NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

MỘT THỜI VÀ MÃI MÃI

( 16-05-2017 - 06:57 AM ) - Lượt xem: 18

(Ký ức của một người Sài Gòn về ngày 30-04-1975)

Trước ngày 30-4
Sống tại một xóm công chức của chính quyền Sài Gòn trong những ngày cuối tháng Tư 1975, nhà nào cũng tiêu điều xơ xác. Cái ăn cái mặc phải tính toán từng li từng tí, điện thắp sáng chập chờn vì ngày đó còn xài điện 110 volt, nước xài thì ra cái giếng đầu xóm vục gàu xuống múc gánh về nhà. Những người lớn như ba tôi - một hạ sĩ quan cảnh sát - rất lo âu cho số phận của mình và chuẩn bị tinh thần đối diện với bên cách mạng. Biết ông chú bên nhà đã chuẩn bị may cờ xanh-đỏ-sao vàng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, chúng tôi thầm nghĩ ông này thật nhanh chóng thức thời (vậy mà sau đó ông ta cũng bị bắt đi học tập tới 5 năm, rồi thì được đi định cư theo chương trình HO của Mỹ).
Từ ngày 28 đến 30-4, không khí Sài Gòn vô cùng hoảng loạn. Tiếng pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhất nghe rất gần, các cơ quan lo di tản, người đi bằng máy bay, người đi theo tàu hải quân ra bến Bạch Đằng chờ ra khơi với hy vọng Hạm đội 7 của Mỹ vớt, trong đó có người em họ tôi. Dòng người lánh nạn từ miền Trung đổ về đông nghẹt vì các tỉnh miền ngoài được giải phóng trước Sài Gòn. Vì sao đồng bào không ở yên tại chỗ để chào đón cách mạng mà tràn vào Sài Gòn làm gì cho chật phố phường, lại phải chịu chung cảnh dầu sôi lửa bỏng? Thì ra lúc đó ai cũng sợ sống chung với cộng sản do quá nhiều tin đồn về chuyện “tắm máu”, dù Sài Gòn cũng gần mất đến nơi khi phòng tuyến Xuân Lộc đã vỡ và các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã tháo chạy. Trước khi bỏ nước ra đi, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn lên tiếng đổ lỗi cho người Mỹ, rồi uất nghẹn rời Sài Gòn để lại dân chúng như rắn mất đầu không còn niềm tin với bất cứ lãnh đạo nào trong giờ phút Sài Gòn hấp hối. Tại những xóm nước đen khu vực giáp với Phú Nhuận và Quận 1 bắt đầu xuất hiện các ông bà cách mạng nằm vùng với quần áo đen và khăn rằn. Trước đây họ đã ém quân tại cơ sở mà mình không biết, giờ đây họ bắt đầu hiện diện trong lực lượng giải phóng đang tiến vào đô thành (trong đó có cả những kẻ chưa từng nằm vùng nhưng chớp lấy cơ hội để sắm vai “cán bộ cách mạng”- được mệnh danh là “cách mạng ba mươi”).
Ngày 29 giữa tiếng bom rơi đạn lạc khắp Sài Gòn, ba tôi cho đào một căn hầm trú đạn ngay sát một căn nhà bỏ trống và bỏ xuống dưới hầm giấy tờ, sắc áo, quân phục của ông và anh chị em chúng tôi, kể cả hình ảnh, bằng cấp có dính líu tới nước Mỹ; báo hại tôi còn kịp giữ lại cái chứng chỉ tiếng Anh do Hội Việt Mỹ cấp vì tôi nghĩ thời nào cũng cần tri thức, cho dù anh theo chế độ nào! Nhưng vài hôm sau đó cái hầm trú ẩn của gia đình tôi đã lấp lại vĩnh viễn như một sự đoạn tuyệt với quá khứ kể từ ngày 30-4-1975. Nếu tôi nhớ không lầm, trong một thời điểm trước sau ngày này mình còn theo chân một người bạn đi trên cầu Rạch Chiếc để tìm tung tích anh nó, còn lùng sục vào các quân y viện để may ra có thấy anh nó không; nhưng anh ấy đã lên chiếc máy bay bị rớt ngay sau khi cất cánh ở Tân Sơn Nhất, chỉ tìm được tin tức sau mấy mươi năm. Ôi cuộc chiến tranh vô nghĩa của những người chung một dòng máu Việt Nam nhưng khác nhau về ý thức hệ!
Sau 30-4
Ngoài đường tôi thấy quần áo, quân phục, ba lô của những người lính VNCH vứt văng long lóc, không ai buồn nhìn ngó hoặc dám nhặt lên. Gia đình tôi cũng vứt hết những thứ đó vào thùng rác, vì “sợ nhất là mấy anh ‘cách mạng ba mươi’ kiếm chuyện, nhất là những đứa đáng tuổi con mình” - ba tôi nói. Những ngày sau đó, sách vở, trường học của anh chị em tôi trở nên vô nghĩa vì ba má còn đầu óc đâu mà khuyến khích chúng tôi đến trường, chỉ lo kiếm cơm bỏ bụng, nhất là vì còn những miệng ăn của mấy đứa em nhỏ dại. Mấy ngày sau giải phóng là trường kỳ ăn rau muống luộc và con ruốc khô; những thức ăn này trước đây mấy anh chị em tôi ít khi đụng tới vì có cá thịt, rau củ khá đầy đủ do đồng lương công chức của ba bảo đảm. Má tôi bắt đầu chạy chợ bán từng bó rau, củ khoai; chị em tôi thì lãnh bánh bán trước đầu xóm, còn ba tôi lãnh hàng nông cụ bán kiếm từng đồng lẻ trước đường Phan Đăng Lưu. Có mấy anh hàng xóm ra đường bơm xe đạp, sửa xe đạp, quần áo đen nhẻm dính đầy dầu nhớt. Ngoài đường phố vắng tanh, những người dính líu tới chế độ cũ thì đã ở trong trại học tập, vợ con họ ở nhà chạy chợ, có người còn liều mạng leo tàu chở hàng lậu, có người trong xóm nhảy tàu trượt chân bị xe lửa cán chết. Ba tôi cũng bị bắt đi học tập, nhưng may là chỉ ít ngày sau ông được thả về.
Tôi nhớ cô Sáu cạnh nhà hay ghen tuông cằn nhằn ông chồng nhưng rất thương em trai tôi. Mỗi lần thấy em tôi bị ba đánh vì trốn học, cô mở cửa nhà sau cho nó lẻn vào trốn đòn roi; vậy mà không biết bây giờ cô ở đâu? Suốt mấy mươi năm cho đến khi ba má tôi đã đi xa, tôi vẫn không biết cô trôi nổi tận phương nào và nghe nói chồng con cô đã chết hết vì mưu sinh hoặc vì tai nạn. Biết rằng có những cuộc chia ly mãi mãi khó mong ngày gặp lại, lòng tôi đau đáu nhớ thương những kỷ niệm ngày cũ, tuy chiến tranh mất mát nhưng cuộc sống vẫn còn một chút bình yên êm ấm trong tâm hồn. Từ ngày giải phóng không còn ai quan tâm đến ai, ai chết mặc kệ vì mọi người ai cũng khổ như nhau. Nhà nào có người thân đi cách mạng về thì tưng bừng đón rước, mở tiệc ăn mừng cùng bộ đội giải phóng ra vào tấp nập. Còn lại là không khí buồn thiu, nhà nhà đóng cửa ra đường kiếm ăn. Riêng tôi cũng đành dở dang học Luật, có ngày cùng đứa bạn gái lang thang khu vực Lăng Cha Cả đi bán khoai lang luộc, mà có bán hết hàng đâu vì nét mặt hai chị em khờ ngắt, lại không biết chào mời, đành nhìn ngắm núi hàng chợ trời bày bán ở đây, không thiếu một thứ gì của Sài Gòn tư bản, từ cái đồng hồ Nhật, Thụy Sĩ đến tủ bàn ghế, máy quay đĩa Akai, đĩa hát, xe đạp, quần áo, dụng cụ nhà bếp… Thứ gì cũng còn tốt, rất hào nhoáng vì người Sài Gòn không cần dùng nữa cho thời buổi cần tiền để mua gạo và cần tiền để vào trại thăm cha chú của sắp nhỏ đang học tập cải tạo.
Ôm rổ khoai lang bán ế thất thểu ra về, bụng hai chị em đói meo mà không dám mua món gì để ăn. Sau đó là những ngày nộp đơn đi xin việc làm, mà với lý lịch lem luốc như vậy anh em tôi không tài nào kiếm nổi một chân nhà nước. Thôi thì đành rau cháo qua ngày, bán dần hết đồ đạc trong nhà và chuẩn bị ra đi theo lời kêu gọi của mấy ông bà lãnh đạo phường: hoặc là đi kinh tế mới theo chỉ định của địa phương, hoặc ai có quê thì đăng ký hồi hương.
Và ba tôi đã quyết định rời Sài Gòn trở về quê hương tại đất Gò Công heo hút trong sự bất lực của toàn thể gia đình. Quyết định đó đã chuyển đổi cuộc đời anh chị em tôi sang một hướng khác. Trong sự an bài của số phận tăm tối buổi giao thời, chúng tôi phải cúi đầu im lặng sống vì miếng cơm manh áo. Người ta phải quần quật kiếm ăn trước khi nói đến lý tưởng, nên phải nhìn thế sự bằng con mắt bàng quan, miễn sao cái bụng no. Nhưng nói thế cũng không thuyết phục; bởi vì trong đêm dài đói khát do hậu quả của chiến tranh và sự phân biệt đối xử, nhiều bè bạn họ hàng của chúng tôi cũng như nhiều người khác đã âm thầm tìm miền đất hứa nơi hải ngoại. Nào ai muốn rời bỏ quê hương, ngay cả trong chiến tranh đánh nhau thừa chết thiếu sống người ta còn nặng lòng ở lại, cớ sao hòa bình rồi lại phải ra đi sống tha hương? Câu hỏi này chắc chắn sẽ có câu trả lời chính xác.
Sáu năm lưu lại nơi miền quê nắng cháy, gia đình tôi đã hứng chịu hết những ái ố của cuộc đời mà không có chữ hỉ, chứng kiến bao cuộc chia ly của những người âm thầm vượt biển, có người tới được bến bờ nhưng nhiều lắm những người nằm lại giữa biển khơi. Thế rồi gia đình tôi đã gắng gượng trở lại Sài Gòn với gia tài tả tơi là chiếc xe đạp và cái bàn gỗ để bán vé số mưu sinh. Tổng cộng gia đình tôi đã chuyển chỗ ở 9 lần, khi thì ở thuê, khi ở nhà chùa, khi ở nhà thờ… Có khi thuê nhầm nhà chứa gái mãi dâm, nửa đêm công an đến khám nhà thấy mấy chị em hiền lành lương thiện nên chỉ khuyến cáo phải về quê xin tạm trú mới cho tiếp tục ở; có lần phải ra trạm xe buýt ngủ đại vì không nhà…
Cuộc sống tiếp diễn
Những năm 80 ngoài lề đường Sài Gòn vẫn diễn ra cảnh mua bán đồ cũ tấp nập. Có lần đi ngang qua đường Phan Đăng Lưu thấy khu nhà cất theo kiểu Pháp góc đường Thích Quảng Đức ngày nay bày bán chai lọ thuỷ tinh rất đẹp, có cả những lon guigoz sữa hộp bằng thiếc rất tiện dụng, nhưng tôi cũng chẳng có tiền mua lại. Quần áo cũ bán xôn thì không nhiều như ngày nay và giá cả cũng cao hơn, vì đó là loại vật dụng vô cùng quý đương thời. Bọn ăn trộm vào nhà tôi ở quê đã lấy sạch quần áo, nên má và chị em tôi phải mặc quần áo rách, khi nào ra chợ mới được mặc một cái quần lành duy nhất còn lại.
Làm sao quên được hồi ức đau buồn ấy, bởi khi hòa bình trở lại thì anh chị em tôi đã trường thành, biết suy nghĩ về những biến cố của gia đình và dân tộc. Có những cuộc chia ly mãi mãi mà ngần này tuổi rồi chúng tôi vẫn nhìn về quá khứ xa xăm mong tìm lại chút hơi ấm ngày xưa, chắt chiu từng kỷ niệm thuở thiếu thời sống yên ổn trong một xã hội nền nếp trật tự, không đầy rẫy tệ nạn xã hội với giao thông hỗn loạn và đạo đức suy đồi như hiện thực hôm nay.
Đành đặt hy vọng vào lớp cháu con sẽ không lặp lại hình ảnh bơ vơ không nhà, sống trong cảnh cùng cực đói nghèo lại thiếu cả niềm tin mà cha mẹ, cô chú bác của chúng đã trải qua trong một giai đoạn lịch sử quá đau thương không ai muốn nhìn lại.

PHƯƠNG DUNG

Các Bài viết khác