NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯƠC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 6, phần 4

( 16-06-2014 - 03:43 PM ) - Lượt xem: 525

Thật không ngờ là buổi nghe thầy hiệu trưởng nói chuyện tại sân trường hôm đó lại chính là cuộc họp mặt cuối cùng của toàn thể học sinh lớp 10 (niên khóa 1963-1964) của trường Ngô Quyền. Sau đó, chúng tôi không được tổ chức một lễ bế giảng tốt nghiệp ra trường một cách trọng thể để kết thúc đời học sinh tươi đẹp như các khóa trước, nên không còn có dịp nào được gặp đông đủ các thầy cô và bè bạn trước lúc chia tay.

4. Những người tình nguyện

Sáng thứ hai 13-4, ngay sau lễ chào cờ đầu tuần, thầy Hiệu trưởng Hoàng Hỷ giới thiệu các ngành nghề tuyển sinh đại học cho học sinh toàn trường, trước hết là cho các học sinh lớp 10. Chúng tôi lắng nghe chăm chú để có thể chọn đúng trường và khoa trong kỳ thi tuyển vào đại học. Thầy khuyên các em hãy chọn ngành nghề theo  khả năng và sở trường của mình, không nên chạy theo danh tiếng nghề nghiệp trong xã hội, thí dụ không nên tin theo câu truyền khẩu rằng “ Nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách Khoa, Sư Phạm thông qua, Nông Lâm bỏ xó”. Sau khi kết thúc bài nói của mình, thầy trao Giấy Khen của trường cho Phạm Đình Thịnh về thành tích trong kỳ thi học sinh giỏi toán toàn miền Bắc vừa qua ( cuộc thi không có giải nhất, giải nhì thuộc đội Hà Nội, giải ba thuộc về Thịnh của đội tuyển Hải Phòng).

 Nghe bài nói của thầy Hiệu trưởng, tôi lại nôn nao muốn được thi vào đại học. Tự  biết rằng mình không thích và cũng chẳng có khả năng về toán và các môn khoa học kỹ thuật, tôi cảm thấy mình có nhiều năng khiếu khác nhau về nghệ thuật và văn chương, rất khó để chọn lấy một ngành. Nhưng tôi cũng cho rằng âm nhạc và hội họa chỉ là những thú vui giải trí có thể tự học cho đời thêm tươi, mà không cần phải gắn bó suốt đời với những nghề nghiệp ấy. Vì vậy, tôi cũng không có dự định thi vào nhạc viện, còn Học viện Mỹ thuật thì lại ngừng tuyển sinh năm ấy. Giống như Chu Văn Mười, tôi thích sáng tác văn học để trở thành nhà văn, và nghĩ rằng muốn vậy thì cần có vốn sống và kiến thức sâu rộng về xã hội. Vốn sống sẽ có khi mình tham gia vào cuộc sống lao động xây dựng quê hương, còn kiến thức sâu rộng thì phải tìm trong môn lịch sử mà mình vốn ham thích, chứ không phải ở khoa văn. Do đó, tôi nghĩ mình sẽ thi tuyển vào khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp.

 Thế rồi đến lúc được xem thông báo về các điều kiện dự thi đại học, tôi sững người khi biết rằng mình chưa đủ tuổi để dự kỳ thi này. Vậy thì phải tính sao bây giờ? Đem nỗi băn khoăn ấy ra tâm sự với má, tôi nhận được lời khuyên nên học lại để sang năm thi đại học. “Một năm học lại ấy sẽ quyết định đời con ba bốn chục năm sau!”- má khẳng định như vậy. Để thuyết phục hơn nữa, má bảo tôi hãy lấy trường hợp của anh Tín để làm gương. Tôi biết anh Tín đã xung phong đi lao động để “đắp xây đời vui mới”, thế rồi cuộc đời anh lại lận đận kém vui, có lẽ vì anh chưa tốt nghiệp đại học. Nhưng tôi còn có gương Paven và rất nhiều anh hùng cách mạng khác để noi theo, nên vẫn chưa dứt khoát chọn con đường nào. Khi tâm sự với ba, tôi nhận được lời khuyên: “ Trước mắt, con phải cố gắng thi tốt nghiệp phổ thông cho tốt, rồi sau đó ba có thể giúp con tìm được hướng đi đúng”. Tôi chưa hiểu ba sẽ giúp mình tìm hướng đi như thế nào, nhưng lời khuyên này đã giúp tôi tạm thời giải tỏa mọi nỗi băn khoăn để tập trung ôn tập cho kỳ thi tốt nghiệp.

 Một hôm má đi mua gạo, rồi mang về không chỉ gạo với ngô xay như mọi khi, mà còn thêm một gói bột khá to. Má nói: “ Tiêu chuẩn lương thực bây giờ lại có thêm bột mì ăn độn thay một phần ngô!”. Trông bột mì trắng mịn rất thích mắt, nhưng má không biết làm cách nào để có thể ăn được nó, ba  liền tuyên bố sẽ làm bánh cho má xem. Sau bữa cơm tối, ba kéo tôi và em Hùng vào bếp để làm bánh. Nhồi bột với nước, trứng và đường thành một chất dẻo, cán mỏng rồi cắt nó ra thành từng khúc , thêm một động tác trang trí cho mỗi khúc bột rồi đem rán trong chảo mỡ cho nó phồng lên, chúng tôi đã làm được một món ngon mà ba gọi là “bánh cravat” ( hồi nhỏ ở quê nhà ba đã được bà nội dạy làm). Làm bánh cùng ba chỉ là một việc rất nhỏ, vậy mà qua đó tôi cũng cảm thấy sự ấm áp trong cuộc sống gia đình, khiến mình khó rời khỏi ba má để đi lao động ở một chốn xa xôi nào đó.

 

Kết quả kiểm tra cuối học kỳ chưa tốt khiến tôi hiểu rằng muốn đậu kỳ thi tốt nghiệp mình  phải cố gắng rất nhiều, nhất là với 3 môn toán, lý, hóa. Được ba má cho phép, tôi lấy phấn viết đầy các công thức toán và vật lý lên những cánh cửa và tủ trong nhà để có thể “ôn tập” suốt ngày mọi nơi mọi lúc. Trong các buổi học nhóm, chúng tôi cũng bớt tán dóc để có thể học tập nghiêm túc hơn. Do học tập căng thẳng, bệnh đau đầu của tôi tăng lên, cứ 3-4 ngày lại bị một cơn đau chảy nước mắt. Sau khi chụp “x quang”, bệnh viện bảo tôi bị viêm xoang và cho uống kháng sinh, nhưng những cơn đau đầu vẫn cứ đến khiến tôi phải xức dầu cù là và uống aspirine cho đỡ đau để có thể tiếp tục học bài.

 Tôi quyết tâm không đọc sách nào khác ngoài các cuốn sách giáo khoa, quyết không đi xem phim để dành trọn các buổi tối cho học tập. Tuy nhiên, cũng có một vài ngoại lệ. Do Đoàn trường giới thiệu, tôi đã tìm đọc bản dịch cuốn tiểu thuyết “Dũng cảm” của Vêra Ketlinskaiya viết về các đoàn viên thanh niên cộng sản Liên Xô đi khai hoang ở vùng Viễn Đông, trong đó ca ngợi những người dũng cảm đi chinh phục thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt ở đây, phê phán những kẻ hèn nhát rời bỏ đội ngũ để tìm chỗ nương thân. Rõ ràng cuốn sách này có tác dụng động viên tinh thần chúng tôi trong việc đi lao động xây dựng quê hương. Tiếp đó, nhờ có vé mời do cậu Bính gửi biếu, cả nhà tôi lại được xem vở kịch“Đứng gác dưới ánh đèn nê ông” của Trung Quốc, do Đoàn kịch nói Trung ương biểu diễn. Vở kịch phê phán các chiến sĩ Quân Giải phóng Trung Quốc bị cuộc sống phồn hoa nơi đô thị Thượng Hải cám dỗ, kêu gọi họ trở về với lối sống thanh bạch ở khu căn cứ địa nông thôn và rừng núi. Khi xem vở kịch này, tôi không hề biết rằng nó được sáng tác để phục vụ cho “Phong trào Giáo dục xã hội chủ nghĩa” do Bác Mao phát động từ năm 1963 để giáo dục CNXH cho cán bộ và nhân dân nước này về chính trị, kinh tế, tổ chức và tư tưởng. Thực hiện phong trào này, đông đảo thanh niên trí thức ở các thành thị Trung Quốc đã được đưa đến các vùng nông thôn và miền núi hoang vu hẻo lánh, để những người bần cố nông ở đó cải tạo họ. Cuộc vận động thanh niên trí thức Hải Phòng đi lao động “xây dựng quê hương” giống hệt như phong trào trên ở Trung Quốc. Vậy mà khi ấy chúng tôi cứ tưởng cuộc vận động đó là để thực hiện lý tưởng XHCN của Đảng ta theo gương Liên Xô.

 

Kỳ thi Tốt nghiệp trường Phổ thông cấp III bắt đầu bằng bài thi toán vào ngày 10-6. Đây là môn khó nhất đối với mình, nên tôi đã ôn tập rất kỹ. Đêm trước hôm thi, tôi quyết định đi ngủ sớm để ngày mai có đầu óc tỉnh táo mà làm bài. Nằm một lúc trong trạng thái nửa mơ nửa tỉnh, tôi cảm thấy như có linh tính mach bảo rằng mình chưa thật vững về quy tắc “xét dấu tam thức bậc 2”. Tôi liền trỗi dậy bật đèn, mở sách giáo khoa ra xem đi xem lại quy tắc này và những bài tập của nó cho đến khi nhớ kỹ, rồi mới chui vào màn yên tâm nằm ngủ. Sáng hôm sau đến trường dự thi, tôi kinh ngạc thấy các bài tập theo quy tắc này chiếm một phần lớn trong đề thi toán. Nhờ đó, tôi đã làm bài tốt. Hôm sau thi vật lý, một môn hóc búa nữa, nhưng tôi làm bài cũng tạm được. Ngày tiếp theo thi văn, chúng tôi được chọn 1 trong 2 đề về nghị luận xã hội-chính trị hoặc nghị luận văn học. Tôi đã chọn đề nghị luận văn học với yêu cầu bình luận và chứng minh bài thơ của Hoàng Trung Thông viết về tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch:

Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp

Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh

Vần thơ của Bác vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.

Đề này không có gì khó và tôi đã viết trôi chảy với những luận cứ luận điểm rõ ràng cùng những câu thơ minh họa chính xác. Đến hôm thi vấn đáp sinh vật, tôi bốc thăm được một câu hỏi về học thuyết Mitsurin-Lưxencô của Liên Xô mà mình đã chuẩn bị kỹ, nên trình bày rất tốt khiến hai giám khảo là thầy Hàm và cô Nga tỏ vẻ hài lòng. Bỗng cô Nga hỏi thêm: “Thời kỳ hoạt động thứ hai của Mitsurin chủ yếu là thành công hay thất bại?” Tôi nhớ lời dạy của thầy Hàm nên trả lời dõng dạc: “Thưa cô, thất bại!”. Cô hỏi lại: “Em có chắc như vậy không?”, tôi đáp: “Dạ, chắc!”. Kết thúc buổi thi, các bạn cùng lớp (do thầy Hàm dạy) khen tôi trả lời đúng, còn các bạn lớp khác (do cô Nga dạy) lại bảo tôi  sai. Thì ra thầy và cô có quan điểm khác nhau về vấn đề này! Vì thế, đang tự tin mình sẽ được điểm 5, tôi bỗng trở nên hoang mang không hiểu mình sẽ được mấy. Sau đó chưa đầy một năm, tôi sẽ được biết rằng không phải thầy Hàm hay cô Nga, mà chính cái học thuyết Mitsurin-Lưxencô về sự thích nghi giữa cá thể với môi trường ấy đã bị phát hiện là sai bét và không còn ai học nó nữa, mọi người phải chuyển sang học học thuyết Mandel-Morgan của Mỹ về gen di truyền.

 Sáng thứ hai 15-6 thi vấn đáp địa lý. Đây là môn tủ của mình, nên tôi trả lời hầu như hoàn hảo, lại còn vẽ cả bản đồ trên bảng theo trí nhớ. Hôm sau thi vấn đáp môn cuối cùng là hóa học, tôi bốc thăm được một câu hỏi về công thức điều chế cao su butađien. Viết nháp xong, tôi bình tĩnh lên bảng trình bày cái công thức rất dài và phức tạp đó trước hai vị giám khảo quen thuộc là thầy Tiêu Vân và thầy Trọng Dương. Bỗng nghe tiếng các thầy nhắc: “Cẩn thận, em thuôc bài nhưng đang có sự nhầm lẫn!”. Tôi giật mình nhìn lại nhưng không phát hiện được chỗ sai. Được phép về chỗ để suy nghĩ thêm 5 phút, tôi phát hiện ra rằng mình viết đúng , nhưng đó là công thức của một hợp chất khác! Tôi xin được lên viết lại và lần này thì đã thành công. Các thầy nhận xét: “Em viết hoàn toàn đúng, nhưng không thể được điểm tối đa vì đã có sự nhầm lẫn”. Tôi chỉ còn biết cảm ơn và nghĩ bụng: thật hú vía, nếu các thầy không cho suy nghĩ lại thì mình đã bị trượt oan môn hóa!

 

Thi xong, tôi nhẹ cả người vì cảm thấy rằng mình sẽ đậu tốt nghiệp. Nhưng ngay khi mọi người còn chưa rời khỏi phòng thi, toàn thể học sinh lớp 10 đã được lệnh tập trung tại sân trường để nghe thầy Hiệu trưởng nói chuyện. Khác với cuộc nói chuyện cách đây 2 tháng, lần này thầy không đả động gì đến việc lựa chọn ngành nghề ở trường đại học, mà kêu gọi toàn thể học sinh vừa thi tốt nghiệp hăng hái đi lao động sản xuất để xây dựng quê hương. Thầy hứa hẹn rằng nhà trường sẽ theo dõi từng bước chân của những cựu học sinh đi tham gia lao động, sẽ gửi bằng tốt nghiệp đến tận nơi mà các em tham gia lao động sản xuất. Thầy cho biết Đảng và Nhà nước vẫn quan tâm đến nguyện vọng học lên đại học của các em, khi có điều kiện sẽ gọi từng người về thi đại học. Tiếp đó, đồng chí Ngô Quý Đô-Bí thư Đoàn trường  thông báo hai nơi sẽ tiếp nhận học sinh trường ta về lao động là Công trường xây dựng Đồng Muối phơi nước Đồ Sơn (gọi tắt là Công trường Muối Đồ Sơn) và Nông trường Vinh Quang ở huyện Tiên Lãng, đều thuộc phạm vi Hải Phòng. Anh Đô nói rằng hồ sơ xin thi đại học của các bạn nộp lên Sở Giáo Dục hiện nay chưa đủ giá trị và sẽ không được xem xét. Chỉ khi nào các bạn được chứng nhận là đã kinh qua lao động sản xuất thì mới được xét đi thi đại học. Vì thế, các bạn nên chuẩn bị tinh thần đi lao động trong khoảng 3 năm rồi sẽ quay về thi đại học.

 Lời lẽ của thầy Hiệu trưởng rất thuyết phục, khiến chúng tôi cảm thấy việc đi lao động vừa là một nghĩa vụ vinh dự lại vừa có ích cho mình. Phát biểu của anh Đô cho mọi người thấy chỉ còn đi lao động là con đường duy nhất đúng, và nơi sẽ đến lao động cách nội thành không quá xa nên cũng dễ chấp nhận. Do đó, khi cuốn “Sổ vàng” của Thành đoàn lại được đem ra, đông đảo học sinh đã ghi tên đăng ký đi lao động (viết rõ cả nơi mình muốn đến). Khi thấy Nguyễn Đăng Chúc, Ngô Như Thân, Trần Trọng Triệu, Phạm Đình  Thịnh và Bùi Trọng Tài đã ghi tên trong sổ cùng nhiều bạn khác, tôi cảm thấy vui nếu được đi cùng các bạn ấy, nhất là có thể chọn Đồ Sơn là nơi rất quen thuộc với mình,  nên cũng lên đăng ký đi Công trường Muối Đồ Sơn.

 Thật không ngờ là buổi nghe thầy hiệu trưởng nói chuyện tại sân trường hôm đó lại chính là cuộc họp mặt cuối cùng của toàn thể học sinh lớp 10 (niên khóa 1963-1964) của trường Ngô Quyền. Sau đó, chúng tôi không được tổ chức một lễ bế giảng tốt nghiệp ra trường một cách trọng thể để kết thúc đời học sinh tươi đẹp như các khóa trước, nên không còn có dịp nào được gặp đông đủ các thầy cô và bè bạn trước lúc chia tay.

 Khi nghe tôi kể việc mình đăng ký đi lao động, má nói: “ Con không nghe lời má, rồi sau này gặp khó khăn sẽ phải hối tiếc!”; còn ba thì bảo: “Ba tôn trọng quyết định của con, nếu con gặp khó khăn thì ba sẽ giúp đỡ!”. Một số bạn bè cũng ngạc nhiên về việc tôi đăng ký đi lao động, nhưng họ không tin rằng tôi sẽ đi, vì nghĩ ông Giám đốc Sở Giáo Dục sẽ tìm được cách xoay sở để con mình thi đại học. Trương Kim Hiếu còn nói thẳng với tôi rằng: “Nếu cậu nói với ba cho mình được thi đại học, mình sẽ tặng cậu chiếc đàn accordeon!”. Tôi lắc đầu bảo: “Ba mình không can thiệp đâu!”.

 Một ngày đầu tháng 7-1964, toàn thể học sinh đã đăng ký đi lao động được tập trung tại hội trường Thành Đoàn để học chính trị. Ngay trên cổng vào sân hội trường, một băng khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng đập vào mắt: “Nhiệt liệt chào mừng những học sinh tình nguyện đi lao động xây dựng quê hương”. Thầy hiệu trưởng Hoàng Hỷ, Bí thư Đoàn trường Ngô Quý Đô và mấy thầy khác cũng có mặt để chúng kiến và đưa tiễn những học sinh đi lao động tình nguyện. Bí thư Vương Đình Kế mở đầu hội nghị bằng một bài phát biểu nồng nhiệt chào mừng “các chiến sĩ tình nguyện”, kêu gọi chúng tôi gác bỏ mọi quyền lợi riêng tư để phục vụ cho lý tưởng cao quý của Đảng ta, chúc chúng tôi “chân cứng đá mềm, đi đến nơi về đến chốn”. Tiếp theo, một cán bộ của Ban Tuyên huấn Thành Ủy lên diễn đàn giảng về tình hình và nhiệm vụ cách mạng ở hai miền trong giai đoạn hiện nay. Nhìn quanh hội trường không thấy Bùi Minh Thắng, tôi quay sang nói với Triệu về phát hiện của mình. Triệu lại hỏi Tài: “Thắng đâu?”, Tài đáp “Không biết, chắc là đang bận công tác Đoàn!”.

 Buổi chiều, chúng tôi được nghe đại diện của các công trường và nông trường báo cáo về điều kiện sinh hoạt và lao động ở các nơi đó. Ông Khanh đại diện Ban Chỉ huy  Công trường Muối Đồ Sơn cho biết nơi đây có đủ điện nước, có bệnh xá bảo vệ sức khỏe cho công nhân, có sân bóng chuyền, bàn bóng bàn và một số phương tiện giải trí khác. Theo lời ông, khi về công trường chúng tôi sẽ được hưởng tiêu chuẩn 15kg gạo/ tháng (nghĩa là hơn tiêu chuẩn ở nhà 1,5 kg) và 0,5 kg thịt/tháng (hơn ở nhà 0,2kg). Những lời ông nói cho thấy rằng cuộc sống ở công trường khá dễ chịu. Học chính trị xong, chúng tôi được mời xếp hàng chụp ảnh ở trước cửa vào hội trường “để làm tư liệu lịch sử về các chiến sĩ tình nguyện đầu tiên đi lao động xây dựng quê hương”- Vương Đình Kế nói. Hàng ngũ những người sắp đến nông trường Vinh Quang rất đông, tôi thấy có Trần Văn Phao, Đỗ Bắc Giang, Đỗ Thúy Nga và một số bạn khác của lớp mình đứng cùng Đồng Minh Hoàng, Vũ Như Ngà, Lê Văn Phúng, Nguyễn Văn Sơn của 10A, Nguyễn Tiến Vượng, Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Phương Khuê ở 10C với hàng chục bạn khác thuộc 10B và ở trường Thái Phiên. Hàng ngũ những người sắp đi công trường Muối Đồ Sơn từ cả hai trường Ngô Quyền và Thái Phiên cũng đông không kém, trong đó riêng lớp tôi có Chúc, Tài, Thân, Triệu,  Nguyệt, Thịnh, Quốc và một số bạn khác. Rời hội trường Thành đoàn, Triệu, Nguyệt và tôi rủ nhau đến Vườn hoa Nhà Kèn để thuê thợ chụp một bức ảnh kỷ niệm tình bạn giữa ba đứa.

 Dù chưa phải là chiến sĩ như ông Bí thư đã gọi, tôi vẫn cảm thấy tự hào với danh hiệu “những người tình nguyện”, nên đã hạ quyết tâm ra đi cùng các bạn. Nhưng khi đi khám sức khỏe để chuẩn bị lên đường, tôi lại nhận được kết luận “không đủ sức khỏe”. Tôi hiểu lý do của kết luận này: cơ thể mình rất gầy, chỉ cân nặng 40 kg trong khi cao 1,68m. Nhìn thể tạng đó, chắc bác sĩ nghĩ rằng tôi không thể lao động nặng, chưa nói đến bệnh đau đầu mà mình đã khai. Nhưng tôi vẫn tin rằng mình có thể đi lao động được (như các đợt gặt mùa đã qua); còn nếu không đi lao động và cũng không được thi đại học thì mình sẽ trở nên lạc lõng với bạn bè, và trở thành kẻ ngồi không ăn bám cha mẹ. Thế là giấu tất cả mọi người, lần đầu tiên và duy nhất trong đời tôi làm một việc gian dối về giấy tờ: lấy cồn xóa mờ chữ “không” trong kết luận ở phiếu khám sức khỏe và nộp lên trên. Sự bôi xóa của tôi không kỹ lưỡng, nhưng cũng chẳng bị ai phát hiện. Cho đến khi nhận được quyết định đi công trường, tôi mới mang sổ gạo gia đình ra cửa hàng để cắt tiêu chuẩn của mình trong sổ, và nhận “phiếu chuyển lương thực” đưa tiêu chuẩn đó về công trường Muối. Phiếu này cùng với “phiếu thực phẩm” của riêng mình được nộp cho công trường để tôi có thể ăn cơm tại nơi ấy. Vào lúc tôi chuẩn bị lên đường, ba má tôi nhận được mẫu kê khai để Công an thành phố lập “Sổ Hộ khẩu Gia đình”. Tên tôi vẫn được kê khai trong mẫu này, do đó tôi chưa phải “cắt hộ khẩu” để chuyển về nơi ở mới là Công trường Muối Đồ Sơn.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác