NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯƠC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 6, phần 3

( 31-05-2014 - 08:05 PM ) - Lượt xem: 514

Ngay cả đức cha đáng kính Môngtaneli cũng bị sức mạnh bản năng đó lôi kéo, nên đã bất chấp giới luật của giáo hội mà bí mật giao hợp với phụ nữ để sinh ra cậu con trai Áctơ (sau trở thành nhà cách mạng lẫy lừng với bí danh “Ruồi trâu”)

3. Bản năng và lý tưởng

Lên lớp 10, tôi không chỉ gặp khó khăn từ chương trình học, mà còn phải đối phó với bệnh đau đầu không hiểu do đâu mới phát (đã đi khám ở bệnh viện, nhưng điều trị không khỏi). Vì bệnh này mà tôi thường hay đi học muộn, thỉnh thoảng đang ngồi trong lớp lại phải gục đầu xuống bàn vì đau nhức. Bởi thế, kết quả học tập của tôi lại giảm sút so với lớp 9 và điều đáng buồn là điểm số sụt giảm ở chính môn văn mà mình vốn có ưu thế. Bài luận đầu tiên tôi nhận được điểm 3 với lời phê của thầy:  “Hành văn trôi chảy nhưng luận cứ, luận điểm không rõ ràng”. Thất vọng về kết quả bất ngờ đó, tôi mang bài lên hỏi thầy Lương về ý nghĩa của lời phê. Thầy bảo tôi phải phân tích đề cho thật kỹ để tìm ra các luận điểm chứng minh cho đề, rồi tìm tiếp những luận cứ chứng minh cho từng luận điểm. Điều này tôi đã được học ở các lớp dưới, nhưng có lẽ vận dụng chưa tốt mà chỉ chú ý  trau chuốt câu văn. Đến bài luận sau, tôi lập dàn ý thật chi tiết rồi mới viết theo từng luận điểm, nhưng kết quả vẫn 3. Tôi buồn bực lại mang bài lên hỏi. Thầy bảo tuy đã có một vài luận điểm, nhưng trình bày chưa rõ ràng và thiếu những luận cứ minh họa cho chúng. Nửa tin nửa ngờ, cảm thấy hình như thầy đã chấm bài theo ấn tượng rằng mình không biết phân tích  luận điểm, tôi bắt đầu mất thiện cảm với thầy. Một hôm đang giảng về lòng yêu thương người nghèo của Tố Hữu, thầy bảo: “Tôi nhớ lắm…” để chuẩn bị đọc một bài thơ minh họa cho ý đó, nhưng rồi lại ấp úng không đọc được bài nào! Tôi được dịp phá lên cười khiến cả lớp cười theo, vì thầy bảo “nhớ lắm” nhưng hóa ra lại chẳng nhớ gì! Thầy vừa cười vừa giở giáo án ra đọc bài thơ “nhớ lắm” đó, rồi bào chữa: “Đôi lúc người ta cũng đãng trí!”. Sau vụ này, tôi sợ thầy ghét mình đã có ý châm chọc, nên càng phải học văn cho thật nghiêm túc. Đến bài luận thứ ba, tôi nghĩ thật kỹ đề bài, lập dàn ý chi tiết với đủ luận cứ luận điểm. Cẩn thận hơn, trong bài viết tôi lấy thước gạch dưới từng luận điểm và gạch đầu dòng mỗi luận cứ ( với thâm ý là để thầy nhìn cho thật rõ!). Quả nhiên bài này được điểm 4 , được thầy khen và còn lấy nó để làm thí dụ cho cả lớp. (Nhưng thầy cũng nói nhỏ với tôi rằng: “Lần sau không cần gạch dưới nữa!”). Kể từ đó, tôi không còn bị điểm 3 và nhận thấy mình thực sự tiến bộ về cách viết văn nghị luận nhờ hiểu rõ tầm quan trọng của việc phân tích các luận điểm  luận cứ. Chính là nhờ sự rèn luyện của thầy qua những bài văn lớp 10 ấy mà sau này tôi có một năng lực rất vững để gặt hái nhiều thành quả trên con đường học vấn của mình. Vì vậy, thầy Phan Tích Lương kính mến là người mà tôi mang ơn suốt đời. 

 Trong khi chúng tôi đang vùi đầu vào sách vở ở trường, thì tại miền Nam diễn ra một sự kiện chấn động: Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm và giết chết hai anh em Diệm-Nhu ngay tại Sài Gòn vào ngày 1 tháng 11, đưa Hội đồng Quân nhân Cách mạng do tướng Dương Văn Minh đứng đầu lên cầm quyền. Đúng vào thời gian này, cuốn sách “ Từ tuyến đầu Tổ Quốc” của Nhà xuất bản Văn Học được phát hành rộng rãi và Đoàn trường kêu gọi chúng tôi tìm đọc. Nội dung sách bao gồm hàng loạt bức thư, được giới thiệu là do đồng bào miền Nam viết gửi ra Bắc. Sách này miêu tả những tội ác khủng khiếp của Mỹ-Ngụy đối với nhân dân miền Nam: chặt đầu, mổ bụng moi gan uống mật “Việt cộng”; xào nấu thịt người ăn để nhắm rượu; tra tấn phụ nữ bằng cách bỏ rắn vào quần của các chị em; đâm chém bừa bãi và đẩy hàng trăm người thương tích đầy mình xuống những hầm cạn dưới ruộng lầy, rồi cho trâu kéo bừa giày xéo lên những thân thể đang ngắc ngoải trong bùn ấy, biến đám ruộng lầy thành bể máu… Đồng thời, sách tường thuật phong trào cách mạng nổi lên khắp miền Nam tiêu diệt bọn ác ôn, phá tan các ấp chiến lược và chính quyền địch. Đọc những dòng như vậy, ai cũng phải sôi máu căm thù muốn lên tuyến đầu Tổ Quốc tham gia chiến đấu cùng đồng bào miền Nam để trừng trị bọn ăn thịt người man rợ. Ít lâu sau, đươc gặp lại anh Trần Văn Nức, học sinh cũ của ba tôi nay mang bút danh Trần Thế Tuấn và là một trong những người tham gia làm cuốn sách này ở Hà Nội, tôi mới biết đó là tác phẩm do Đảng chỉ đạo thực hiện để làm công tác tư tưởng cho cán bộ và bộ đội vào Nam chiến đấu ( được bí mật gọi là “đi B”).

 

là cuối năm học  sẽ phải thi tốt nghiệp, học sinh lớp 10 chúng tôi còn phải đến Xưởng Trường (đặt tại trường Hưng Đạo cũ) để học về kỹ thuật tiện, phay, bào và điện (mỗi tuần một buổi), rồi lại phải đi lao động theo kế hoạch đã được trường dự kiến. Trong cuộc lao động lần này, các lớp  không chia nhau về các hợp tác xã như trước, mà cả 4 lớp tập trung đến hẳn Nông trường Quốc doanh Ninh Hải để tham gia gặt mùa. Mỗi lớp cử 2 đoàn viên đi trước để sắp xếp chỗ ở cho mọi người, sau đó ô tô của nông trường về thành phố đón từng lớp chở đi. Trên đường đi bằng xe tải đến nông trường, chúng tôi cảm thấy mình giống như các thành viên nông trường của Liên Xô từng được thấy trong phim, nên đã hát vang bài ca ưa thích có nhịp điệu sôi nổi “Mùa gặt bên sông Cubăng”.

 Xe tiến qua cổng nông trường và đậu lại, chúng tôi thấy Trần Văn Nguyệt và Bùi Trọng Tài chạy ra đón. Tài chìa tay cho Đỗ Bắc Giang ở trên xe nắm lấy, rồi thận trọng đỡ Giang đeo ba lô xuống xe trông thật là tình tứ! Bọn con trai chúng tôi thì nhảy ào xuống rồi giúp mấy cô gái cùng xuống với mình. Chúng tôi được đưa về lán tập thể của nông trường (nam riêng, nữ riêng), 4 người nằm chung nhau trên một chiếc sạp tre có trải chiếu, tất cả đều ăn tại bếp ăn tập thể. Tôi rất vui khi được nằm chung một sạp với Nguyệt và Triệu, lại có thêm Tài cũng khá thân thiết. Tài hơn tôi 2 tuổi, tầm vóc thấp lùn nhưng to ngang, trán cao và thường đeo kính cận trông có vẻ bác học nhưng lao động chân tay rất giỏi.

 Các nông trường viên có quần áo bảo hộ lao động màu xanh, nhiều người còn đi ủng trông khác hẳn bà con nông dân ở các hợp tác xã. Rõ ràng là nông trường Việt Nam đã gần giống với nông trường ở Liên Xô. Tuy nhiên, cách gặt hái ở nông trường lại giống như ở các hợp tác xã, tức là dùng những chiếc liềm hái cổ truyền, chứ không có máy gặt đập liên hợp hiện đại như ở các nông trường trong phim Liên Xô. Do đã biết sử dụng liềm hái qua các chuyến đi An Lư và Quy Tức, nên giờ đây chúng tôi gặt hái khá thành thạo, vừa làm vừa trò chuyện và vui đùa, lúc nào mệt cứ tự động nghỉ  mà cũng thu được những đống lúa chẳng khác bao nhiêu so với những đống của các nông trường viên.

 Ăn cơm tập thể ở nông trường cũng rất vui, không phải nộp tem gạo mà cơm không độn ngô, nhưng cơm và thức ăn hơi ít nên chúng tôi vẫn cảm thấy chưa đủ no. Xung quanh nông trường lại không có hàng quán nào để có thể “ăn mảnh” được, đành phải tìm cách khác.  Tài rủ Triệu và tôi tranh thủ giờ nghỉ đi bắt cá ở một số kênh mương. Mượn được nồi, lại xin đươc một số rau củ và gia vị, Tài trổ tài chế biến một món khá thơm ngon. Nguyệt lại phát hiện một rổ cơm cháy còn đặt trong nhà bếp tập thể sau khi cơm đã được chia cho các mâm. Thế là cả bốn chúng tôi có một “bữa phụ” với cơm cháy và món “ca ry củ đậu cá rô” mà Bùi Trọng Tài là tác giả. “Bữa phụ” này được lặp lại mấy lần đã trở thành kỷ niệm sâu sắc của chúng tôi trong chuyến đi gặt mùa ở nông trường Ninh Hải. Còn một kết quả nữa cũng đáng được ghi nhận: trong suốt đợt lao động, tôi không bị một cơn đau đầu nào cả.

 Trở về thành phố, chúng tôi chăm chú theo dõi Đại hội Thể thao Các Lực Lượng Mới Trỗi Dậy (GANEFO) được tổ chức tại Inđônêxia với 51 nước tham dự. Trong trận đấu bóng đá tranh huy chương đồng của Đại hội, đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà Hải Phòng đã đóng góp tiền vệ đội trưởng Hoàng Kim Dịp, thủ môn Duy Bỉnh Koóng và tiền đạo Túc “Gù”, đã thủ hòa với đội Argentina lừng danh và chỉ chịu thua vì thiếu may mắn khi trọng tài tung đồng xu để quyết định đội thắng. Tiếp theo GANEFO, mọi người lại được nghe một tin chấn động mới: Tổng thống Hoa Kỳ John Kennedy bị ám sát chết tại bang Texas vào ngày 22 tháng 11, và Phó Tổng thống Lyndon Johnson trở thành Tổng thống mới của nước Mỹ.

 Cuối tháng 12-1963, Hồ Chủ tịch kêu gọi Đảng và Chính phủ đẩy mạnh phong trào “Ba xây-Ba chống” do Bác phát động từ mùa hè năm ngoái mà cho đến nay vẫn chưa có chuyển biến đáng kể. Ba xây là “nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế-tài chính, cải tiến kỹ thuật”; còn Ba chống là “chống tham ô, chống lãng phí, chống quan liêu”. Phong trào này nhằm chống ngay những người cắt tóc cao, mặc áo đại cán và đi dép cao su rất giản dị nhưng lại biển thủ và làm thất thoát rất nhiều tài sản ở các cơ quan xí nghiệp nhà nước, bòn rút sức lao động của nông dân trong các hợp tác xã nông nghiệp. Vì những nhân vật này nằm ngay trong bộ máy Đảng và Nhà nước ở cả thành thị và nông thôn, nên việc đấu tranh với họ khó hơn nhiều so với cuộc đấu tranh chống bọn càn quấy mặc quần ống tuýp - tóc đít vịt.

 

Đầu năm 1964, tại Sài Gòn lại có đảo chính nữa: các tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm lật đổ chính quyền Dương Văn Minh, thành lập chính phủ mới do Nguyễn Khánh làm thủ tướng. Báo chí và đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam bình luận rằng chính quyền Sài Gòn đã lâm vào tình thế khủng hoảng nghiêm trọng, trong khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam đã kiểm soát được 2/3 lãnh thổ ở nông thôn miền Nam, phá banh và phá rã hàng loạt “ấp chiến lược” của Mỹ-ngụy. Đêm giao thừa đón năm mới Giáp Thìn (1964), Bác Hồ đọc thơ chúc Tết như sau:

      Bắc Nam như cội với cành,

Anh em ruột thịt , đấu tranh một lòng.

Rồi đây thống nhất thành công,

Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.

Mấy lời thân ái nôm na,

Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân.

 

Bài thơ này không nói về đường lối cách mạng ở hai miền, mà chỉ bày tỏ tình nghĩa Bắc Nam với hy vọng thống nhất đất nước. Phải chăng các cuộc đảo chính ở Sài Gòn đã làm hé lộ một khả năng hòa bình thống nhất nước nhà?

 Sau tết bước vào học kỳ II, đáng lẽ phải tập trung toàn bộ công sức và thời gian vào học tập để hoàn thành tốt năm học phổ thông cuối cùng, nhưng tôi vẫn bị nhiều sự việc khác chi phối.

 Không thể cưỡng lại được sức hút của những cuốn sách mới xuất bản, tôi vẫn đọc  khá nhiều. Đọc xong cuốn sách viết về cuộc đời của Alếchxanđrơ Matơrôxốp, một anh hùng liệt sĩ Liên Xô đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai của quân Đức, giúp cho Hồng quân chiến thắng kẻ thù và cuốn “Bài ca tuổi trẻ” của Dương Mạt viết về Lâm Đạo Tĩnh-một nữ anh hùng cách mạng trẻ tuổi của Trung Quốc, tôi đã ghi vào nhật ký:

Tôi hiểu đời người không chỉ chúi mũi vào sách vở, không chỉ bắt chước những nhân vật trong  sách, mà phải tạo cho mình một cuộc sống độc lập. Nhưng những nhân vật trong  sách đáng phải noi theo. Hình ảnh của Lâm Đạo Tĩnh sẽ không bao giờ phai mờ trong trí óc tôi cũng như hình ảnh Paven Korsaghin hay Alếchxanđrơ Matơrôxốp.

Các tiểu thuyết“Chiến tranh và hòa bình” và “Anna Karênina” của Lev Tôlstôi cùng những bộ phim dựng theo chúng đã cho tôi hiểu sâu sắc về đất nước và con người dưới thời Nga hoàng. Bộ tiểu thuyết “Con đường đau khổ” (gồm ba tập: “Năm 1918”, “Hai chị em”“Buổi sớm ảm đạm”) của Alếchxây Tôlstôi, với bộ phim màu cùng tên do Liên Xô sản xuất dựa trên tiểu thuyết này, đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc về giới trí thức Nga trong cơn bão táp cách mạng. Khi ba mang về nhà bộ sách “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần, tôi lại say sưa với cuộc sống và tình cảm của Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa và mấy chục nhân vật khác trong danh tác của văn học cổ điển Trung Hoa đó. Thỉnh thoảng, tôi lại đến Bảo tàng Hải Phòng để chiêm ngưỡng các hiện vật và tranh ảnh lịch sử, từ khu mộ cổ Việt Khê, những cây cọc cắm trên sông Bạch Đằng dưới thời Trần để đánh đắm chiến thuyền quân Nguyên cho đến những di vật và di tích cách mạng hiện đại.

 Ngày 27-3 tại Hà Nội, Hồ Chủ tịch triệu tập một cuộc “Hội nghị Chính trị Đặc biệt”  (bao gồm đại diện các đoàn thể quần chúng, các dân tộc, các tôn giáo, đồng bào miền Nam tập kết, Việt kiều…) để thống nhất ý chí của toàn dân nhằm củng cố thành tựu xây dựng CNXH ở miền Bắc và đẩy mạnh cách mạng giải phóng miền Nam. Hội nghị đã nhất trí hoan nghênh lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch“Mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt”. Từ đó, phong trào thi đua thực hiện khẩu hiệu“Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” được phát động trên toàn miền Bắc.

 

Một buổi trưa trời lạnh vì gió mùa đông bắc tràn về, tôi đắp chăn nằm ngủ trên giường ở tiền sảnh và bỗng thấy xuất hiện một cô gái không trông rõ mặt nhưng cởi truồng phô da thịt trắng ngần. Khi nhìn đến chỗ kín có lông đen che phủ phía dưới rốn cô, tôi bỗng cảm thấy chim mình cương cứng,  từ đó một khoái cảm lạ lùng bỗng dâng lên từng đợt cấp tập rồi từ từ dịu xuống mà vẫn đê mê dễ chịu. Giật mình tỉnh dậy mới biết vừa nằm mơ, tôi thấy mình đang nằm sấp trên giường với hai tay ôm gối và cảm giác đê mê vẫn còn lan tỏa. Sờ xuống phía dưới thân mình, thì thấy đũng quần lót bị ướt nhẹp vì một chất nước hơi nhờn nhờn tanh tanh. Suy nghĩ một lúc, tôi nhận ra chất này chính là tinh dịch chứa đựng hàng triệu tinh trùng mà mình đã được học trong sách giáo khoa “Giải phẫu sinh lý người”. Thế là tôi hiểu rằng cuộc đời mình đã bước sang một giai đoạn mới gắn liền với một khoái cảm mà chỉ người lớn mới có và không bao giờ hé lộ cho trẻ con biết. Từ hôm ấy, tôi lờ mờ hiểu rằng nếu có một bạn gái thật sự trên giường để “chim” và “bướm” giao hợp với nhau thì cảm giác sẽ còn tuyệt vời hơn nhiều; nhưng muốn vậy thì phải lấy vợ như người lớn, mà mình lại chưa đủ lớn để nghĩ đến việc này. Thế rồi tinh dịch luôn tràn đầy đã thôi thúc tôi tìm cách cho nó thoát ra. Bằng trí tưởng tượng kết hợp với một động tác đơn giản khi nằm sấp, tôi đã tạo ra được khoái cảm xuất tinh mà không cần giao hợp hay nằm mơ. Việc đó hấp dẫn đến mức có ngày tôi làm tới 2-3 lần. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn say mê với việc tạo ra lạc thú mới lạ ấy, trong lòng tôi đã xuất hiện một mâu thuẫn nội tâm. Một mặt, tôi tự giải thích việc đó là bình thường do bản năng sinh lý con người đòi hỏi. Ngay cả đức cha đáng kính Môngtaneli cũng bị sức mạnh bản năng đó lôi kéo, nên đã bất chấp giới luật của giáo hội mà bí mật giao hợp với phụ nữ để sinh ra cậu con trai Áctơ (sau trở thành nhà cách mạng lẫy lừng với bí danh “Ruồi trâu”). Nhưng mặt khác, tôi lại cảm thấy dường như đó là một việc xấu xa tội lỗi được gọi là “thủ dâm”, không xứng đáng với những gương anh hùng cách mạng đã được học và được đọc. Trong tất cả những nhân vật hiến thân cho lý tưởng mà tôi muốn noi gương, chẳng thấy ai bị lôi cuốn để làm những việc theo bản năng sinh lý ấy. “Ruồi trâu” đã từng tha thiết yêu Giêma, nhưng mãi đến trước khi bị xử tử mới gửi thư thổ lộ  với nàng; và Áctơ rất căm ghét Môngtaneli khi biết đức cha này đã bí mật ăn nằm với phụ nữ để sinh ra chính mình, nhưng bề ngoài vẫn giả dối thể hiện lý tưởng cao đạo với các con chiên. Mối tình thời niên thiếu giữa Paven với Tônhia thật trong sáng vì không vương một chút xác thịt nào; và khi Khơrichina muốn hiến thân cho Paven trong nhà giam, thì con người được tôi luyện thành thép ấy đã dứt khoát từ chối. Đồng chí Paven và đồng chí Rita yêu nhau chỉ vì cùng chung lý tưởng, nên không thấy họ chung đụng xác thịt bao giờ! Ngay cả khi Paven mù mắt cưới Thaia làm vợ, thì cũng là để có người bạn đời giúp anh hoàn thành tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” đóng góp cho cách mạng, chứ đâu phải để tận hưởng hạnh phúc ái ân. Rõ ràng những người sống vì lý tưởng cao cả đều tránh xa khoái cảm xác thịt do bản năng sinh lý chi phối. Trong khi đó, anh chàng Giả Thụy trong “Hồng Lâu Mộng”, vì suốt ngày đêm mơ tưởng đến người chị dâu xinh đẹp Vương Hy Phượng mà không được thỏa mãn, nên đã liên tục thủ dâm khiến cơ thể suy kiệt dẫn đến cái chết thê thảm.

 Với những gì đã học được như trên, tôi nhận ra lẽ phải và nắn nót viết vào nhật ký:  “Sống vì lý tưởng cao cả, đừng chạy theo dục vọng thấp hèn. Sống chân thật, đừng giả dối. Sống để đấu tranh, không phải để hưởng thụ”. Vận dụng hết nghị lực để làm theo nhận thức đó, tôi đã kiềm chế không cho mình quá sa đà vào cái việc tạo nên khoái cảm xác thịt, để giữ cho tâm hồn trong sáng mà tu dưỡng theo lý tưởng cao đẹp.

 

Trước đợt kiểm tra cuối học kỳ, Triệu, Nguyệt và tôi thường học nhóm với nhau, mỗi buổi ở nhà của một đứa, sau lại có thêm Trương Kim Hiếu nhập bọn và giúp vui bằng chiếc đàn accordeon của cậu ấy. Trong khi đó, Phạm Đình Thịnh và Phùng Văn Minh được chọn vào đội tuyển Hải Phòng (gồm 10 người) lên Hà Nội tham dự kỳ thi học sinh giỏi toán toàn miền Bắc.

 Các môn kỹ thuật học ở Xưởng Trường rất dễ dàng đạt kết quả cao, vì các thầy cô ở đây chỉ là những công nhân kỹ thuật nên họ rất dễ dãi với chúng tôi. Các môn văn hóa học ở trường thì không dễ như vậy, vì các thầy cô đều rất nghiêm khắc và yêu cầu cao đối với học sinh. Dù đã được học nhóm, nhưng hay bị đau đầu và phân tán tư tưởng nên tôi học không tốt. Làm không tốt bài vật lý mở đầu kỳ kiểm tra, tôi có nguy cơ bị “xơi ngỗng”. Trong những ngày tiếp theo, các bài kiểm tra toán, Nga văn và sinh vật tôi làm cũng không tốt.

 

Chính trong đợt kiểm tra học kỳ có kết quả không tốt ấy, tôi cùng toàn thể  học sinh lớp 10 của Hải Phòng lại được đi dự“ Hội nghị những người học sinh học tập tốt-lao động tốt” do Thành Đoàn tổ chức trong một hội trường rất rộng tại trường Trung học Hoa Kiều (thường gọi tắt là “Kiều Trung”) ở cuối phố Trần Phú vào chiều ngày 11-4. Mở đầu hội nghị, một người trung niên béo đen thấp lùn trong bộ quần áo đại cán 4 túi, được Ban tổ chức giới thiệu là đồng chí Vương Đình Kế-Bí thư Thành Đoàn TNLĐ Hải Phòng, lên diễn đàn nói chuyện. Ông bảo thế hệ các đồng chí (tức là chúng tôi) thật may mắn, vì từ khi sinh ra và lớn lên thì đã có sẵn chân lý của Đảng để làm lý tưởng cho cuộc sống rồi (không như cha anh mình cứ phải đi tìm chân lý mãi rồi mới thấy). Bởi thế, chúng ta (tức là cả ông ấy và chúng tôi) chỉ có việc phấn đấu theo lý tưởng của Đảng ta, chẳng cần phải suy nghĩ gì nhiều, là sẽ có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Giờ đây, Đảng kêu gọi đông đảo thanh niên trí thức hãy hăng hái tham gia lao động xây dựng quê hương. Học lên đại học cũng tốt, nhưng nay Đảng cần chúng ta đi lao động, vừa để xây dựng quê hương, lại vừa rèn luyện mình trở thành những con người mới XHCN, nên chúng ta cần hưởng ứng lời kêu gọi của Đàng. “Nếu không học đại học mà đi lao đông sản xuất, chúng ta có thể mất cái này nhưng lại được cái khác đáng quý hơn”- đó là nguyên văn lời đồng chí Bí thư Thành đoàn. Tiếp theo, ông nêu lên một số nơi đang cần bàn tay lao động của thanh niên trí thức: các công trường và nông trường ở ngoại thành hay các vùng đất hoang ở  miền rừng núi và hải đảo…

 Để minh họa cho bài diễn thuyết đó, một chàng trai trẻ bước lên diễn đàn, được giới thiệu là Chu Văn Mười-một học sinh mới tốt nghiệp cấp III năm ngoái, không đi thi đại học mà tình nguyện ở lại để lao động xây dựng quê hương. Với khuôn mặt khá đẹp trai và khổ người tầm thước, Mười kể về  nơi anh đã và đang tham gia lao động chính là ngôi làng quê mình tràn ngập nắng gió ven cửa sông Bạch Đằng lịch sử thuộc huyện Thủy Nguyên. Với mong ước trở thành nhà văn, anh cho rằng chỉ cần lao vào cuộc sống lao động tại quê nhà là có đủ vốn sống và đề tài cho các tác phẩm văn học, mà không cần phải lên đại học. Quả nhiên chỉ sau một năm, Mười đã có mấy truyện ngắn được đăng báo, rồi lại được tờ “Hải Phòng Kiến Thiết” đăng một bài phỏng vấn. Tối hôm đó chúng tôi tiếp tục được nghe một số người khác lên hội trường để “báo cáo điển hình” về việc họ không thi đại học mà tình nguyện về nông thôn lao động sản xuất.

 Ngay hôm sau- chủ nhật 12-4, đồng chí Hoàng Hữu Nhân-Bí thư Thành ủy Hải Phòng đến nói chuyện với hội nghị. Ở nhà, tôi đã từng được nghe ba khen ông này là một người lãnh đạo thông minh có thể cộng tác tốt; nay mới được dịp thấy ông tận mắt. Có tầm vóc cao to và tác phong đĩnh đạc, ông gọi chúng tôi là “các em” và cũng nói về vấn đề đưa thanh niên học sinh đi lao động sản xuất ở nông thôn và khai hoang miền núi như ông Vương Đình Kế, nhưng bằng một giọng rất truyền cảm. Về nguyên nhân của vấn đề này, ông chỉ giải thích đơn giản rằng “ Núi rừng đã giúp ta giành độc lập, thì nay ta phải đi trả ơn núi rừng”.

 Sau bài nói chuyện đó, chúng tôi được chia thành từng tổ để thảo luận (mỗi lớp là một tổ). Cuộc thảo luận xoay quanh chủ đề: Sau khi tốt nghiệp trường phổ thông, bạn đã sẵn sàng tham gia lao động sản xuất để xây dựng quê hương chưa? Nhiều bạn phát biểu rất hay, nổi bật là ý kiến của Bùi Minh Thắng, học sinh lớp 10A đang giữ chức vụ Phó Bí thư Đoàn Trường Ngô Quyền. Thắng phân tích rằng đoàn viên và thanh niên dưới chế độ XHCN phải luôn sẵn sàng thực hiện khẩu hiệu “Đâu Đảng cần-thanh niên có, việc gì khó-có thanh niên!”; lao động là nghĩa vụ vinh quang mà ai cũng phải sẵn sàng thực hiện. Nay Đảng cần thanh niên trí thức đi lao động, tất cả chúng ta nên sẵn sàng. Có bạn thắc mắc: nếu tất cả chúng ta đều đi lao động, thì các trường đại học dùng để làm gì? Ban tổ chức liền giải đáp: Tất cả chúng ta cần sẵn sàng đi lao động, nhưng vẫn sẽ có những người vào đại học, còn việc chọn ai đi lao động và ai đi học sẽ do Đảng quyết định. Thảo luận xong, những ai sẵn sàng xung phong đi lao động sẽ ghi tên mình vào một cuốn “Sổ vàng” đã đươc Thành đoàn chuẩn bị sẵn. Bùi Minh Thắng xung phong ghi tên trước và trở thành một nhân vật được nhiều người ngưỡng mộ (vài người rỉ tai nhau rằng Thắng là con đồng chí Bùi Minh Tước-thành ủy viên Hải Phòng), một số bạn khác cũng bắt chước ghi theo. Những người còn lại thì phân vân chưa đăng ký vì “còn phải về hỏi ý kiến gia đình”.

 Khi ấy, tôi đã mường tượng ra cảnh mình được đi lao động ở những vùng rừng núi xưa mà hàng đoàn bộ đội và dân công đã đi qua để đánh đuổi quân xâm lược, giống như các đoàn viên Komsomol của Liên Xô đi xây dựng các khu công nghiệp ở vùng Xibêri hoang vắng hay đi khai hoang ở vùng trung Á xa xôi. Đi như vậy kể cũng vinh dự và thú vị. Nhưng tôi vẫn hơi sợ phải sống đơn độc xa gia đình, vẫn lưu luyến với cuộc sống êm đềm ở thành phố bên những người thân yêu nhất. Vì thế, sự lựa chọn của tôi là : nếu thi trượt đại học thì sẽ đi lao động. Tôi cảm thấy sự lựa chọn này có vẻ “ti tiện và hèn đớn”, chứng tỏ mình chưa giác ngộ cao, nhưng đành chấp nhận vậy. Thế là tôi chưa ghi tên đăng ký, vì còn phải về hỏi ý kiến gia đình.

Lê Vinh Quốc

Các Bài viết khác