình. Chính điều này đã khiến cái kì ảo của Edgar Poe không chỉ dừng lại ở việc gây ra hiệu ứng sợ hãi rùng rợn (bản thân cái sợ cũng là một nhu cầu tự nhiên của con người[8]) mà còn vươn lên tính biểu tượng về bản chất của sự sáng tạo nơi người nghệ sĩ, về định mệnh của kiếp người. Nó còn thể hiện tính dự báo của Poe về một nỗi ám ảnh, một bệnh trạng trong xã hội hiện đại: sự rạn nứt nhân cách (split of personality).
Sự rạn nứt nhân cách thể hiện đặc biệt rõ ở cái song trùng kiểu thứ hai trong truyện ngắn của Poe: cái song trùng như là một ám ảnh, “một đối thủ khiêu chiến” và “gặp cái song trùng của mình là một biến cố tai hại, đôi khi là dấu hiệu của cái chết”. Kiểu song trùng này có khi được biểu hiện trong cặp đôi người - vật. Về mặt này, Con mèo đen là một câu chuyện đã để lại ám ảnh mạnh mẽ và là một trong những truyện ngắn có ảnh hưởng lớn nhất của Poe. Nhân vật “tôi” kể lại toàn bộ diễn biến quá trình tâm lí và tội ác của mình. Vốn là một người yêu thích động vật, sự gặp gỡ giữa anh ta với con mèo đen là một sự kiện hết sức bình thường. Tuy nhiên, sự gặp gỡ này cũng chẳng khác gì anh ta đã gặp phải “đối thủ khiêu chiến” của mình bởi cũng từ đây bắt đầu cho diễn biến tội lỗi, những xung lực nguyên thuỷ tối tăm trong con người anh ta hoành hành. Poe đã khéo léo chọn con vật nuôi thích hợp là một con mèo đen, “biểu tượng của bóng tối và thần chết” (theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới). Đồng thời con mèo lại được “tôi” - chủ của nó - đặt tên là Pluto - một sự cố ý rõ ràng của Poe. Pluto là tên La mã của thần Hades, vị thần của những người chết, chúa tể cai quản cõi âm. Con vật quấn quít, bám riết lấy nhân vật “tôi”, và tình bạn đang diễn ra hoà hợp, thân thiện như vậy thì bỗng nhiên như có ma quỷ xúi giục, “tôi” đã trở mặt với con vật. Ở đây có một sự đối lập rõ rệt về tính cách của nhân vật trước và sau khi gặp con mèo. Từ đầu truyện, “tôi” đã tự giới thiệu: “Từ thuở thiếu thời, tôi đã được chú ý bởi tính dễ bảo và tâm lí hay động lòng trắc ẩn. Con tim nhạy cảm hay bị tổn thương của tôi đã từng biến tôi thành trò đùa của chúng bạn”[9]. Sau khi gặp con mèo đen, sự sa đoạ, nghiện ngập và tàn bạo bắt đầu. Do vậy, vấn đề không phải là quan hệ của nhân vật “tôi” với một con mèo đen cụ thể - sau khi con mèo đầu tiên bị y hành hạ bằng cách chọc mù một mắt, sau đó giết chết bằng cách treo cổ, thì một thời gian sau đã xuất hiện một con mèo lạ giống hệt con mèo trước từ kích thước, màu lông đến việc chột một mắt - mà sự xuất hiện của con mèo đen đã trở thành một ẩn dụ có ý nghĩa biểu tượng cho phần thú tính, cho xung lực nguyên thuỷ (primitive impulse) tồn tại sâu thẳm trong bản ngã con người. Chính nhân vật “tôi” cũng đã nhận thấy rằng “nỗi sợ của tôi không hẳn là nỗi sợ về một con quỷ có hình thù cụ thể, nhưng tôi thật bối rối khi xác định đó là nỗi sợ cái gì”[10]. Sự tồn tại của con mèo như là một ám ảnh khiến “tôi” hết sức khốn khổ, lương tâm chẳng lúc nào được yên ổn, và “nỗi sợ hãi mênh mang nhất vẫn là những cơn ác mộng đầy tai hoạ ghê sợ và rùng rợn hiện ra trong giấc ngủ”. Poe đã rất khéo léo trong kĩ thuật tạo ra các chi tiết mơ hồ hư thực để biến cái song trùng này trở thành một thành tố góp phần tạo ra cái kì ảo. Ngay trong đêm nhân vật “tôi” treo cổ con mèo (con mèo thứ nhất) đã xảy ra vụ hoả hoạn. Tất cả đều bị sập đổ, toàn bộ của cải đều biến thành tro bụi. Chỉ còn trơ trọi lại một bức tường với nhiều vết loang nham nhở được in hằn lên do tác động của khói lửa ghép lại thành hình một con mèo khổng lồ với một chiếc thòng lọng trên cổ. Cả độc giả lẫn chính nhân vật “tôi” đều “bị” Poe làm cho rối trí khi băn khoăn không biết đó là do con mèo bị treo cổ đã thoát được, nhảy vào phòng và trở thành nạn nhân của vụ hoả hoạn, và các phản ứng hoá học đã tạo nên bức hình con mèo trên tường, hay là hồn ma con mèo hiện về báo oán, tố cáo tội ác dã man. Tiếp đó, con mèo thứ hai xuất hiện, Poe đã rất khôn ngoan tránh xác định cụ thể rằng liệu con mèo thứ hai này có bị chột cùng một bên mắt giống như con mèo trước hay không. Sự mơ hồ này khiến độc giả băn khoăn hoang mang không biết đó vẫn là con mèo cũ thoát được sợi dây thòng lọng treo cổ trở về, hay chính là hồn ma con mèo cũ trở về đầu thai vào một con mèo khác giống hệt để báo oán. Đặc biệt, sự trả thù, dường như với một sức mạnh siêu nhiên, đã thực sự diễn ra khi con mèo đùa giỡn khiến nhân vật “tôi” nổi cáu có hành động ngộ sát đối với vợ, sau cùng là màn trả thù rùng rợn ở cuối truyện: con mèo ngồi trên đầu thi thể người vợ bị chôn sống sau bức tường gạch mở con mắt chột và cái miệng đỏ lòm, tố cáo tội ác dã man của kẻ điên khùng. Motif song trùng ở đây kết hợp chặt chẽ cả tính mơ hồ hư thực với cái thần bí rùng rợn tạo nên một hiệu quả tổng hợp đặc biệt cho cái kì ảo của Poe. Cái kì ảo ở đây liên quan đến hàng loạt vấn đề: xung lực nguyên thuỷ trong mỗi con người - vấn đề mà Poe đã dành trọn một tác phẩm Thằng nhóc ương ngạnh (The Imp of Perverse) để bàn đến - bệnh điên, tội ác trong gia đình… làm nên tầng bậc lớp nghĩa trong tác phẩm của Poe.
Ở nhiều truyện, cái song trùng còn được Poe thể hiện trong những cặp người - người, theo đó nhân vật này là ám ảnh của nhân vật kia, là đối thủ buộc nhân vật kia tìm mọi cách để tiêu diệt. Lí do của một sự cuồng tín trong việc săn đuổi tiêu diệt ấy có thể là một nguyên nhân rất bề mặt thuộc về lí trí - nhiệm vụ trả thù của dòng họ như trong Thùng rượu Amontillado, có thể thuộc một nguyên nhân rất vu vơ - kẻ giết người chịu sự ám ảnh bởi đôi mắt lạ lùng của đối thủ (Con tim mách bảo). Montresor và Fortunato (Thùng rượu Amontillado) là một song trùng bởi chúng tồn tại như là ám ảnh của nhau. Fortunato đã lăng mạ, sỉ nhục đến cả danh dự dòng họ nhà Montresors và Montresor đã âm thầm quyết tâm đặt mưu trả thù. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn thấy ở đây tính dự báo của Poe cho tư tưởng siêu nhân (superman) của Nietzsche sau này. Nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” và ông già trong Con tim mách bảo cũng vậy. Nhân vật “tôi” bị ám ảnh dữ dội và quyết tâm giết ông già bởi một nguyên cớ hết sức vu vơ mà chính y cũng ý thức rất rõ: “Thoạt tiên khó có thể nói ý tưởng ấy len vào đầu tôi bằng cách nào; nhưng một khi đã hiển hiện thì nó ám ảnh tôi suốt ngày lẫn đêm. Không có chút mục đích nào. Chút tình cảm say đắm cũng không. Tôi yêu một ông lão. Lão chưa hề làm bất cứ một điều gì sai trái với tôi. Lão chưa bao giờ sỉ nhục tôi. Vàng của lão tôi cũng không màng. Tôi nghĩ đấy là tại con mắt lão! Đúng, đúng là nó rồi! Một con mắt của lão giống mắt của loài kền kền - con mắt màu xanh nhạt, mang cả cuốn phim trong đó. Bất cứ lúc nào con mắt ấy nhìn tôi, máu trong người tôi lạnh ngắt; và thế là dần dà từng tí một - rất từ từ - tôi hình thành ý tưởng lấy đi mạng sống của lão và có thế thì cuộc đời tôi mới vĩnh viễn thoát khỏi con mắt kia”[11]. Không thể nào giải thích được hợp lí nguyên nhân của tội ác nếu không xét nó sâu xa từ một bản năng thú tính nơi vô thức, một xung lực nguyên thuỷ tàn bạo thúc đẩy con người ta có những hành động rồ dại; và, khi xung lực ấy được dịp nảy mầm và gặp hoàn cảnh thuận lợi thì nó sẽ ngày càng lớn mạnh, trở thành một nửa đối lập ám ảnh ngày đêm cái nửa còn lại trong bản ngã con người. Hai yếu tố này thống hợp tạo nên cái song trùng. Nếu nhìn vấn đề cái song trùng trong một hệ thống xâu chuỗi nhiều truyện thì ta còn có thể nhận ra được nhiều vấn đề: từ Con mèo đen đến Con tim mách bảo, vấn đề tội ác đã vượt phạm vi gia đình ra đến phạm vi xã hội. Đồng thời từ Thùng rượu Amontillado đến Con mèo đen, Con tim mách bảo đã có một bước phát triển mới: từ việc không đề cập đến nỗi ám ảnh giày vò do giết người gây ra cho đến việc tâm hồn không thể thoát khỏi cơn giông bão sau khi thực hiện tội ác. Trong Con tim mách bảo, sau khi tên giết người giết ông già và phi tang dưới sàn nhà thì nhịp tim oan ức của ông già (hay chính là nhịp tim tội lỗi của y?) vẫn cứ dội lên khiến y không thể chịu đựng nổi và đã phải tự vạch trần tội ác của chính mình trước pháp luật. Như vậy giá trị truyện ngắn Edgar Poe không chỉ dừng lại ở bề ngoài của vấn đề nỗi hoang mang sợ hãi, tội ác rùng rợn, mà còn là vấn đề “tội ác và hình phạt”, là những vấn đề đạo đức cơ bản nhất của con người. Con tim mách bảo cũng liên quan đến một khía cạnh khác - ảo giác của người điên - một trong những thành tố làm nên cái kì ảo ảo giác hư thực trong truyện ngắn Edgar Poe.
Tóm lại, kiểu nhân vật song trùng hay motif cái song trùng là motif tồn tại xuyên suốt trong nhiều truyện ngắn của Poe. Phải thừa nhận rằng, vận dụng một motif, một tư tưởng đã tồn tại từ lâu trong văn hoá truyền thống, với kĩ thuật tinh tế trong việc cấp cho nó một sự mơ hồ, từ đó tạo nên một cái kì ảo ảo giác hư thực, Poe đã đề cập được nhiều vấn đề, trong đó có không ít vấn đề có tính dự báo: vấn đề tội ác và hình phạt, vấn đề người hùng (siêu nhân), vấn đề vô thức, vấn đề sự rạn nứt nhân cách… Sự đa chiều đa nghĩa đã khiến cái kì ảo và truyện ngắn kì ảo của Poe không hề là loại truyện kinh dị rẻ tiền gây cảm giác rùng rợn, giật gân mà ngược lại chứa đầy tính trí tuệ, tính nhân văn của nhân loại muôn đời.
------------------------------
[1] Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vĩ dịch, Nxb Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, 1997, trang 826.
[2] Sđd, trang 826.
[3] Poe’s Tales of Mystery and Imagination, New York E. P. Dutton & Co. Inc, 1955, pp. 143-144.
[4] Sđd, p.137.
[5] Sđd, p. 144.
[6] Martha Womack, Edgar Allan Poe’s The Fall of the House of Usher, website: www.poedecoder.com/essays/usher/
[7] David Grantz, A Fissure of Mind: The Primal Origins of Poe’s Doppelgänger as Reflected in Roderick Usher, website: www.poedecoder.com/essays/fissure/
[8] Xin xem: Đào Hùng, Sợ - một nhu cầu tự nhiên của con người, Tạp chí Văn học nước ngoài số 4. 1998, trang 195 - 201.
[9] Poe’s Tales of Mystery and Imagination, New York E. P. Dutton & Co. Inc, 1955, p. 519.
[10] Sđd, p. 523.
[11] Truyện kì ảo thế giới, tập 6, Ngô Tự Lập sưu tầm và giới thiệu, Nxb Văn học, Trung tâm văn hoá - ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 1999, trang 378-379.
(Bài đã đăng trên Tạp chí Khoa học - Khoa học Xã hội và Nhân văn,
T. XXII, Số 3 – 2006)

Tác giả bài viết: ThS. LÊ NGUYÊN LONG

Các Bài viết khác