NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

LỜI ĐỘNG VIÊN CỦA EDGAR ALLAN POE (10/09/2012)

( 07-09-2013 - 10:37 AM ) - Lượt xem: 734

Trong câm lặng/ Triệu triệu giọt mồ hôi/ Nhỏ xuống con đường đầy lá/ Phía cuối tôi là một cuộc đời?...

 
LỜI ĐỘNG VIÊN CỦA EDGAR ALLAN POE
Thứ hai - 10/09/2012 17:35
 
 
Trong câm lặng/ Triệu triệu giọt mồ hôi/ Nhỏ xuống con đường đầy lá/ Phía cuối tôi là một cuộc đời?
I.
 
Rất nhiều người có quan niệm sai lầm rằng văn chương là tình cảm, rằng viết văn chính là cách giải toả bức xúc. Chẳng khác nào văn chương là một thứ chất thải vậy! Kết quả là ai cũng thấy viết văn là dễ.
Thỉnh thoảng lại có người đến gặp tôi và nói: "Cuộc đời tôi cực kỳ chìm nổi, nhiều chuyện hay lắm. Khi nào có thời gian, tôi sẽ chép lại, chắc chắn là hay hơn nhiều những truyện ngắn in nhan nhản trên các báo". Trong những trường hợp như vậy, bao giờ tôi cũng tỏ ý khuyến khích, nhưng biết trước rằng ý định đáng quý ấy hầu như không bao giờ trở thành hiện thực. Một phần vì người bạn kia quá bận, nhưng lý do chính là quan niệm quá đơn giản về truyện ngắn nói riêng và về văn học nói chung.
Người Việt gần như ai cũng nghĩ rằng mình có thể viết văn làm thơ. Người ta nhầm lẫn văn chương với việc ghi chép những tình cảm có thực và kết án trí tưởng tượng của người viết: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét". Người ta nhầm lẫn giá trị của văn chương với sự ám chỉ hoặc bất mãn: "tớ vừa viết xong một cái, gai lắm, chắc chắn không in được!". Các nhà thơ thì mơ mộng hơn, chỉ sau vài câu tán tỉnh tầm phào đã có có đủ bức xúc để tặng cho người đẹp!
Thực ra nói viết văn là một cách giải tỏa tâm sự cũng không phải là sai với tất cả mọi người. Nhưng giải tỏa là một chuyện, văn chương lại là chuyện khác. Về tình cảm cũng vậy. Mọi văn bản được viết ra đều mang tình cảm của người viết, dù là vui, buồn hay lãnh đạm. Nhưng tình cảm là thứ đương nhiên có. Tôi không nghĩ rằng một người nông dân ít học, dù nghèo tiền, lại nghèo tình cảm hơn một học giả hay một nhà thơ danh tiếng. Tình yêu của chàng nông dân chắc chắn cũng không kém nồng nàn hơn. Nhưng khi họ mô tả tình cảm của mình, kết quả lại khác nhau hoàn toàn. Nếu người nông dân - tôi không đề cập đến những thi sĩ khoác áo nông dân - chỉ viết được những dòng chữ vụng về, thậm chí ngây ngô, thì vị học giả có thể có một bài mô tả khúc chiết, còn ở nhà thơ là những dòng  thơ - rất có thể là những dòng thơ hay, hay thậm chí là những dòng thơ bất hủ, như những câu sau của Chế Lan Viên:
“Em đi như chiều đi
  Gọi chim vườn bay hết...”
 
Cái gì làm nên sự khác nhau ấy? Chắc chắn đó không phải là tình cảm mà là cách thức diễn tả tình cảm. Nhưng cái gì quyết định cách thức ấy? Chắc chắn đó là trí tuệ, hay nói đúng hơn là những mức độ khác nhau của trí tuệ, cái mà chúng ta vẫn quen gọi là tài năng.
 
II
 
Nguồn gốc của văn học nghệ thuật nói riêng, của nghệ thuật nói chung, thật ra sâu xa hơn nhiều so với việc giải tỏa bức xúc về điều nọ điều kia vì những nguyên nhân cụ thể. Nó bắt nguồn từ chính từ bản chất hư ảo của sự sống, hay nói đúng hơn, từ sự cảm nhận của chúng ta về tính hư ảo cuộc sống. Một cảm nhận đau đớn và tuyệt vọng nhưng cũng vì thế mà đẹp đẽ và cao thượng. Mọi vật trên thế giới đều có xu hướng muốn duy trì sự tồn tại hay ít nhất là lưu lại dấu vết sự tồn tại của nó. Hai hòn đá chạm vào nhau để lại vết xước, năm tháng để lại vết nhăn và tình yêu qua đi gửi lại nỗi buồn. Tất cả mọi vật đều không thay đổi nếu như không bị tác động, nếu không bị buộc phải đoạn tuyệt với trạng thái cũ.
Đối với con người không có cái gì ghê gớm hơn cái chết. Cái chết là sự chấm dứt của con người cả về vật chất lẫn tinh thần. Cái chết, đó là giới hạn cuối cùng, tuyệt đối, cái giới hạn mà con người, trừ phù thuỷ hay các vị pháp sư,  luôn ý thức với một nỗi hoảng sợ ngàn đời đồng thời với một niềm hy vọng mong manh. Rất nhiều phương thuốc vật chất và tinh thần đã được tạo ra: những bóng ma, cuộc sống sau cái chết, địa ngục và thiên đường... Người Ấn Độ, và cả người Hy Lạp cổ đại, tin vào những vòng luân hồi. Tần Thuỷ Hoàng đã từng mơ tưởng về một loại thuốc trường sinh giống như các nhà khoa học của thế kỷ XXI đang miệt mài giải mã gien để đấu tranh với bệnh tật.
Trong tất cả những phương thuốc đó, đáng ngạc nhiên nhất là tình dụcnghệ thuật.
Trước hết, tôi xin nói về tình dục. Tình dục, chứ không phải tình yêu. Rất nhiều người cho rằng tình yêu là thanh cao, còn tình dục là thấp hèn. Thực ra, ngược lại mới đúng. Tình dục là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ở muôn loài, còn tình yêu chỉ con người mới có. Sứ mệnh của tình dục là duy trì nòi giống: ở loài vật, hoạt động tình dục chỉ diễn ra vào mùa giao phối. Mục đích của tình yêu là hưởng thụ. Nó đem đến cho con người khoái lạc. Tình yêu có bản chất nhân tạo. Nó luôn luôn ích kỷ. Trên thực tế, nó thường dẫn đến tình trạng vỡ mộng, đến thù hận và nhiều khi cả tội ác. Nếu để ý, chúng ta thấy hôn nhân vì tình yêu thường không bền vững. Đó là vì tình yêu thường dựa trên cơ sở là những điều phù phiếm, nhất thời và cảm tính. Một cô gái lấy một người đàn ông vì anh ta cao thượng, lịch thiệp, tài hoa hay đẹp mã. Nhưng khi bước vào cuộc sống gia đình, những thứ đó hoá ra không thực, hoặc có thực nhưng nhanh chóng biến đi, hoặc nữa, chúng trở thành hiểm họa. Ngược lại,  hôn nhân vì vật chất hay do cha mẹ sắp đặt lại thường tồn tại lâu bền. Lý do thật đơn giản:  ngôi nhà có trước hôn nhân thì sau hôn nhân vẫn tiếp tục tồn tại, và sự sắp đặt của cha mẹ thường dựa trên những tính toán thực tế và tỉnh táo. Thế rồi, trong cuộc sống chung, cô gái bỗng hiểu ra rằng "anh ta" hoàn toàn không xấu, không tồi như mình nghĩ. Và hạnh phúc lớn lên từng ngày.
Tình dục, với bản chất tự nhiên và mục đích cao thượng hơn, chính là cội nguồn sâu xa của tình yêu cha mẹ đối với con cái. Vì sao chúng ta yêu con cái mình? Tại sao chúng ta bao giờ cũng yêu con cái mình hơn con cái người khác? Đó là vì con cái sẽ nối tiếp sự tồn tại của chúng ta, lưu giữ phần nào sự tồn tại của chúng ta về mặt vật chất. Mặc dù không phải là chúng ta, nhưng đứa con chính là một phần của chúng ta. Nói đúng hơn, nó xuất phát từ một  phần của chúng ta, và nó tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi chúng ta đã chết.
Cách đây ít năm tôi đọc được một bài báo thú vị mà tôi không còn nhớ tên tác giả, nhưng có lẽ điều đó cũng không quan trọng. Ông ta đưa ra một lý thuyết bị nhiều người phản đối mặc dù rõ ràng cũng có những hạt nhân hợp lý. Ông ta khẳng định rằng đàn ông luôn có xu hướng muốn có nhiều bạn tình hơn phụ nữ, và xu hướng này có nguồn gốc tự nhiên chứ không phải là nguồn gốc xã hội như các nhà đạo đức hay nữ quyền giải thích. Ông lập luận rằng các cá thể cái trực tiếp sinh con nên luôn luôn biết chắc rằng đứa con là của nó, còn các cá thể đực thì không thể như vậy. Ông đi đến kết luận rằng cơ hội bảo tồn các thông tin về gen, nói cách khác, cơ hội bảo tồn các đặc điểm riêng của các cá thể đực không chỉ ít chắc chắn hơn mà còn phụ thuộc vào các cá thể cái. Một cách tự nhiên, nó phải tăng số lượng đối tác: số lượng đối tác càng nhiều thì cơ hội duy trì các đặc điểm riêng của nó càng lớn.
Tất nhiên, chúng ta phải phân biệt tình dục với lạm dụng tình dục, cái hiện nay rất hay núp dưới nhãn hiệu ”tình yêu hiện đại”. Điều mâu thuẫn là sự lạm dụng tình dục chỉ có ở người và nó tăng lên cùng với trình độ văn minh. Hầu như mọi xã hội nguyên thuỷ đều tôn thờ tình dục như là cái gì đó thiêng liêng. Nhưng chính cái gọi là "văn minh" đã bóp méo nó. Tình dục cao thượng bao nhiêu thì lạm dụng tình dục lại thấp hèn bấy nhiêu.
Phương thuốc thứ hai, một trong các phương thuốc tinh thần, là nghệ thuật. Tôi nói "một trong những", bởi lẽ chúng ta còn có những phương thuốc khác, có thể ít được ca ngợi hơn, nhưng có cùng một mục đích. Về mặt tinh thần, ai cũng muốn để lại cái gì đó, một vết cào trên mặt đất, chẳng hạn, nói theo lối tự trào cay đắng của Marxim Gorky. Cao Bá Quát đòi hỏi mỗi kẻ làm trai sống ở trong trời đất phải có "danh" gì với núi sông, còn người Trung Quốc dạy rằng lập thân có ba cách: lập ngôn, lập công và lập đức.
Tại sao chúng ta muốn người khác yêu mến và kính trọng? Tại sao chúng ta muốn được nhiều người yêu mến và kính trọng? Đó là vì mỗi người trong số họ đều sẽ lưu giữ ít nhiều ký ức về chúng ta, và càng có nhiều người biết chúng ta thì ký ức về chúng ta, sau khi chúng ta không còn tồn tại nữa, sẽ càng có nhiều cơ hội lâu bền. Bằng cách ấy, linh hồn của chúng ta, ý nghĩ của chúng ta, tinh thần của chúng ta được bảo tồn. ở đây, yêu mến hay kính trọng không phải là cứu cánh. Trên thực tế, người ta có thể tìm đến những giải pháp khác, thậm chí cả tội ác, như Herostrate đốt đền, hay như Tần Thủy Hoàng xây thành và đốt sách.
Đó cũng chính là cội nguồn sâu xa của nghệ thuật, trong đó có văn học. Văn tức là người, chúng ta vẫn thường nghe nói vậy. Chúng ta có thể nói rộng ra, nghệ thuật tức là người. Tác phẩm nghệ thuật, dù là một văn bản, một pho tượng, một bức tranh hay một bản nhạc, tất cả đều là kết quả vật chất hoá đời sống tinh thần của con người. Hãy nghe một bản nhạc. Nghệ thuật của nó không phải là những nốt nhạc cụ thể, cũng không phải là tâm hồn con người. Những nốt nhạc chẳng qua chỉ là vật liệu, còn tâm hồn con người chỉ là đối tượng để mô tả hay hướng tới. Những nốt nhạc là những thứ hoàn toàn vô cảm, còn tâm hồn con người là một thế giới chung. Nghệ thuật của một bản nhạc chính là cách thức riêng mà tác giả của nó, trong những thời điểm không bao giờ lặp lại, dưới tác động của vô số những tác nhân khách quan và chủ quan, sử dụng để liên kết các nốt nhạc vô cảm ấy lại với nhau. Cách thức riêng ấy khiến cho tác phẩm là duy nhất và không thể lặp lại, thậm chí ngay cả với chính tác giả của nó.
Cách thức riêng ấy cũng thể hiện rõ nhất tài năng, và - điều này còn quan trọng hơn - đời sống tinh thần, của tác giả. Bằng sức mạnh của nó, dưới hình thức vật chất, tác phẩm nghệ thuật tồn tại như là vật mang tải, đại diện và lưu giữ ký ức về đời sống tinh thần của tác giả. Thật chí lý khi người ta gọi tác phẩm nghệ thuật là những đứa con, những đứa con tinh thần.   
III.
Liệu chúng ta có thể mô tả quá trình sáng tạo nghệ thuật hay không? Theo tôi, và ít nhất là với riêng tôi, hoàn toàn có thể: viết văn thực chất là giải một bài toán tối ưu.
Một bài toán nhiều biến: Một hôm, vì những lý do khách quan và chủ quan nào đó, ngẫu nhiên nhưng cũng hoà trộn với ít nhiều xu hướng cá nhân, tôi đột nhiên muốn bày tỏ một triết lý, một câu chuyện, một tâm sự hay một cảm giác mơ hồ... Nói cách khác, tôi lờ mờ đặt ra một cái đích thẩm mỹ. Bài toán đặt ra là làm sao để đạt được cái đích đó. Kinh nghiệm, tri thức và trực giác ở thời điểm đó mách bảo tôi lựa chọn một hình thức: văn vần hay văn xuôi, dài hay ngắn. Giả thiết rằng vào thời điểm ấy tôi cảm thấy truyện ngắn, tôi sẽ có toàn quyền lựa chọn số lượng nhân vật cũng như đặc điểm của họ mà tôi cảm thấy là phù hợp nhất: nam hay nữ, đẹp hay xấu, trẻ hay già, sống ở thành thị hay nông thôn... Rồi tôi lại có thể chọn tiếp, cũng vẫn tuân theo chỉ dẫn của trí óc vào thời điểm đó: họ gặp nhau như thế nào, họ yêu nhau hay ghét nhau. Nếu họ yêu nhau, mối tình ấy may mắn hay trắc trở...
Chúng ta hãy thử phân tích kỹ hơn.
Trong cuộc sống của tất cả chúng ta đều có rất nhiều sự kiện không ngừng diễn ra. Chẳng hạn bạn đi chợ mua rau, đến nơi mới nhớ bỏ quên tiền, phải về lấy tiền, nhưng khi trở lại thì rau lại hết. Chuyện khác (tôi tình cờ đọc trong số báo trước mặt): hai thanh niên dùng xe máy cướp túi xách của một phụ nữ đi đường. Người phụ nữ giằng lại, hai bên co kéo. Xe đổ, người qua đường xúm lại, hai tên cướp đành bỏ xe chạy trốn. Vậy là cướp không xong lại còn mất xe. Những chuyện như thế thật nhiều: cưới xin, gặp gỡ, rồi chia ly, tai nạn... Có những điều may mắn, có những chuyện rủi ro, có những điều làm ta xúc động, có điều khiến ta buồn rầu, có điều lại khiến ta căm ghét... Các sự việc diễn ra theo trình tự thời gian, đó là những chuyện.
Khi bạn muốn chia xẻ những chuyện đó với người khác, bạn phải kể chuyện. Khi kể, bạn lựa chọn ngôn ngữ, sắp xếp các tình tiết để làm sao người nghe hiểu được nội dung và tính chất của sự việc. Toàn bộ các tình tiết được sắp xếp thành một trật tự như vậy, dưới dạng nói hoặc viết, làm thành một chuyện kể. Con người không ai giống ai, vì thế mỗi người kể chuyện một cách. Kết quả là với cùng một chuyện, người ta có thể có vô số chuyện kể khác nhau. Chuyện kể có hay hay không, ngoài nội dung, còn phụ thuộc vào cách kể. Điều này rất rõ khi bạn nghe kể chuyên tiếu lâm: cùng một chuyện nhưng có người kể ai cũng cười, trong khi người khác kể thì dù phải tự cù chúng ta vẫn không sao cười được.  Mục đích của việc kể chuyện là để truyền đạt lại nội dung và tính chất của sự việc.
Nhưng đôi khi người kể chuyện muốn qua câu chuyện để nói một điều gì khác, có thể là một triết lý sống, một cảm giác, hay một ấn tượng nào đó..., anh ta sẽ tìm cách thay đổi các tình tiết, các trật tự, các nhân vật..., nói nôm na là "bịa" thêm, sao cho thể hiện được điều mình muốn nói, thông qua hình tượng. Truyện được hình thành như thế, vì thế trong nhiều thứ tiếng người ta gọi truyện là tác phẩm hư cấu.
Dĩ nhiên, để điều mình muốn nói có sức thuyết phục, tác giả phải bịa sao "như thật". Anh ta phải miêu tả, phải luận giải, phải mở rộng khung cảnh diễn ra câu chuyện... Điều này càng cấp thiết khi viết, bởi lẽ người kể không có mặt, anh ta không thể sử dụng uy tín cá nhân, nét mặt, giọng nói, điệu bộ...để tăng sức mạnh cho câu chuyện của mình. Như vậy, đặc điểm quan trọng nhất của truyện là ở chỗ nó là sản phẩm của trí tuệ, chứ không phải là sự sao chép hiện thực. Trí tuệ ở đây cần được hiểu là tổng hợp mọi khả năng của đầu óc con người, trong đó có sự chi phối của tình cảm, học vấn, kinh nghiệm, thiên hướng cá nhân, tác động của ngoại cảnh và cả những yếu tố ngẫu nhiên. Trí tuệ của chúng ta không ngừng biến đổi, và ở trong mỗi khoảnh khắc, nó dẫn dắt chúng ta sáng tạo.
Sự khác nhau giữa chuyện kể truyện còn được bộc lộ ở quan hệ giữa nguyên nhân kết quả, giữa quá khứtương lai, mà nó thể hiện thông qua cách thức triển khai các sự kiện. Chuyện kể thường bắt đầu bằng nguyên nhân, nó không che giấu quá khứ và toàn bộ sự triển khai của nó là hướng tới hậu quả. Câu hỏi trung tâm của nó là: rồi sao nữa? Kết cục thế nào? Ngược lại, trong truyện, nguyên nhân mới là cái sẽ dần dần lộ ra trong quá trình triển khai tác phẩm. Điều này rất rõ trong truyện  trinh thám: phải đến cuối truyện người ta mới biết rõ hung thủ và động cơ của hắn.
Trên thực tế, đôi khi truyện cũng được viết dưới dạng chuyện kể. Đó là khi tác giả muốn khai thác vẻ chân thực thường có của chuyện kể để tăng thêm tính thuyết phục cho tác phẩm của mình. Ngay cả trong trường hợp đó nó vẫn là một giải pháp lựa chọn của trí tuệ.
IV.
Theo Borges, Edgar Allan Poe, trong một cuộc nói chuyện ở Boston, đã giải thích quá trình sáng tác bài thơ Con quạ nổi tiếng của ông như sau: Đầu tiên, ông nhận thấy rằng trong mỗi thứ tiếng đều có những từ hoặc cụm từ đặc biệt ấn tượng. Trong tiếng Anh đó là cụm từ never more, không bao giờ nữa. Ấn tượng mạnh sẽ càng mạnh thêm nếu được nhắc đi nhắc lại một cách hợp lý. Vậy là ông quyết định nhắc đi nhắc lại hai từ never more. Ai nhắc? Dĩ nhiên không phải là người, bởi vì như vậy sẽ gây phản cảm. Ông nghĩ đến một con chim. Chim gì? Vẹt không phù hợp, bởi nói như vẹt quá xa lạ đối với thơ. Vậy là ông chọn một con quạ.  Quạ màu gì? Dĩ nhiên là đen. Màu đen nổi bật trên màu gì? Dĩ nhiên là trắng. Và không phải màu trắng tầm thường, mà màu trắng của thạch cao. Ông quyết định: con quạ đen sẽ đậu trên vai một bức tượng thạch cao màu trắng. Trong thư viện.
Rồi ông tự hỏi: điều gì là đau buồn nhất? Chắc chắn đó là cái chết. Hơn nữa, cái chết của một cô gái. Một cô gái trẻ. Và đẹp. Nhất là cô gái trẻ đẹp ấy đang yêu. Vậy ai sẽ là người đau khổ? Không nghi ngờ gì nữa, đó là người yêu của nàng. Bài thơ đã ra đời như thế: Leonore ngồi bên một bức tượng trắng, giữa những quyển sách của chàng, đang thương khóc người yêu đã chết, để rồi một trận bão ném con quạ vào thư viện. Mỗi câu hỏi của chàng trai đều được con quạ đáp lại bằng cụm từ “never more”, không bao giờ nữa...
Tôi không biết liệu mình có mô tả đúng những gì Borges viết, liệu Borges có mô tả đúng những lời Poe kể, và đến lượt mình, liệu Poe có mô tả đúng những gì diễn ra trong quá trình sáng tác bài thơ nổi tiếng của ông hay không, nhưng có một điều chắc chắn: sự ra đời văn học hư cấu cũng đồng thời là sự lên ngôi của trí tuệ.
Chúng ta có thể thấy rất rõ điều đó trong những tác phẩm đầu tiên của văn học hư cấu Việt Nam như Thánh Tông di thảo hay Truyền kỳ mạn lục. Truyện Tây viên kỳ ngộ ký, chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, trong Truyền kỳ mạn lục, chẳng hạn. Truyện kể lại cuộc gặp gỡ của anh học trò Hà Nhân với hai cô gái đẹp tên là Liễu Nhu và Đào Hồng trong một trang trại bên đường. Sau những đêm ái ân vui vẻ, một hôm hai cô gái đột nhiên sụt sùi than khóc, mỗi người tặng một đôi hài và nói lời từ biệt: "Chúng em không may, đều mắc bệnh gió sương, khí xuân chưa về, mặt hoa dễ héo...". Đêm đó hai người đẹp không đến nữa và nửa đêm trời nổi cơn dông. Hôm sau Hà Nhân đến trại Tây, chỉ thấy "đào liễu xơ xác tơi bời, lá trút đầy vườn, tơ vương khắp dậu". Hà Nhân chợt hiểu bấy nay mình đánh bạn với hồn hoa.
Ai cũng có thể thấy rằng hai cái tên Liễu Nhu và Đào Hồng đóng vai trò quyết định trong tác phẩm xuất sắc này. Tôi tin rằng nó chính là điểm xuất phát của Nguyễn Dữ và một quá trình cân nhắc tương tự như sự cân nhắc của Edgar Allan Poe cũng đã diễn ra trong quá trình sáng tác của ông. Trên thực tế, rất nhiều nhà văn bắt đầu sáng tác từ một “ý tưởng”, một “ý đồ” hay thậm chí từ một chi tiết ngồ ngộ nào đó. Võ Thị Xuân Hà thú thật với tôi rằng đôi khi chị viết cả một truyện ngắn, nói đúng hơn, chị “bịa” ra hẳn một câu chuyện, chỉ để đưa vào một câu nói có vẻ rất vớ vẩn mà chị chẳng hiểu sao lại thích. 
Khả năng giải những bài toán khác nhau và khác mình chính là phẩm chất của một nghệ sĩ đích thực. Một bác nông dân có thể dễ dàng thể hiện vai một bác nông dân, nhất là những vai "quần chúng": công việc của bác là không làm gì khác ngoài những điều bác vẫn thường làm. Nhưng để trở thành một diễn viên chuyên nghiệp, bác nông dân ấy phải có khả năng đóng được những vai khác. Tôi xin lưu ý một hiện tượng tương tự trong văn học: hiện tượng một bài. Rất nhiều người viết chỉ loé lên với một bài thơ hay một truyện ngắn rồi hoàn toàn biến mất. Thật ra, rất nhiều người trong số họ vẫn tiếp tục viết, nhưng họ lặp lại, dưới một hình thức tồi hơn, cái tia sáng đầu tiên ấy. Những tác giả một bài ấy, về bản chất, không bao giờ trở thành nhà văn chuyên nghiệp.
V.
Viết văn thực chất là giải một bài toán tối ưu. Chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng việc giải bài toán này vô cùng biến hoá, ngẫu hứng và cũng vô cùng may rủi. Bản chất của tất cả quá trình này giống như công việc của những người đi rừng: họ vừa đi vừa mở lối để tìm con đường tối ưu để tới đích cuối cùng. Và cũng như người đi rừng, quyết định của nhà văn không phải lúc nào cũng đúng. Đôi khi anh ta bị lạc. Đôi khi anh ta sa đà vào việc săn thú, tìm cây quả hay thậm chí bị cuốn hút bởi những ý thích đỏng đảnh nhất thời. Đôi khi anh ta cũng nản chí và hoảng sợ, cảm thấy đích phải đến quá xa mà mình lại quá nhỏ bé trước cái mênh mông đáng sợ của rừng già. Và trong không ít trường hợp, khi đã đi được nửa đường, nhà văn nhận thấy mình đã chọn nhầm đích hoặc đột nhiên muốn chọn một cái đích khác. Và thế là tác phẩm ra đời không còn giống như những gì anh ta hình dung khi mới bắt đầu.
Mười năm rồi tôi là người đi rừng như thế. Những cuộc đi rừng, với tính chất phiêu lưu và bí hiểm của nó, luôn luôn hấp dẫn lúc ta xốc ba lô lên vai. Những càng đi, khó khăn, nguy hiểm càng nhiều. Đã nhiều lần tôi bỏ cuộc. Đã nhiều lần tôi lạc đường. Đã nhiều lần tôi chọn nhầm đích. Nhiều lần tôi đến đích, nhưng hoá ra đó chỉ là một xứ xở khô cằn mà những người đi trước đã đến, đã khai thác hết những gì có thể khai thác được và đã bỏ đi. Thật buồn là kinh nghiệm, nỗi lo sợ và thói lười biếng luôn có xu hướng dẫn ta đến những nơi như thế. Thật hạnh phúc cho kẻ nào giải được bài toán: biết chọn đích phải đến, đến được nơi đã chọn nơi có mỏ vàng ròng. Kẻ đó chính là thiên tài.
 
VI.
 
Mười năm rồi tôi đi rừng và nghĩ về những chuyến đi của mình. Rất nhiều người phản đối tôi. Nhưng rồi tôi may mắn được gặp Edgar Allan Poe. "Nghệ thuật là sản phẩm của trí tuệ" - Poe nói thế.
Cuộc gặp gỡ ấy với tôi là một niềm hạnh phúc lớn lao. Poe, con người kỳ lạ của những truyện ngắn và bài thơ kỳ lạ, đã động viên và ủng hộ tôi từ hàng thế kỷ trước lúc tôi cất tiếng chào đời.

Tác giả bài viết: NGÔ TỰ LẬP

Nguồn tin: TỪ TÁC GIẢ

Các Bài viết khác