NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-CHƯƠNG IV, phần 3

( 12-02-2014 - 09:00 AM ) - Lượt xem: 542

Chưa đầy ba tháng sau khi nhập học, chúng tôi được dự buổi lễ “ Quốc tế Hiến chương các Nhà Giáo” lần đầu tiên được tổ chức trên toàn miền Bắc vào ngày 20-11-1958. Sáng hôm ấy, một sân khấu được dựng lên giữa sân trường để làm lễ, nổi bật với hình chiếc huy hiệu của Liên hiệp Quốc tế các Công đoàn Giáo dục được phóng to, với hình một bó đuốc có ngọn lửa cháy đỏ trên nền cuốn sách trắng in đậm 4 chữ cái FISE (tên viết tắt bằng tiếng Pháp của tổ chức đó)

3. Mái trường thân yêu

 

Kết thúc năm học lớp 4, tôi đã “tốt nghiệp” cấp I tại trường Hưng Đạo. Mặc dù chỉ xếp hạng 26 trong lớp, kết quả kỳ thi hết cấp của tôi lại cao với tổng số 26,5 điểm của ba môn thi. Trong kỳ thi chuyển cấp, tôi lóng ngóng làm rơi mực vào áo thành một mảng đen to bằng quả cam, nhưng vẫn làm bài đủ và đúng. Rời khỏi ngôi trường cấp I nhỏ bé này, tôi nhớ mãi thầy Phạm Huy Tăng đáng kính, hai bạn thân Nguyễn Văn Hưng và Lã Thanh Hải, cùng một số bạn khác luôn gần gũi với mình trong lớp như Hà Giới Hưng (luôn nói năng nhỏ nhẹ), Đỗ Quang Sinh (người đã bảo tôi bịa ra hình thù các hòn đảo trong tranh), Đoàn Văn Lễ (rất thân với Sinh), Phạm Quang Anh (người bảo bịa như thật mới tài), Nguyễn Văn Hạo (đối thủ đáng nể của tôi về vẽ)…

 

Không nhớ gì về ngày kết thúc năm học của trường mình, nhưng tôi lại nhớ rất kỹ Lễ Bế giảng niên khóa 1957-1958 của trường Ngô Quyền, được tổ chức chung với ngày Hội truyền thống 20-5 vào buổi tối ngay tại sân trường. Một sân khấu được dựng bằng bàn ghế ghép lại, với đủ phông màn, máy phóng thanh và đèn chiếu sáng dùng cho buổi lễ. Phía trước các dãy nhà và trên một số cây có treo những dãy đèn màu rất đẹp.  Mọi băng ghế trong lớp đều được khiêng ra làm chỗ ngồi cho khán giả. Ngồi phía trước là các thầy cô cùng quý vị phụ huynh, phía sau là toàn thể học sinh trong trường.

 

Sau bài diễn văn bế giảng và mừng ngày Hội Truyền thống của Hiệu trưởng tức ba tôi, học sinh các lớp lần lượt lên lãnh các phần thưởng về thành tích học tập. Rồi các giải thưởng của kỳ thi vẽ và kỳ thi thơ được công bố. Đoạt giải nhất về vẽ là một nam sinh lớp 10 với bức tranh sơn dầu nhan đề “Mái trường” được đưa ra trình bày trên sân khấu. Bức tranh thể hiện một góc mái trường ngói đỏ đã ngả màu trên mảng tường vôi vàng nhạt, nổi bật lên một vì kèo màu nâu bằng gỗ hình chữ A được chạm khắc đơn giản gắn vào tường để nâng đỡ mái dưới bầu trời xanh. Khán giả nhiệt liệt hoan hô khi tác giả tuyên bố kính tặng tác phẩm đó cho nhà trường, để ghi ơn các thầy cô đã giáo dục mình nên người. Đoạt giải nhất về thơ là tác giả bài thơ “Chiếc xe Scoda”:

 

Mỗi lần tôi đi học

Lại gặp chiếc Scoda

Các đồng chí chuyên gia

Đến giờ vào bệnh viện.

Các đồng chí từ muôn trùng xa đến

Giúp nước tôi trị bệnh cứu người

Mà trên môi luôn nở nụ cười

Qua cửa kính nhìn tôi trìu mến…

 

Nghe tác giả đọc thơ, tôi hình dung ra ngay chiếc ô tô Scoda sơn màu trắng-đỏ rất to và đẹp luôn chở các bác sĩ  Tiệp Khắc đi làm tại bệnh viện  Hữu nghị Việt-Tiệp mới khai trương tại thành phố.

 

Tiếp theo, những tiết mục văn nghệ của tất cả các lớp lần lượt lên trình diễn: đồng ca, đơn ca, múa, kịch…Cuối cùng là màn hợp ca của học sinh lớp 10 sắp từ biệt mái trường. Khi tấm màn nhung đỏ được kéo ra, trên sân khấu xuất hiện một dàn đồng ca hoành tráng với mấy chục chàng trai tuấn tú mặc sơ mi trắng quần âu vàng đứng sau một hàng dài các cô gái xinh đẹp mặc quần trắng và áo dài rực rỡ sắc màu. Ngồi trước họ là ban nhạc gồm 2 người chơi accordeon và 2 người kéo violon. Nhạc trưởng mặc complet thắt cravat bước ra cúi chào khán giả rồi quay lại giơ đũa chỉ huy. Tiếng đàn vang lên khúc dạo đầu bản “Trường ca sông Lô” của Văn Cao. Giọng trong trẻo của tốp nữ vút cao miêu tả dòng sông êm trôi giữa núi rừng Việt Bắc, rồi toàn thể dàn đồng ca 3 bè hát vang về trận chiến dữ dội và  chiến công oanh liệt của đoàn chiến sĩ oai hùng:

 

Đây Vonga, đây Dương Tử, đây Sông Lô

Đây sóng căm hờn vút cao

Sóng lấp lánh vàng sao, đoàn chiến sĩ sông Lô

Chiến sĩ sông Lô lẫy lừng chiến công ca rằng…

 

Một tràng pháo tay vang dội khắp sân trường để tán thưởng bài ca vừa kết thúc. Tôi nhìn thấy những đôi môi tươi cười và những ánh mắt long lanh hạnh phúc của mỗi người trong dàn đồng ca ấy. Và đây, bản “Trường chinh ca” của Lương Ngọc Trác  bắt đầu:

Có bao người hăng hái băng mình trong đêm mưa rét

Có bao người hăng hái băng mình trong cát nắng thiêu

Ta bước lên đi mau qua con đường lóa nắng sớm

Ta bước lên đi băng qua bao rừng sâu âm u khi chiều rơi…

 

Các bè hát đuổi nhau dồn dập để miêu tả cuộc trường chinh hùng tráng, bỗng lắng xuống khi tiếng lĩnh xướng gợi lại những tổn thất hy sinh, rồi tất cả các bè lại vang lên khi đến khúc khải hoàn của con đường trường chinh ấy. Tôi bỗng nhận ra rằng các chị đứng trên sân khấu vừa hát lại vừa khóc! Tiếng pháo tay bùng lên vang dội, ba tôi bước lên sân khấu để cảm ơn dàn đồng ca, nói lời tạm biệt các học sinh sắp ra trường và gửi họ những lời chúc tốt đẹp, rồi vỗ vai mấy chị vẫn đang giàn giụa nước mắt. Qua giai điệu và ca từ đầy cảm xúc của bản “Trường chinh ca”, các chị (và cả các anh) đã khóc để từ biệt mái trường thân yêu, chia tay  các thầy cô kính mến và biệt ly với tuổi học sinh đẹp tươi, chuẩn bị bước vào đời như một cuộc trường chinh mới. Ôi những giọi nước mắt trong sáng ấy đáng quý biết nhường nào!

 

 

Má tôi (đứng thứ hai từ trái qua, ở hàng thứ hai) trong Hội đồng Giáo viên Trường Phổ thông Cấp I Nguyễn Tri Phương, Hải Phòng; người đứng thứ hai hàng đầu dắt theo bé gái là cô Bùi Kim Dung, sau này trở thành bạn học của tôi ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

 

Được nghỉ hè, hai anh em tôi bắt đầu tập chơi bóng bàn (lúc ấy còn hay gọi là “đánh ping pong”). Tôi mua được một quả ping pong Trung Quốc nhãn hiệu “Song Hỷ”, nhưng không đủ tiền và cũng không thấy ở đâu có bán “ra két” (hồi ấy chiếc vợt bóng bàn còn được gọi bằng tiếng Tây như vậy).  May là kiếm được mấy tấm bìa các tông rất dày và cứng ở một xó nào đó trong trường, tôi liền lấy dao cắt chúng thành mấy chiếc ra két để đánh bóng. Vào một lớp học trống vắng, chúng tôi khiêng bộ bàn ghế giáo viên đang đặt trên chiếc bục gỗ hình chữ nhật ra hành lang, rồi đẩy chiếc bục ra chỗ trống để làm bàn bóng. Đặt hai viên gạch ở hai bên mép tại khoảng chính giữa bục, rồi lấy một thanh gỗ gác mỗi đầu của nó lên một viên gạch ngang qua giữa bục để làm lưới, thế là hai anh em tôi có bàn chơi bóng để bắt đầu tập luyện. Vài ngày sau, cả Hưng, Loan và Công cũng đến chơi bóng cùng chúng tôi (chơi xong lại xếp mọi vật vào chỗ cũ).

 

Một hôm, tôi rủ em Hùng đi đến một nơi được mọi người gọi là núi Đèo. Ăn sáng xong, chúng tôi xúc cơm nguội và muối vừng gói vào giấy báo rồi cho vào túi dết. Mỗi đứa đeo một túi, chúng tôi đi bộ ra bến Bính để qua phà vượt sông Cấm ở đây. Thấy mọi người mua vé qua phà, tôi hoảng sợ vì mình không có tiền, nhưng rất may là mấy chú gác phà vẫn cho trẻ con đi mà không cần vé. Vừa qua sông, chúng tôi được một người chỉ cho thấy một ngọn núi phía chân trời và bảo từ đây đến đó đường dài 6 km. Thế là cứ nhìn thẳng về phía ngọn núi, hai anh em tôi hăm hở bước nhanh trên con đường nhựa nhỏ đã cũ. Quả nhiên con đường đó dẫn đến núi Đèo, một quả núi đất chen với đá, tương tự như những núi đồi ở ấp Hà Thanh mà tôi vẫn còn nhớ. Hai anh em hì hục leo lên tận đỉnh núi, và cảm thấy rất vui sướng khi đứng  đây có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn với đồng ruộng bát ngát xanh tươi, thấy cả dòng sông Cấm phía xa có những chiếc tàu biển lớn ở “bến Sáu kho rộn rã còi tàu” và “ nhà máy xi măng ngút trời khói tỏa” với những ống khói cao ngất vươn lên trời. Quang cảnh hùng vĩ ấy khiến tôi cảm thấy yêu quý và tự hào về thành phố Hải Phòng. Lấy cơm nguội ra ăn ngon lành, rồi chúng tôi đi tìm xem có thứ gì mang về được không. Hóa ra núi này cũng có những bãi cỏ, những bụi hoa sim và hoa mua hệt như ở ấp. Tôi nhặt được mấy hòn đá tròn nhẵn có vân đẹp mang về cho má dùng để kỳ cọ khi tắm rửa, Hùng còn tìm được một hòn đá vuông phẳng và ráp, có thể dùng để mài dao. Cho tất cả những gì tìm được vào túi, chúng tôi xuống núi trở về. Tôi có cảm giác là lúc về đường xa hơn lúc đi, chẳng biết khi nào mới đến nhà. Khi đi, Hùng luôn bước nhanh khiến tôi phải đuổi theo nó, nhưng bây giờ nó luôn tụt lại sau khiến tôi phải đứng lại chờ. Thì ra nó đeo cái túi quá nặng vì có hòn đá mài, nên không đi nhanh được. Chúng tôi đổi túi cho nhau và về đến nhà khi đã mệt mỏi rã rời.

 

 

Mấy hôm sau, ba đưa cả gia đình chúng tôi đi nghỉ mát tại Đồ Sơn, một thị trấn ven biển cách Hải Phòng 24 km. Cả nhà được ngồi với nhau trong một chiếc ô tô con nhãn hiệu Renault do chính ba cầm lái để đi đến một ngôi biệt thự hai tầng ẩn mình trong rừng phi lao bên bờ biển. Thị trấn nghỉ mát này được chia thành 3 khu rõ rệt: ngoài cùng là khu “Đồ Sơn phố” dành cho các tầng lớp nhân dân nên luôn luôn đông vui náo nhiệt; trong cùng là khu “Pa gốt đông” có phong cảnh rất đẹp nhưng luôn luôn tĩnh lặng, dành cho cán bộ cao cấp và các chuyên gia nước ngoài; ở giữa là khu “Trung tâm” không quá náo nhiệt mà cũng không quá tĩnh lặng dành cho các cán bộ trung cấp, trong đó có ba tôi. Giữa ranh giới các khu đều có trạm gác, nhân dân ở khu ngoài không được vào hai khu trong, nhưng cán bộ và chuyên gia ở hai khu trong lại được thoải mái đi lại và tắm ở chỗ nào mình thích. Lần đầu tiên được sống trong một ngôi biệt thự, tôi nhanh chóng nhận ra sự sang trọng và đầy đủ tiện nghi của nó. Nếu như ở các nhà trong trường Ngô Quyền, mọi người đều phải dùng chung dãy phòng vệ sinh công cộng với các hố xí thùng, thì ở đây ngay trong nhà đã có hố xí máy để giội nước trôi phân. Nếu như ở nhà má phải đưa anh em tôi ra vòi nước công cộng của trường để tắm rửa và giặt giũ, thì ở đây có sẵn vòi nước máy ở phòng tắm trong nhà. Nếu như ở trong trường má phải nấu nhờ ở cái bếp nhỏ xíu của bác Quý, thì ở đây có nhà bếp riêng phục vụ cán bộ đi nghỉ mát, mỗi bữa ăn chỉ việc xách cặp lồng đến đó lấy cơm và thức ăn mang về. Đến bữa cơm, cả nhà quây quần bên chiếc bàn ăn đặt ở hành lang trên gác, vừa hưởng gió mát từ biển thổi vào, vừa thưởng thức những món rất ngon mà ngày thường không được ăn. Bãi biển Đồ Sơn đẹp chẳng kém gì Sầm Sơn, mặc dù nước biển ở đây không được trong xanh như ở trong đó. Khi ấy bụng má rất to vì có mang em bé, nên ba má ít khi xuống tắm, mà thường ngồi trên bãi cát xem hai anh em tôi thỏa chí vẫy vùng dưới biển với chiếc phao cao su vốn là săm ô tô bơm căng, chứ không phải với các ống bương như hồi ở Sầm Sơn.

 

Trở về sau một tuần nghỉ mát, Chúng tôi được mọi người khen là béo khỏe lên rất nhiều. Chỉ ít lâu sau, trong một ngày ba đang bận họp ở Hà Nội, má tắm gội sạch sẽ rồi bảo tôi xách cặp lồng đi lấy cơm tập thể về ngay cho má kịp ăn để đi đẻ em bé. Khi tôi mang cơm về thì đã thấy bác Trâm, một nữ đồng nghiệp của má, đang dìu má đến bên một chiếc xích lô. Người ngồi trên yên xe xích lô lắc đầu xua tay bảo không chở người đi đẻ. Má liền bảo rằng sẽ trả đủ 3000đ; thế là ông ta lập tức nhảy xuống hạ thấp xe cho hai bà bước lên. Má gọi tôi lại, dặn phải trông nhà cho cẩn thận để má đi đẻ. Tôi trao cặp lồng cho bác Trâm rồi nhìn theo chiếc xích lô chở hai người ra khỏi cổng trường. Ba hôm sau, má mang về cho tôi một đứa em trai nữa. Má kể rằng may có bác Trâm đến thăm bất ngờ kịp đưa má đi bệnh viện Hữu Nghị Việt –Tiệp, nếu không có lẽ đã đẻ rớt ở nhà. Kỳ này đẻ rất dễ, lại được bà bác sĩ Tiệp Khắc chăm sóc tận tình, nên cả mẹ và con đều rất khỏe. Tôi thầm nghĩ rất có thể một “đồng chí chuyên gia” tươi cười sau cửa kính chiếc xe Scoda đã hộ sinh cho má! Qua mấy lần sinh nở, má tôi tin chắc rằng mình luôn được “quý nhân phù trợ” mỗi khi lâm bồn. Thằng em mới của tôi khi ra đời vào ngày 28-6 (nhằm ngày 12 tháng Năm năm Mậu Tuất), chỉ cân nặng 2,8 kg và được ba đặt tên là Lê Quốc Dũng. Má bảo rằng số nó sẽ rất may mắn, vì sinh năm con chó nhưng vào tháng con ngựa. Ngựa “bọc” chó thì tha hồ rộng rãi! Do quá bận vì có thêm em bé, ba má tôi phải nuôi một người giúp việc là bà Mùi. Cũng như bà Thường trước đây, bà Mùi đã lớn tuổi nên còn nhuộm răng đen và thường vấn khăn, được má giao trông nom em bé và phụ giúp nấu ăn.

 

Một hôm, cậu Bính từ Hà Nội đến thăm ba má tôi và gửi tặng mấy chiếc vé cho cả nhà đi xem vở kịch “ Liuba” của tác giả Liên Xô Kônxtantin Trênep , do Đoàn kịch nói Trung ương biểu diễn tại Nhà hát Nhân dân Hải Phòng mới khánh thành và chính cậu là người thiết kế mỹ thuật. Vở kịch kể rất hay về một nữ chiến sĩ cách mạng của Hồng quân nhưng lại có chồng là một sĩ quan chỉ huy quân Bạch vệ trong thời nội chiến Nga, và nữ chiến sĩ ấy đã ngả theo lý tưởng cách mạng mà từ bỏ người chồng thù địch về tư tưởng. Nhờ dịp này, tôi mới biết thêm tin tức họ hàng ở Hà Nội. Cậu Bính sống trong căn gác xép trên sân thượng nhà số 6 Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã cưới vợ là một nữ y sĩ bạn dì Quỳ và đã có một con trai đặt tên là Phùng Quốc Trí. Gia đình dì Dung về ở tại Khu tập thể Bờ sông, có thêm một con gái là Lê Mai Anh cùng tuổi với Trí; còn dì Quỳ vẫn sống độc thân trong khu tập thể Văn công ở Mai Dịch.

 

Cùng thời gian này, các đoàn nghệ thuật tư nhân đều được  tiến hành “Ba cải tạo” (cải tạo tư tưởng, tổ chức và tiết mục) để chuyển thành các doanh nghiệp tập thể rồi trở thành các đoàn nghệ thuật quốc doanh. Các đoàn cải lương Kim Chung và Kim Phụng của tư nhân được cải tạo thành một đoàn cải lương tập thể và một đoàn ca kịch dân doanh, sau đó lần lượt trở thành đoàn cải lương Chuông Vàng và đoàn cải lương Kim Phụng đều của nhà nước; đoàn xiếc tư nhân danh tiếng Tạ Duy Hiển chuyển thành đoàn xiếc tập thể Thống Nhất, rồi trở thành Đoàn xiếc Nhân dân Trung Ương của nhà nước; đoàn cải lương tư nhân Việt Hồng ở Hải Phòng cũng đươc cải tạo thành đoàn nghệ thuật của thành phố. Từ đó, nền văn nghệ quốc doanh đã được xác lập trên toàn miền Bắc: trong mỗi đoàn nghệ thuật đều có chi bộ hay đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam cùng với Đoàn thanh niên để lãnh đạo về chính trị-tư tưởng và mọi hoạt động theo đúng đường lối của Đảng. Các tụ điểm  hát ả đào (còn được gọi là cô đầu) ở phố Khâm Thiên (Hà Nội) hay Tám Gian (Hải Phòng) được coi là sản phẩm văn hóa đồi trụy của thực dân phong kiến, nên đã bị nghiêm cấm. Các ca khúc trữ tình lãng mạn được coi là sản phẩm tình cảm sướt mướt ủy mỵ của tầng lớp tiểu tư sản (gọi tắt là “tạch tạch sè”), được đặt danh hiệu “nhạc vàng” và bị loại khỏi đời sống văn hóa xã hội. Ngay cả những người hát xẩm ở các bến tàu bến xe cũng lần lượt biến mất, vì hoạt động kiếm tiền bằng các tiết mục rền rĩ của họ bị coi là không phù hợp với xã hội mới. Việc nghe radio cũng được quy định chặt chẽ: mọi người chỉ được nghe đài “của ta”, cấm nghe mọi thứ “đài địch”. Đã có cả ca dao để phổ biến quy định này:

 

Nghe đài đọc báo của ta

Đừng nghe đài địch bàn ra tán vào!

 

Những biến chuyển trên đã làm cho đời sống văn hóa xã hội đổi thay một cách căn bản; nhưng gây chấn động dư luận lúc đó là việc công an khám phá ra một màng lưới gián điệp do Trần Minh Châu (tức Cập) cầm đầu, được Mỹ-Diệm cài vào miền Bắc để hoạt động chống cộng sản. Toàn bộ 10 điệp viên của màng lưới này đã bị trừng trị bằng những bản án do Tòa án Nhân dân Tối cao phán quyết: Trần Minh Châu bị tử hình, 1 án tù chung thân và 8 án tù từ 1 đến 20 năm cho các bị cáo khác.

 

 

Bước vào năm học mới, má tìm được một mảnh vải mộc, đem nhuộm màu cỏ úa để may cho tôi một chiếc áo sơ mi cộc tay. Còn thừa ít vải, má may thêm 2 cái tay áo dài, để dành đến mùa rét sẽ ráp vào áo cộc, biến nó thành áo dài tay. Mặc chiếc áo mới đó, tôi hãnh diện trở thành học sinh cấp II của trường Ngô Quyền danh tiếng, học tại lớp 5A nằm cạnh lớp 5B trong dãy nhà phụ bên phải của trường. Học sinh cấp II (từ lớp 5 đến lớp 7) học buổi chiều, còn cấp III (từ lớp 8 đến lớp 10) thì buổi sáng. Khác với cấp I mà mỗi lớp chỉ có một giáo viên dạy tất cả các môn, ở cấp II mỗi môn học do một thầy (hoặc cô) phụ trách. Lớp tôi có thầy Trần Sự dạy toán, cô Lâm Thị Ngọc Hoàn dạy Việt văn, thầy Nguyễn Ngô Kim dạy nhạc, thầy Bái dạy vẽ…Thầy Chu  dạy Nga văn vốn là một thương binh còn nguyên vết sẹo bị đạn bắn ở vai, rồi cô Hảo lại về dạy thay thầy Chu. Lớp có một giáo viên chủ nhiệm phụ trách chung là thầy Trần Quang Khiết dạy sinh vật. Thầy còn trẻ, dáng người thanh mảnh với nước da hơi đen và vầng trán cao, giảng dạy tận tâm bằng giọng nói mạnh mẽ. Ở lớp này, tôi chỉ có một người bạn cùng trường cũ là Hưng, đa số các bạn nam đến từ trường Nguyễn Văn Tố, phần đông số nữ từ trường Minh Khai, số còn lại đến từ nhiều trường khác nữa, trong đó có Nguyễn Đắc Đồng mới chuyển từ Nghệ An về. Ngoài tôi và Hưng, lớp còn có hai bạn nữa có cha đang công tác tại trường này là Đinh Chất Chính (con trai thầy Đinh Mạnh Thoại dạy Việt văn) và Nguyễn Thị Tuất (con gái thầy Nguyễn Văn Thế phụ trách văn phòng trường). Như thường lệ, tôi là em út của lớp về tuổi tác và cũng thuộc loại thấp bé nhất về tầm vóc (chỉ cao 1,26m khi nhập học), may là cũng còn mấy bạn có tầm vóc xấp xỉ với mình hoặc nhỉnh hơn tí chút  như Đặng Kim Chung, Nguyễn Văn Cờ, Nguyễn Văn Khánh, Vũ Văn Ký (nhanh thoăn thoắt nhưng vụng về, lại thích hát bài “Dấu chân trên rừng” nên có biệt danh là “Ký Khỉ” hay “Tôn Ngộ Không”), Phạm Đình Thịnh (vốn đã học lớp 5 từ năm ngoái, nhưng vì thiếu tuổi nên phải học lại), Nguyễn An Tiêm, Nguyễn Sỹ Tùng, hai bạn tên Tuyên trùng cả họ Trần Văn nên được gọi là Tuyên A và  Tuyên B…Nhiều bạn trông chững chạc ra vẻ đàn anh như Nguyễn Đăng Chúc, Đỗ Văn Hoan ( biệt danh là “Tổng Sẹo” vì có một cái sẹo to ở thái dương), Đặng Đình Mai, Đào Văn Nam (biệt danh là “Đầu Chày”), Nguyễn Công Minh, Lê Hà, Đặng Mỹ Hào, Nguyễn Liên Huy, Trần Văn Nhân, Đỗ Quang Vinh, Vũ Văn Vòng (có bộ tóc đỏ), Trịnh Quang Vọt, Vũ Văn Phụng, Đỗ Ngọc Tiến, Nguyễn Vũ Tiến (có biệt danh là “Tiến Lợn” hay “Trư Bát Giới”), Đặng Văn Bỉnh, Bùi Văn Sự, Nguyễn Huy Thiêm (có giọng hát khá), hai bạn tên Tự trùng cả họ Nguyễn Văn nên được gọi là Tự A và Tự B…Lại có mấy bạn hay nói tục như Đỗ Đình Chươn và Trần Văn Thành (có biệt danh “Thành Ba Tê”, do quần áo hay bị dính thịt pate vì gia đình cậu ta chuyên chế biến loại thực phẩm này). Tôi còn nhận thấy trong lớp có bạn con nhà giàu  da dẻ hồng hào ăn mặc bảnh bao trông rất đẹp trai như Phạm Minh Việt (có biệt danh là “Việt Bột”), lại có bạn con nhà nghèo với nước da xanh mướt và ăn mặc thiếu thốn như Nguyễn Đức Hiến, người được cử làm lớp trưởng nhờ lớn tuổi. Do đã quen ở trường cũ chỉ có con trai, nay tôi cảm thấy ngỡ ngàng khi trong lớp có cả con trai và con gái. Bọn con trai cũng như tụi con gái thường chỉ chơi giữa các bạn cùng giới với nhau, nhưng cũng có lúc giữa hai “phe” diễn ra những cuộc trêu chọc lẫn nhau. Có lần tụi con gái mang theo mỗi đứa một hộp dầu cù là, rồi bất ngờ xông tới bôi dầu vào mắt bọn con trai. Sau  khi bị động chống đỡ, một số thằng con trai giằng được hộp dầu của mấy đứa con gái, đã quay sang bôi lại đối thủ. Kết quả là nhiều bạn cả trai và gái cùng giàn giụa nước mắt vì dầu cay. Thường ngày, tôi thấy một số bạn nam thích phô trương trang phục đẹp hay đồ dùng tốt của mình, hoặc thích biểu diễn những hành vi mới lạ để các bạn nữ phải thán phục. Các bạn nữ kín đáo hơn, nhưng đều biết làm dáng và để ý xem các bạn nam nhìn mình như thế nào. Tôi cũng bắt đầu chú ý đến các bạn nữ. Vũ Thị Mỹ (có biệt danh “Mỹ nghẽo”), Nguyễn Thị Vượng (da ngăm đen) và Trịnh Thục Yến (da trắng mắt một mí trông như tranh tố nữ Nhật Bản) có vẻ đàn chị và cũng là những hoa khôi của lớp. Nguyễn Thị Tuất trông cao to và sôi nổi như con trai, Nguyễn Thị Hòa và Phạm Lũng Hà khá xinh đẹp, mặc dù cũng có biệt danh “Hà móm” và “Đèn Hoa”(nói lái của chữ “Hòa Đen”). Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Thị Điển, Đỗ Bắc Giang, Bùi Bích Huệ, Vũ Thị Song Kim, Trần Bích Liên, Nguyễn Thị Minh, Trần Bích Thảo, Vũ Thị Thịnh, Nguyễn Thị Trung, Nguyễn Trần Yến… mỗi người một vẻ nhưng không có gì đặc biệt. Đặng Thị Hường không hiểu vì sao có biệt danh là “Thần Bất diệt”, Nguyễn Hồng Mai được gọi là “Thủ Đô” vì có cái đầu to, còn Nhữ Thị Thanh có biệt danh là “ Vua Lệ sầu” vì hay khóc. Mấy bạn nữ cao to thỉnh thoảng lại “bắt nạt” tôi và mấy bạn nam thấp bé, nhưng tôi không giận họ vì biết đó chỉ là vui đùa. Trong số các bạn nữ, Phạm Thanh Lê khiến tôi để ý nhiều nhất. Chỉ hơn tôi đúng 2 ngày tuổi nên Lê cũng là em út trong lớp như tôi, lại là con gái của cô Nguyễn Thị Đắc, Hiệu trưởng trường Minh Khai mà má tôi đang giảng dạy. Có nước da ngăm ngăm nên mang biệt hiệu “Lê Đen”, nhưng bạn ấy thật xinh đẹp, múa dẻo, hát cũng hay (thường song ca với Lũng Hà) và nói chuyện dễ thương với chiếc răng khểnh. Lúc nào tôi cũng thích ngắm nhìn bạn ấy, khi vắng Lê thì thấy nhớ rất nhiều. Tôi chỉ hơi tự ti khi thấy bạn ấy cao hơn mình, luôn mặc quần áo đẹp hơn, lại còn chơi đàn piano rất sành điệu; còn tôi thì gầy hơn, sức học có vẻ chưa bằng bạn ấy và chỉ thổi được kèn harmonica! Gia đình Lê sống trong một biệt thự ở phố Lạch Tray. Từ ngôi nhà ấy thường vang vọng tiếng dương cầm của Lê hoặc tiếng phong cầm của anh trai bạn ấy là Phạm Quốc Trọng.

 

 

Chưa đầy ba tháng sau khi nhập học, chúng tôi được dự buổi lễ “ Quốc tế Hiến chương các Nhà Giáo” lần đầu tiên được tổ chức trên toàn miền Bắc vào ngày 20-11-1958. Sáng hôm ấy, một sân khấu được dựng lên giữa sân trường để làm lễ, nổi bật với hình chiếc huy hiệu của Liên hiệp Quốc tế các Công đoàn Giáo dục được phóng to, với hình một bó đuốc có ngọn lửa cháy đỏ trên nền cuốn sách trắng in đậm 4 chữ cái FISE (tên viết tắt bằng tiếng Pháp của tổ chức đó). Thầy Hoàng Hỷ-Hiệu trưởng mới của trường (về thay cho ba tôi) lên phát biểu về ý nghĩa của ngày lễ mới này. Tiếp theo, đại diện học sinh tặng hoa thầy Hiệu trưởng cùng các thầy cô có mặt tại buổi lễ, rồi học sinh các lớp thay nhau lên trình diễn các tiết mục văn nghệ. Chung quanh sân khấu không có phông màn để mọi người tự do đứng xem từ bất cứ hướng nào. Anh Trọng của Lê (học trên chúng tôi 2 lớp) thường xuyên đệm đàn accordeon cho các tiết mục đồng ca và tốp ca. Quanh sân trường còn có các quầy bán các loại thức ăn và sách báo do học sinh các lớp cấp III đảm nhiệm, để mọi người vừa vui chơi vừa có thể ăn uống ngay tại sân trường. Bên cạnh đó là các nhóm múa tập thể rất vui dưới bóng những cây bàng cổ thụ. Tôi chen vào một nhóm đúng lúc các bạn nữ lớp mình đang nhảy “mí-đồ-đồ-đồ-phá-mí-rê” với các bạn nam lớp khác. Vì không biết nhảy nên tôi chỉ đứng xem; và cảm thấy hơi buồn khi thấy bạn Lê nhảy rất vui với một bạn trai cao lớn ở lớp trên. Suốt ngày hôm đó sân trường vô cùng náo nhiệt với tiếng đàn hát, tiếng cười vui và trò chuyện râm ran. Mọi người nói nhiều về sự vinh quang của nghề dạy học.

 

Mãi về sau, tôi mới được biết rằng các nước thành viên FISE không tổ chức kỷ niệm ngày 20-11, trong khi nước ta đã coi đó là một ngày lễ truyền thống hàng năm và đổi tên gọi là “Ngày Nhà giáo Việt Nam”. Dù vậy, buổi lễ mừng ngày “Quốc tế Hiến chương các Nhà giáo” đầu tiên tại trường Ngô Quyền đã trở thành một kỷ niệm sâu sắc trong quãng đời học sinh tươi đẹp của tôi.

 

Sau buổi lễ này, chúng tôi được biết Hiệu đoàn-tổ chức tự quản của học sinh các trường phổ thông- không tồn tại nữa và được thay thế bằng Đoàn trường, tức là Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam của trường- một tổ chức chính trị do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo.

 

Các Bài viết khác