NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-CHƯƠNG IV, phần 2

( 10-02-2014 - 06:29 AM ) - Lượt xem: 780

Như con chim bay, tung cánh đi khắp nơi nghe nhịp nhàng/ Đời sống đang vươn lên trên đất nước chúng ta/ Cất tiếng cười trên cánh đồng bao la/ Nhà máy vang tiếng búa trong câu ca./ Bao lớp người ta sẵn sàng đi lên/ Gìn giữ tương lai, đắp xây vinh quang/ Từ nay ta sống giữa tươi vui hạnh phúc/ Muôn ngàn cánh tay đổi mới các thôn làng…/

2. Đời ta tươi đẹp

 

Đầu năm 1958, ba tôi được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở Giáo dục Hải Phòng ( còn Giám đốc là bác Lê Xuân Phùng, một công chức cũ được lưu dụng). Tuy nhiên, ba tôi vẫn kiêm nhiệm công tác ở trường Ngô Quyền một thời gian nữa, nên gia đình chúng tôi vẫn ở trong trường. Ba được cấp một chiếc xe đạp nhãn hiệu Junior sơn màu xanh lá cây để hàng ngày đi đến Sở làm việc. Khi ấy, tất cả các xe đạp trên toàn miền Bắc đều phải mang biển số đăng ký bằng sắt, nên chiếc “xe công” (do nhà nước cấp cho cán bộ) của ba mang biển trắng chữ đỏ “GI 323” (khác với “xe tư” mang biển trắng chữ đen). Một hôm đi làm về, ba cho tôi xem tờ báo “Thống Nhất” ra số đặc biệt mừng xuân Đinh Dậu đóng thành một tập san đẹp. Tập san này có nhiều bài viết hay mô tả cuộc sống sung sướng của nhân dân miền Bắc, có ảnh chụp chiếc ô tô đầu tiên  do Việt Nam sản xuất mang tên “Chiến Thắng”, trông tựa như chiếc Pobeda của Liên Xô, và một ảnh khác chụp chiếc mô tô đầu tiên do nước ta chế tạo cũng mang tên ấy. Trong tập san còn có cả một câu chuyện viễn tưởng về đời sống 10 năm sau đó của nhân dân ta, giống hệt như bên Liên Xô với những nông trường quốc doanh đầy ô tô và máy kéo. Trong khi đó, đài phát thanh liên tục truyền đi những bài hát về cuộc đời vui tươi hạnh phúc, chẳng hạn như bài “Ca mừng đời ta tươi đẹp” của La Thăng:

 

Như con chim bay, tung cánh đi khắp nơi nghe nhịp nhàng

Đời sống đang vươn lên trên đất nước chúng ta

Cất tiếng cười trên cánh đồng bao la

Nhà máy vang tiếng búa trong câu ca.

Bao lớp người ta sẵn sàng đi lên

Gìn giữ tương lai, đắp xây vinh quang

Từ nay ta sống giữa tươi vui hạnh phúc

Muôn ngàn cánh tay đổi mới các thôn làng…

 

Quả thực là sau 3 năm khôi phục kinh tế, những tổn thương do chiến tranh để lại đã được hàn gắn, đời sống của đa số nhân dân đã được cải thiện so với những năm kháng chiến gian khổ, nên cảm xúc về cuộc đời tươi đẹp đã bừng lên trong xã hội. Qua ca khúc “Buổi sáng trên đồng nội” của mình, Trần Tất Toại “càng nhìn đất nước càng vui, càng mến yêu cuộc đời”. Phan Huỳnh Điểu rung cảm với lòng khao khát yêu đương của cô gái mới bước vào tuổi xuân qua ca khúc “Thật là khó nói”. Hoàng Hà xúc động với vẻ đẹp cao quý và thanh khiết của Hà Nội về đêm với bài ca “Hoa huệ”, còn Nguyễn Văn Tý ngợi ca tình mẫu tử qua bài “Mẹ yêu con”… Sự rộn ràng trong nhịp điệu xây dựng đất nước cũng được thể hiện sinh động qua âm nhạc, nổi bật là một ca khúc của Hoàng Hà vang lên từ Khu Công nghiệp Việt Trì mới được khởi công:

                                

Ánh đèn sáng trên cầu Việt Trì

Trong đêm khuya vẫn còn rọi về

Nghe tưng bừng ngày đêm tiếng ca

À-a-a-a-á…

Khắp thành phố xuôi ngược rộn ràng

Tay công nhân búa đập nhịp nhàng

Trên công trường ngày đêm hát ca

À-a-a-a-á…

 

Trên công trường xây dựng cầu Việt Trì, một chuyên gia Trung Quốc tên là Trần Quốc Bình đã tử nạn, được lập bia kỷ niệm. Sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em có vai trò quan trọng trong việc xây dựng lại đất nước ta. Trong sách Quốc văn lớp 4 của chúng tôi có cả một bài thơ nhan đề “Máy hữu nghị” nói về điều đó:

 

Nhà máy xi măng ngút trời khói tỏa

Bến Sáu Kho rộn rã còi tầu

Từng đoàn xe chạy nối nhau

Máy móc nước bạn dưới tầu chuyển lên

Đây tình hữu nghị anh em

Vượt muôn trùng sóng chở sang giúp mình

Góp phần kiến thiết, đấu tranh

Máy ân, máy nghĩa, máy tình là đây.

 

Khi ấy ở nước ta không mấy ai biết về đổi mới thiết bị và chuyển giao công nghệ, nên mọi thứ máy móc nước bạn chở sang giúp ta đều đáng quý vô cùng, và các chuyên gia nước ngoài xuất hiện ở Việt Nam trong hình ảnh cao đẹp của “tinh thần quốc tế vô sản”.

 Cùng với sự phát triển kinh tế, quân đội cũng tiến lên chính quy hiện đại với việc phong quân hàm cho toàn thể cán bộ chiến sĩ, từ binh nhì binh nhất đến hạ sĩ quan, sĩ quan các cấp và tướng lĩnh. Trông các quân nhân đội mũ kê-pi hay mũ cối, đi giày vải, đeo cấp hiệu đỏ tươi ở cổ áo và quân hàm sáng chói trên cầu vai, ai cũng thấy họ khác xa so với anh vệ quốc đội mũ nan, quần túm ống đi dép cao su trong kháng chiến. Riêng bộ quân phục của hải quân với những đường viền rất đẹp trên cổ áo và chiếc mũ trắng viền xanh có hai dải lụa thả sau gáy đã hấp dẫn nhiều bạn học của tôi.

 

 

Từ miền Bắc nơi đời sống đang vươn lên, mọi người hướng về miền Nam đang đau khổ dưới chính quyền đối phương, để nâng cao tinh thần đấu tranh đòi thống nhất đất nước. Báo chí thường xuyên đưa tin về đời sống khó khăn ở các thành thị miền Nam, về chị em phụ nữ ở đây phải làm gái mại dâm để kiếm sống, về chính quyền đốt nhà dân để “giải tỏa đô thành Sài Gòn”, về các cuộc “tố cộng” và “diệt cộng” của bè lũ Mỹ- Diệm…Nhưng gây xúc động lòng người sâu sắc vẫn là các tác phẩm văn nghệ, mà tác động thường xuyên nhất là những bài hát được phát trên các làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam. Những nỗi nhớ nhung da diết của những lứa đôi bị chia lìa kẻ Bắc người Nam được diễn tả rất hay trong các ca khúc “Câu hò bên bờ Hiền Lương” của Hoàng Hiệp và Đằng Giao, “Tình trong lá thiếp” của Phan Huỳnh Điểu hay “Tình ca” của Hoàng Việt. Niềm thương nhớ miền Nam, sự khao khát về đất nước thống nhất để hướng đến tương lai tươi sáng chứa đựng trong “ Nghe tiếng quê hương” của Tân Huyền và vang lên cao vút trong “Bài ca hy vọng”của Văn Ký qua giọng hát Khánh Vân:

                              

Từng đôi chim bay đi, tiếng ca rộn ràng

 Cánh chim xao xuyến gió mùa xuân

Gửi lời chim yêu thương tới miền Nam quê hương

Nhắn rằng ta ngày đêm mong nhớ

Ước mơ những mùa xuân bóng dáng tương lai

Đường ta đi lên xây đời trong hoa thơm

Có mùa xuân nào đẹp bằng…

 

Rồi quyết tâm đấu tranh giành thống nhất đất nước đã được lan truyền qua bản hợp xướng “Sóng cửa Tùng” của Doãn Nho và hợp ca “Bài ca thống nhất” của Bửu Huyền:

 

Núi sông nào ngăn cách, lòng Nam-Bắc chẳng thể chia

 Tiễn chân đàn con ra Bắc, lòng mẹ già mong ước

Ngày thống nhất đất nước, quân thù lui bước

Đường tranh đấu dài lâu

Có gian nan, có Bác Hồ, có Đảng

Giành thắng lợi về ta- thống nhất nước nhà.

 

Thế rồi bộ phim truyện đầu tiên của Điện ảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời với tựa đề “Chung một dòng sông”, góp thêm một tiếng nói quan trọng cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước bằng đường lối hòa bình. Cả gia đình tôi đã được xem phim này trong buổi chiếu đầu tiên tại rạp Cathay. Chúng tôi say mê theo dõi mối tình của chị Hoài ở bờ Nam và anh Vận ở bờ Bắc sông Bến Hải, với biết bao khó khăn trắc trở do chính quyền miền Nam gây ra cho họ. Xem xong, tôi cũng hiểu chút ít rằng một nước bị chia thành hai nước đối nghịch nhau là vô lý đối với tình cảm con người, nên cần phải xóa bỏ sự chia cắt đó. Tôi còn thích thú hơn vì đã có thêm tờ “pô gam” của phim này cho bộ sưu tập của mình. (Bộ sưu tập của bạn Loan còn có pô gam các phim “ Giá hạnh phúc” và “Cánh đồng Ma” cũng do Việt Nam sản xuất ở vùng tạm bị Pháp chiếm trong chiến tranh).

 Cứ mỗi lần được nghe nhạc hay xem phim, tôi lại cảm thấy mình may mắn và có phần hãnh diện khi được sống sung sướng ở miền Bắc, thương cho đồng bào miền Nam đang phải sống cực khổ, và tội nghiệp cho những người miền Bắc bị cưỡng ép di cư vào Nam.

 

 

Trong những lúc đào bới để tìm mảnh chai và dây đồng tại những góc khuất trong trường, chúng tôi thường nhặt được những vỏ đồ hộp cũ bằng sắt tây còn dính chút thịt hay bơ trong đó. Nhiều người bảo rằng đó là thức ăn của quân đội Pháp khi chúng đóng trong trường Ngô Quyền để chờ ngày về nước. Nhưng bạn Loan quả quyết  đó là đồ hộp mà người Pháp cấp cho dân di cư tạm trú ở trường để chờ ngày xuống tầu biển đi Nam. Về sau tôi đã được biết rằng, trong thời gian được quyền quản lý Hải Phòng “300 ngày” kể từ khi ký Hiệp định Giơnevơ, người Pháp đã đóng cửa trường Ngô Quyền và biến toàn bộ trường này thành trại tạm trú của những người di cư . Đích thân thủ tướng chính quyền miền Nam Ngô Đình Diệm cùng tướng Mỹ O’ Daniel đã đến thăm và hiểu dụ dân di cư ngay tại nơi đây. Trong số các giáo chức của trường, các thầy Dương Thiệu Tống, Nguyễn Quảng Tuân và một số thầy nữa cũng di cư vào Nam, số khác vẫn ở lại để duy trì hoạt động giảng dạy và chờ chính phủ kháng chiến về tiếp quản: thầy Trần Văn Dự, thầy Thái Văn Trà, thầy Phúc, thầy Bái, thầy Đoan…Trong ngày nhà trường khai giảng trở lại, dân di cư vẫn còn ở đầy hai dãy nhà phụ để chờ đi những chuyến cuối cùng. Khi chúng tôi được về ở trong trường Ngô Quyền, thì những người di cư  đã rời khỏi nơi đây được hơn 2 năm rồi, chỉ để lại những cái vỏ đồ hộp với một câu hỏi không dễ trả lời: Tại sao họ lại chấp nhận rời bỏ quê hương bản quán với tất cả những gì đang có ở miền Bắc, để vượt biển vào Nam làm lại tất cả từ đầu? Việc gia đình ông Tham Cảnh chia làm hai, một nửa ở lại miền Bắc còn nửa kia vào Nam cho thấy đi hay ở là do mỗi người tự quyết định, chưa chắc đã do bị cưỡng ép như Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn giải thích. Sau này, tôi còn được biết bác Phúc gái cũng đưa hai con mình là anh Bảo và chị Hồng di cư vào Nam. Được biết phần nhiều dân di cư là những người theo đạo Chúa, tôi hỏi Loan: “Sao nhà mày không vào Nam?”, Loan bảo: “Nhà tao nghèo nên không sợ bị đấu tố!”. Phải đến mấy thập kỷ sau tôi mới tìm được lời đáp thỏa đáng cho câu hỏi mà 900 nghìn  người di cư vào Nam để lại.

 Đầu tháng 5-1955, những đơn vị cuối cùng của quân đội viễn chinh Pháp xuống tàu rời khỏi Hải Phòng vào Nam (nhưng phải đến hơn 3 tháng sau thì những người miền Bắc di cư vào Nam cuối cùng mới rời khỏi thành phố). Ngày 13-5 quân đội nhân dân Việt Nam giương cờ đỏ sao vàng tiến vào tiếp quản thành phố (và Hải Phòng trở thành nơi tập trung rất đông cán bộ và học sinh miền Nam tập kết ra Bắc). Một tuần sau trường Ngô Quyền được tiếp quản. Vì thế, 20-5 sẽ được lấy làm ngày Hội Truyền thống của trường Phổ thông Cấp 3 Ngô Quyền.

 

 

Sau giờ học, nếu không có ai đến rủ đi chơi, tôi hay la cà ở hiệu sách Yên Bình cạnh trường Ngô Quyền để tìm sách hay. Hễ thấy có quyển nào của nhà xuất bản Kim Đồng mới được bày bán, tôi liền xin má tiền mua. Tôi còn thấy ở đây bầy bán cả một bộ truyện tranh “ Tam quốc Diễn nghĩa” do Trung Quốc vẽ rất đẹp nên rất muốn mua; nhưng vì sách này giá đắt và tôi lại không biết đọc chữ Hán in trong đó, nên không dám mua nữa. Có khi đi học tôi còn mang truyện theo, rồi trèo lên một chiếc ô tô đỗ ven đường ngồi đọc. Rồi tôi lại xin được Thẻ đọc sách tại Thư viện Thiếu nhi trên phố Trần Phú đoạn đối diện với Nhà hát Thành phố. Nhờ đó, tôi đã đọc được rất nhiều truyện viết cho thiếu nhi như “Gulive ở xứ Tí hon”, “Gulive ở xứ Khổng lồ”, “Chuyện phiêu lưu kỳ lạ của Karic và Valia”, “Những cuộc phiêu lưu của Mít Đặc và các bạn”,”Túp lều của bác Tôm”, “ An Dương Vương xây thành Ốc”,Tìm Mẹ”,”Thằng Quấy”,Chuyện một chú kiến nâu”, “Tính ác”, “Đội thiếu niên du kích Đình Bảng”, “Đội thiếu niên du kích thành Huế”,“Đất rừng phương Nam”…Đôi lúc, ba lại mang về nhà một vài cuốn sách, nên tôi cũng đọc cả những sách dành cho  người lớn như “ Vượt Côn Đảo” của Phùng Quán, “Người người lớp lớp” của Trần Dần, tập thơ “Nụ cười kháng chiến” của Tú Mỡ…Riêng quyển “Viết dưới giá treo cổ” của Phu Xích do má mua cho thì tôi đọc mà không hiểu nên đã mang cho chị Ngọc Loan. Thỉnh thoảng, tôi lại vào phòng Hội đồng Giáo viên của trường Ngô Quyền để xem báo. Trong các loại báo được xếp sẵn trên bàn, thường có nhiều nhất là các tờ  “Nhân Dân” và “Tiền Phong”, nhưng tôi thích hơn cả là tờ “Tiền Phong Thiếu Niên” rồi đến tờ“Văn”, vì trong những báo này có nhiều truyện hay và tranh vẽ đẹp. Trong tờ “Tiền Phong Thiếu Niên”, tôi được xem nhiều tranh của Trần Duy vẽ cho thiếu nhi, và nhớ mãi một bức  tranh liên hoàn vẽ một tảng đá lớn đè lên một cái mầm cây cho nó chết, nhưng mầm cây không chết mà lại lớn lên, trở thành một cái cây làm nghiêng đổ tảng đá. Ở mấy số của tờ“Văn”, tôi đã đọc được các bài thơ “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán, “Hãy đi mãi” của Trần Dần, “Cửa hàng Lê Đạt” của chủ cửa hàng đó, truyện “Ông  Năm Chuột” của Phan Khôi và cả mấy đoạn trong tiểu thuyết “Dông tố” của Vũ Trọng Phụng, mặc dù những thơ và truyện đó rất khó hiểu. Thế rồi không còn thấy một tờ báo “Văn” nào nữa, mà thay vào đó là tờ “Văn Nghệ” mới xuất hiện. Trong tờ báo này, tôi đọc được truyện ngắn “Ché Mèn được đi họp” không nhớ của tác giả nào, nhưng nội dung câu chuyện thì lại rất nhớ: một cô gái nghèo ở miền núi không đươc học hành bao nhiêu nhưng được lãnh đạo tín nhiệm cử đi họp, thế là đầu óc cô trở nên sáng láng nhờ tiếp thu được đường lối của Đảng ta. Tôi lại thấy có bài viết về Phan Khôi, nên đọc thử xem báo viết gì, thì mới biết rằng các truyện của ông này có nhiều ý xấu. Ở một số báo khác có bài viết về Lê Đạt, nói rằng các bài thơ của ông này viết sai và có ý xấu, nhất là câu này:

                   

Đem bục công an máy móc đặt giữa trái tim người

Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước.

 

Rồi lại có bài viết về Trần Dần, nói rằng không thể chấp nhận bài “Hãy đi mãi” của ông này, đặc biệt là câu:

 

Ta đi không thấy phố, không thấy nhà

 Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ.

 

Sau đó lại thấy bài viết về Phùng Quán, nói rằng ông này giả vờ “Chống tham ô lãng phí” để chống Đảng ta, mượn “Lời mẹ dặn” để không chịu làm thơ theo ý Đảng:

 

Con ơi một người chân thật

Thấy vui muốn cười cứ cười

Thấy buồn muốn khóc là khóc

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

 

Tôi đọc báo chỉ là để xem truyện và tranh ảnh, nhưng khi thấy tên một nhà văn quen thuộc trong một bài nào đó, thì cũng tò mò đọc xem báo viết gì về người ấy. Khi đọc những bài như vậy, tôi cũng chỉ biết là những nhà văn ấy viết sai và có ý xấu, nhưng không hiểu họ sai và xấu ở chỗ nào. Chẳng hạn, lúc đọc bài viết về những sai lầm của Phùng Quán trong bài thơ “Lời mẹ dặn”, tôi rất băn khoăn vì người lớn luôn dạy trẻ con chúng tôi là phải vâng lời cha mẹ và phải thật thà. Vậy mà khi Phùng Quán vâng lời mẹ dặn muốn làm người chân thật, thì báo lại bảo rằng ông ấy sai? Dĩ nhiên vào lúc mới hơn 10 tuổi thì tôi chỉ biết đến thế thôi. Mãi về sau, tôi mới biết rằng Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Phan Khôi, Trần Duy, Nguyễn Hữu Đang, Thụy An và nhiều người khác nữa được gọi chung là nhóm “Nhân Văn-Giai Phẩm”. Họ đã dùng báo “Nhân Văn” (mà tôi chưa được đọc bao giờ) và tập san “Giai Phẩm” (tôi cũng chưa từng thấy) để phát biểu các quan điểm về tình hình đất nước, về mối quan hệ giữa chính trị với văn nghệ và quyền tự do sáng tác. Nhưng Đảng không chấp nhận những quan điểm đó, nên đã trấn áp họ. Mọi thành viên thuộc nhóm bị trục xuất khỏi Hội Nhà văn, không được phép xuất bản các tác phẩm của mình nữa, phải đi lao động để cải tạo tư tưởng, một số trong đó còn bị đi tù vì tội làm gián điệp cho Mỹ-Diệm. Tôi đau xót khi được biết cả nhạc sĩ Văn Cao mà gia đình mình vô cùng ngưỡng mộ, là tác giả Quốc ca Việt Nam và nhiều ca khúc hay nhất của nước ta, mà cũng bị trấn áp. Tôi ngạc nhiên khi được biết một giáo viên trường Ngô Quyền là thầy Hà Thúc Chỉ (tức nhà thơ Thúc Hà) đã bị thi hành kỷ luật. Ba tôi tuyệt nhiên không nói gì với vợ con về vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, nên tôi không biết ông nghĩ gì về vụ này. Chỉ biết rằng cái án kỷ luật mà Thúc Hà phải nhận là của Hội Nhà văn, còn ở trường Ngô Quyền thì thầy Hà Thúc Chỉ vẫn giảng dạy bình thường, về sau còn được làm trưởng bộ môn Việt văn. Quan hệ giữa ba tôi với thầy Chỉ trước sau vẫn luôn luôn tốt đẹp.

 Mấy thập kỷ sau, khi nhiều người bị trấn áp đã qua đời và những kẻ còn lại thì đã già yếu, Đảng ta lại khôi phục danh dự cho nhiều người trong nhóm “Nhân Văn-Giai Phẩm” và trao tặng họ những giải thưởng lớn về văn học-nghệ thuật. Vậy thì chân lý ở đâu?

Các Bài viết khác