NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯƠC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 6, phần 6

( 30-06-2014 - 12:28 PM ) - Lượt xem: 638

việc những bạn học bình thường của tôi trốn không đi lao động để tìm cách học lên cao hóa ra lại là hành động đúng. Còn chúng tôi, những người tình nguyện đi lao động ở công trường và nông trường, có lẽ lại là một lũ ngu ngốc bị mắc lừa.

6. Những nẻo đường đời

Sau hai tuần lễ quần quật lao động trên công trường, tôi và Triệu rủ nhau về thăm nhà trong một chiều thứ bảy. Tài không đi cùng chúng tôi được vì bận sinh hoạt Đoàn trong buổi tối đó. Chúng tôi đứng ngay trước cổng công trường để đón chuyến xe khách cuối ngày chạy tuyến Đồ Sơn-Hải Phòng, về đến thành phố trước khi đèn đường bật sáng và hai đứa chia tay nhau để về nhà mình. Khi ấy tôi phải đi cà nhắc do mắc phải một vết thương nhỏ ở chân trong lúc lao động, nên trông bộ dạng  có vẻ khá tiều tụy. Tôi vừa bước vào nhà, má đã kêu lên: “ Con về đấy hả, khổ thân chưa!”, rồi tíu tít hỏi han về cái chân đau, về cuộc sống và công việc của tôi ở công trường. Thế là tôi được dịp kể lại mọi việc trong bữa cơm gia đình đầm ấm như xưa. Má cứ nói đi nói lại: “Con gầy và đen quá!”, em Hùng (sắp học lên lớp 8 trường Ngô Quyền) có vẻ thán phục ông anh, còn Dũng ( chuẩn bị học vỡ lòng) nhìn tôi với cặp mắt ngạc nhiên. Riêng ba thì căn dặn: “Lao động sẽ giúp con người trưởng thành, nhưng phải chú ý giữ gìn sức khỏe, con không được làm việc quá sức!”. Tôi thú nhận là công việc nặng nề đòi hỏi phải cố gắng rất nhiều, nhưng cũng có tác dụng tốt khiến cho bệnh đau đầu của mình không thấy tái diễn.

 Sáng chủ nhật, tôi đạp xe đến nhà Triệu đúng lúc bu cậu ấy đang băn khoăn không biết làm cách nào để có thể dùng gói bột mì mới được mua theo sổ gạo gia đình. Tôi liền kể về cách làm bánh “cravat” của ba và bu Triệu quyết định làm theo. Chẳng biết bằng cách nào mà Triệu đã kéo được Nguyệt và Hiếu cùng đến nhà mình, thế là chúng tôi có một buổi họp mặt giống như học nhóm hồi trước. Lát sau, thêm Tài mới từ Đồ Sơn về cũng xuất hiện, cả bọn liền đèo nhau bằng xe đạp đến một cửa hàng mậu dịch ăn uống. Nguyệt hào phóng mua 4 vé phở (mỗi vé 2 hào 5 xu) và chúng tôi lần lượt cầm vé của mình mang đến ô cửa thông với gian bếp, trao cho mậu dịch viên trong đó để nhận bát phở của mình mang ra bàn ngồi (thìa đũa, vịt nước mắm và chanh ớt đã có sẵn trên bàn). Món phở giờ đây thường chỉ có thịt lợn, thỉng thoảng cũng có phở gà, họa hoằn lắm mới có phở bò chính hiệu, vì trâu bò phải dành để kéo cày phục vụ sản xuất. Hiếu chạy ra mua thêm 4 vé sirô (mỗi vé 5 xu) phát cho cả bọn, thế là chúng tôi có một bữa ăn họp mặt thịnh soạn. Nguyệt buồn rầu thông báo rằng mình bị trượt môn văn kỳ thi tốt nghiệp vừa qua, đành ở nhà ôn tập để thi lại môn đó (nếu trượt hai môn thì không được thi lại ngay, mà coi như đã rớt tốt nghiệp, phải chờ kỳ thi năm sau thi lại tất cả các môn), vì thế không thể cùng đi công trường với các bạn được; còn Ngô Như Thân cũng không đi công trường vì đã có lệnh gọi nhập ngũ. Hiếu thanh minh rằng do Ban Thống nhất Trung ương can thiệp, không cho các học sinh miền Nam đi lao động mà phải thi đại học để chuẩn bị sau này về phục vụ quê hương, nên cậu ấy cũng không thể đi công trường. Nguyệt cho biết ngoài Hiếu ra, lớp mình còn Trần Đức Chỉnh, Trần Văn Tập, Vũ Song Kim, Nguyễn Trần Yến; lớp 10A có Vũ Thị Minh, Vũ Bích Thảo cũng như Bùi Minh Thắng; 10C có Phùng Văn Minh, Nguyễn Thị Tuất đều đã thi đại học mà không cần tình nguyện đi lao động xây dựng quê hương! Các bạn khác thi vào các trường trung cấp cũng không có ai hỏi giấy chứng nhận đã đi lao động. Chỉ những ai là con gia đình tư sản như Phạm Lũng Hà, Phạm Minh Việt, Trần Bích Liên (10D) hay Nguyễn Thị Ngọc Hà, Trần Thị Hiền (10A) là không đươc đi học ở đâu cả, vì chính quyền địa phương đã phê rõ thành phần gia đình trong hồ sơ xin học của các bạn ấy để các trường không chấp nhận họ. Phạm Thanh Lê chưa đủ tuổi thi đại học, nhưng nếu có đủ tuổi thì cũng chung số phận với các bạn kia, vì chính quyền địa phương đã nhiều lần khẳng định gia đình Lê là “tư sản nòi”; vì thế bạn ấy đành xin vào làm kế toán ở một công ty xuất nhập khẩu. Phạm Đình Thịnh không phải con gia đình tư sản, nhưng chẳng hiểu sao vẫn không được thi vào khoa toán trường Đại học Tổng hợp, nên đành xin vào trường Trung cấp Kiến trúc. Chính Thịnh đã rủ Phùng Văn Minh và Nguyễn Phương Khuê không đi lao động mà ở lại đi học.

 Ít lâu sau tôi mới biết Hồ Thị Tường Vy đã hỏi bác mình, giáo sư Hồ Đắc Di- Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội và là đại biểu Quốc hội, rằng việc đưa thanh niên trí thức đi lao động có phải là chủ trương chung của Trung ương Đảng và Nhà nước không. Câu trả lời của bác là “có chủ trương vận động tình nguyện nhưng không bắt buộc”; thế là bạn ấy quyết định không đi lao động để thi vào đại học Kinh Tế. Cảm tình đảng Trần Văn Phao không đi công trường hay nông trường, mà lặng lẽ thi vào đại học Nông Lâm. Một số bạn khác lại vào đời bằng những con đường khác. Có hai bạn đã nhập ngũ là Nguyễn Văn Hưng (trở thành chiến sĩ hải quân với bộ quân phục đẹp mà cậu ta hằng mơ ước) và Ngô Như Thân (bộ binh). Các bạn Đinh Chất Chính, Nguyễn Nghiêm Nghị, Nguyễn Văn Dung và Phạm Quốc Hùng  nhờ có lý lịch tốt đã được gia nhập Công an nhân dân và được cử đi học chuyên môn nghiệp vụ (sau này Nguyễn Đình Vĩnh cũng gia nhập công an). Chỉ có Trần Văn Thành là số phận hẩm hiu nhất. Sau kỳ thi tốt nghiệp đạt kết quả tốt, Thành “Ba Tê” ra hồ Quần Ngựa (cạnh Nhà hát Nhân dân) cởi hết áo quần để tắm mát. Bỗng mấy đứa trẻ ở gần đó trông thấy chàng trai trần như nhộng liền buông lời trêu ghẹo rất thô tục. Thành nổi cáu, túm lấy một đứa nhấn xuống nước rồi lôi lên cho nó hết hỗn láo. Nhưng sự trừng trị này lại khiến nó chửi bới tục tĩu hơn, nên Thành phải nhấn đi nhấn lại mấy lần cho đến khi đứa trẻ hết chửi vì đã tắt thở. Vụ ngộ sát đó khiến Thành phải đi tù mấy năm và tương lai của cậu ấy trở nên mù mịt.

 Chiều chủ nhật đó, má quyết định nấu một bữa “ăn tươi” để “bồi dưỡng” cho tôi và cả nhà, nhưng đi chợ suốt cả buổi mà không mua đươc các thực phẩm ưng ý nên  đành chấp nhận chế biến một bữa ăn khá hơn bình thường chút ít. Nguyệt lại đến chơi với tôi và được má mời ở lại ăn cơm cùng với gia đình. Nhưng bữa ăn vui vẻ của cả nhà đã không được hoàn tất vì vấn đề thời gian. Trong khi đang phụ bếp với má, tôi nhìn đồng hồ và nhận thấy giờ khởi hành của chuyến xe cuối cùng đi Đồ Sơn đang đến gần. Thế là má phải dọn  cho tôi và Nguyệt ăn cơm trước với hai món vừa nấu xong là canh cua rau dút và đậu rán. Hai đứa ăn với tốc độ chớp nhoáng, rồi Nguyệt lấy xe đạp đèo tôi phóng như bay ra bến xe. Rất may là tôi vẫn kịp lên ô tô để trở lại công trường.

 

“Những người tình nguyện đi lao động xây dựng quê hương” chụp ảnh kỷ niệm ở Hội trường Thành Đoàn Hải Phòng (7-1964): tôi đứng ở đầu hàng trên cùng phía sau, cùng lớp tôi có Trần Văn Phao, Trần Trọng Triệu, Ngô Như Thân, Đỗ Bắc Giang, Đỗ Thúy Nga; trong số những người đưa tiễn có thầy Hiệu trưởng Hoàng Hỷ, thầy Thu Hiệu phó, thầy Trịnh Ngọc Viện và Bí thư Đoàn Trường Ngô Quý Đô.

 

Sau chuyến về thăm gia đình và bạn bè đầy ắp tin tức và cảm xúc ấy, tôi viết vào sổ tay những dòng nhật ký đơn giản về diễn biến của mấy ngày tiếp theo:

Thứ hai 20-7: Lại lao vào cuộc chiến đấu trên đồng muối.

Thứ ba: Sáng ra công trường mới bắt tay vào làm việc thì bỗng nhiên bị hoa mắt chóng mặt, phải quay về lán nằm bẹp một ngày, được chị Khuyên xức cao Sao vàng và cho uống thuốc.

Thứ tư: Buổi sáng trời không ngớt mưa nặng hạt nên cả công trường được nghỉ. Chiều tôi cùng cả đội đi đắp bờ mương theo chế độ khoán việc của ban chỉ huy; mọi người rất cố gắng nhưng vẫn không đạt mức khoán. Hết giờ làm, tôi và anh Ngọc thi đi bộ xem ai về lán trước, kết quả là Ngọc phải đầu hàng.

Thực ra, suốt mấy ngày ấy tôi đã suy tư rất nhiều về những sự lắt léo của những nẻo  đường đời, mà không viết vào nhật ký. Trong số các đoàn viên TNLĐ ở lớp tôi, chỉ có Bùi Trọng Tài (đi công trường Muối), Đỗ Bắc Giang và Đỗ Thúy Nga (đi nông trường Vinh Quang) là đi lao động theo tiếng gọi của Đoàn và của Đảng; còn những đoàn viên  khác, kể cả cảm tình Đảng Trần Văn Phao, đã tuyên thệ trung thành với lý tưởng của Đảng, nay ngang nhiên và lặng lẽ thi đại học theo tiếng gọi của quyền lợi cá nhân mà không gặp bất cứ một sự phê phán nào. Các cán bộ Đoàn thì hoặc là một tên bịp bợm (như Phó Bí thư Đoàn trường Bùi Minh Thắng), hoặc nói những điều dối trá (như Bí thư Đoàn trường Ngô Quý Đô), hay dụ dỗ phỉnh phờ (như Bí thư Thành Đoàn Vương Đình Kế), cốt để lập thành tích làm vui lòng cấp trên mà yên ấm cho thân mình. Trong tình hình đó, việc những bạn học bình thường của tôi trốn không đi lao động để tìm cách học lên cao hóa ra lại là hành động đúng. Còn chúng tôi, những người tình nguyện đi lao động ở công trường và nông trường, có lẽ lại là một lũ ngu ngốc bị mắc lừa. Tuy nhiên, tôi cũng nghĩ lại rằng: những lời lẽ tốt đẹp của Bí thư Thành ủy Hoàng Hữn Nhân về việc “đi lao động để trả ơn núi rừng” cùng những lời thầy Hiệu trưởng Hoàng Hỷ động viên chúng tôi  đều là chân thực, tương tự như những gì mà ông Giám đốc Sở Giáo Dục là ba tôi đã nói với tôi khi để con mình tình nguyện ra đi. Chắc rằng việc đi lao động vẫn có ý nghĩa tốt đẹp, nên ngay cả bố Bùi Trọng Tài-đại tá Hiệu trưởng Trường Hàng không tại Sân bay Cát Bi- cũng sẵn sàng để con trai mình đi công trường. Nghĩ vậy, nên tôi lại cố gắng lao vào cuộc  chiến đấu không cân sức với những tảng đất ngày càng nặng. Khi được lĩnh tháng lương đầu tiên với 13 đồng (đã trừ 15đ tiền ăn), tôi cảm thấy vui mừng và nghĩ rằng mình đã “làm theo năng lực-hưởng theo lao động”.

 Thầy Hiệu trưởng đã giữ đúng lời hứa của mình: cuối tháng 7, Bằng tốt nghiệp Trường Phổ thông cấp 3 đã được đại diện nhà trường mang đến tận công trường để trao cho chúng tôi. Cầm tấm bằng được in rất đẹp trên giấy tốt khổ lớn có chữ ký ba tôi và con dấu của Sở Giáo Dục Hải Phòng, tôi lâng lâng vui sướng cảm thấy trình độ văn hóa của mình đã được ghi nhận, để một ngày kia có thể học lên đại học theo mơ ước bấy lâu.

 Sau bữa cơm chiều chủ nhật 2-8, Tài đến rủ Triệu và tôi ra thị trấn chơi. Ngồi trong một cửa hàng mậu dịch giải khát, chúng tôi trò chuyện rất nhiều về bạn bè và tương lai học tập của mình, rồi say mê với một bản nhạc hòa tấu tuyệt vời lần đầu tiên được nghe từ một chiếc máy quay đĩa nào đó phát ra làm rung động lòng người. Sau này chúng tôi sẽ biết đó là bản tango cổ điển danh tiếng “Chitarra Romana”. Nhưng chỉ vài giờ trước khi chúng tôi được nghe bản nhạc này, một sự kiện chấn động đã diễn ra: chiếc khu trục hạm Maddox của Mỹ hoạt động trên Vịnh Bắc Bộ xâm phạm hải phận Bắc Việt Nam bắn phá hai đảo Hòn Mê và Hòn Ngư thuộc tỉnh Thanh Hóa, đã bị 5 tàu tuần tiễu của Hải quân Nhân dân Việt Nam đánh đuổi. Không ai ngờ “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” đó sẽ trở thành cái cớ để Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua nghị quyết trao cho Tổng thống Johnson quyền “thực hiện mọi biện pháp cần thiết nhằm đánh lui mọi hành động tấn công vũ trang chống các lực lượng Hoa Kỳ và ngăn ngừa những hành động xâm lăng khác” để tiến hành cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân chống nước Việt Nam DCCH.

 

Trong tuần lao động mới, đội Duyên được giao thêm nhiệm vụ mới là hoàn thiện mặt bằng và bảo quản bờ các ruộng muối đã hoàn thành. Hoàn thiện mặt bằng tức là dùng trục đá kéo cho mặt ruộng trở nên phẳng lỳ, còn bảo quản bờ là dùng vồ đập đất để hàn gắn và bịt kín những chỗ nứt nẻ trên bờ ruộng (thường do cua cáy đào) cho nước mặn không thể thấm qua những chỗ đó. Cùng với một vài chị em nữ, tôi được đội trưởng ưu tiên phân công đi bảo quản bờ, vì việc đó được làm tự do theo từng cá nhân nên không nặng nề bằng những việc khác. Vừa làm việc vừa hồi tưởng về quãng đời học sinh tươi đẹp và hình dung triển vọng học lên đại học trong tương lai, tôi có thêm một vấn đề nữa phải suy tư: tại sao các bạn con tư sản lại bị gạt ra khỏi con đường lên đại học? Trong suốt 6 năm (hoặc 3 năm) cùng học với các bạn ấy, tôi thấy họ là những học sinh giỏi, tư cách đạo đức tốt và có nhiều tài năng, một số trong đó lại rất xinh đẹp. Vì thế, các bạn khác kể cả những người nghèo không hề ghét bỏ hay ghen tỵ với họ, mà luôn thân thiện, cảm phục và nhiều người yêu mến họ. Thật khó nói chính xác có bao nhiêu chàng trai đã từng mơ tưởng về Lũng Hà, Ngọc Hà hay Thanh Lê. Bạn Triệu của tôi từng thú nhận là đã mê đắm Ngọc Hà ngay từ hồi cùng học với người đẹp ấy ở cấp II Trần Phú. Trong danh sách những kẻ ái mộ Thanh Lê có cả Vũ Văn Ký là con liệt sĩ; và chẳng phải Bùi Trọng Tài con cán bộ cách mạng đã nặng tình với Đỗ Bắc Giang con gia đình tư sản hay sao? Còn nhà vô địch điền kinh Trần Thị Hiền khỏe đẹp và tài ba như thế thì có biết bao nhiêu kẻ ái mộ? Rất có thể hoàn cảnh gia đình khá giả đã giúp cho các bạn con nhà tư sản được giáo dục đầy đủ hơn những bạn con nhà nghèo, nhưng điều đó đâu phải là tội lỗi của họ? Giả sử giàu có là bằng chứng của tội bóc lột, thì cha mẹ họ đã lãnh đủ hậu quả tội trạng của mình rồi, sao còn bắt thế hệ con cái tiếp tục chịu thêm nữa? Khi còn đang học ở trường, nhiều bạn trong số đó đã quyết tâm “tu dưỡng” vươn lên Đoàn theo lý tưởng Đảng để thoát khỏi cái tai ách về lý lịch của mình. Giờ đây, những bạn như Bắc Giang hay Đoàn Điệp và Đoàn Điệt lại còn phấn đấu cao hơn qua lao động sản xuất tại nông trường và công trường. Bấy nhiêu sự tu dưỡng và phấn đấu liệu đã đủ để họ được coi là thuộc thành phần giai cấp công nhân? Còn những bạn chưa thể tu dưỡng phấn đấu đến mức đó thì số phận sẽ như thế nào? Cảm thấy mình được may mắn hơn họ, tôi thực sự xót xa cho các bạn ấy.

 

Chiều thứ tư mùng 5 tháng 8, kết thúc một ngày lao động vất vả như những ngày khác, chúng tôi kéo nhau đến bếp ăn tập thể để dùng bữa cơm chiều đúng lúc loa phóng thanh của công trường truyền đi buổi phát thanh thời sự của đài Tiếng nói Việt Nam. Như thường lệ, buổi này mở đầu bằng tín hiệu báo 6 giờ chiều, bản nhạc “Diệt phát xít” và lời giới thiệu đã thành công thức: “Đây là  tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa; truyền thanh trên các làn sóng điện 19, 25, 31, 41, 49 và 250 thước”. Nhưng tiếp đó, với một giọng nói xúc động khác thường, phát thanh viên xin kính mời toàn thể đồng bào và chiến sĩ nghe bản tin đặc biệt. Bản tin nói rằng hôm nay, kể từ 12 giờ 25 phút trưa cho đến 17 giờ chiều, 64 lần chiếc máy bay chiến đấu Mỹ xuất phát từ các tàu sân bay đậu ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, chia làm 3 đợt đã tấn công đánh phá thành phố Vinh-Bến Thủy (Nghệ An), cảng Lạch Trường (Thanh Hóa), thị xã Hòn Gai (Quảng Ninh) và cảng Sông Gianh (Quảng Bình). Với tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu cao, bộ đội phòng không và hải quân phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đã anh dũng chiến đấu giáng trả quân địch những đòn đích đáng để bảo vệ lãnh thổ, vùng trời và vùng biển của Tổ Quốc, bắn rơi 8 máy bay Mỹ và bắt sống một phi công là trung úy Everett Alvarez…

 Tất cả mọi người đều sửng sốt trước bản tin đặc biệt này. Mãi về sau tôi mới được biết sự kiện diễn ra ngày hôm đó chính là chiến dịch “Mũi tên xuyên” (Operation Pierce Arrow) của không lực Hoa Kỳ nhằm đánh vào những căn cứ xuất phát để vận chuyển vũ khí của “Bắc Việt” cho “Việt Cộng” ở miền Nam. Sự kiện ấy đã kết thúc 10 năm hòa bình, báo hiệu miền Bắc nước ta bắt đầu bước vào một cuộc chiến tranh mới có lẽ là vô cùng tàn khốc. Chiến tranh sẽ kéo dài bao nhiêu năm? Chẳng ai đoán trước được. Sẽ có bao nhiêu người bị giết trong cuộc chiến này? Không ai lường được hết; chỉ biết rằng xương máu con người sẽ lại ngập tràn trên đất nước đau thương. Mỗi con người đều là sản phẩm duy nhất của tạo hóa, chỉ tồn tại một lần và không lặp lại lần thứ hai. Vậy mà tại sao người ta lại cứ phải giết nhau mãi thế?

HẾT TẬP 1

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác