NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯƠC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 6, phần 2

( 23-05-2014 - 08:53 AM ) - Lượt xem: 526

Trong phần văn học sử, chúng tôi được nghe giảng rất kỹ về cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” (1935-1939) giữa các nhà văn hóa macxit thuộc phái “vị nhân sinh”do Hải Triểu đại diện vả những nhà văn hóa tự do theo phái “vị nghệ thuật”với Thiếu Sơn đứng đầu. Để minh họa cho cuộc tranh luận này, chúng tôi được học bài thơ “Là thi sĩ” của Sóng Hồng bảo vệ quan điểm của phái “vị nhân sinh” chống phái “vị nghệ thuật”:

2. Vị nghệ thuật hay vị nhân sinh

Việc Đồng nhập ngũ khiến cho tôi cảm thấy man mác buồn vì thiếu vắng người bạn tri kỷ cả trong lúc chơi và lúc học. Chắc rằng Đồng cũng nhớ tôi, nên chỉ vài tuần sau  đã viết thư về cho tôi, lại gửi kèm một bức ảnh chân dung nhỏ: bạn ấy mặc quân phục chỉnh tề đội mũ đeo sao với đầy đủ quân hàm cấp hiệu binh nhì trông rất oách. Nhờ đó, tôi biết Đồng đóng quân ngay tại thị trấn Đồ Sơn quen thuộc. Để giúp Đồng giải trí và đỡ nhớ nhà, tôi tự “xuất bản” một tờ báo viết tay dành riêng cho bạn ấy và gửi qua bưu điện. Vì Đồng ngán nhất là việc sáng nào cũng phải chạy tập thể mấy vòng quanh doanh trại để rèn luyện thân thể, nên tôi đặt tên cho tờ báo là “Chạy”; trong đó kể những chuyện vui của các bạn cùng trường, những gì mới xảy ra trong thành phố và vẽ nhiều tranh vui. Bức tranh tôi vẽ về sự “kết duyên” (do bạn bè gán ghép) giữa Lã Thanh Hải (bạn nam thấp bé còi cọc nhất) với Hồ Thị Tường Vy tức “Tường Voi” (bạn nữ cao to béo khỏe nhất) khiến Đồng rất buồn cười và nhớ mãi.

 Không còn là đội viên để được đi cắm trại như xưa, anh bạn thân thì đi bộ đội, cậu em kế là Hùng lại được chọn vào đội tuyển bóng bàn thiếu niên thành phố lên Hà Nội thi đấu, tôi không tìm được bạn chơi mới  nên chỉ biết vùi đầu vào việc đọc sách trong mấy tháng hè. Thường xuyên lên thư viện, tôi lần lượt ngốn các tác phẩm văn học Liên Xô dịch sang tiếng Việt: “ Ti Mua và đồng đội”( của Accađi Gaiđa), “Một người chân chính” (của Bôrít Pôlêvôi), “Những người Xô Viết chúng tôi” (của Mikhain Sôlôkhốp), “Đội cận vệ Thanh niên” (của Alếchxanđrơ Phađêép); rồi đọc cả “Ruồi trâu” của Êten Lilian Vôinitsơ, “Lôi Phong” của Trung Quốc…Những tác phẩm này đều viết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nên chúng đưa đến cho người đọc những cảm xúc rất mạnh. Tôi đặc biệt ngưỡng mộ các nhân vật trong Đội cận vệ thanh niên, vì đó là những anh hùng có thật, lại cùng lứa tuổi với chúng tôi khi họ chiến đấu và anh dũng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc : Ôlếch Kôsêvôi, Uliana Grômmôva, Ivan Demnukhốp, Xécgây Tulênin, Liubốp Sepsôva, Ivan Tuốckêních…Riêng cuốn “Đài phát thanh trên tầng gác thứ bảy” (không nhớ tên tác giả) chỉ viết về cuộc sống bình thường của thiếu niên Liên Xô mà cũng rất hấp dẫn. Tôi cũng đọc được cuốn “ Những cuộc phiêu lưu của Hấc Phin” (của nhà văn Mỹ Mắc Tuên) miêu tả cuộc sống phiêu lưu thú vị của những chàng trai Mỹ, cuốn “Giên Erơ” (của nữ văn sĩ Anh Saclốt Brônty) viết về cuộc đời éo le của một cô gái đầy bản lĩnh trong xã hội cổ điển Anh. Khi ấy, ba mang về mấy cuốn tiểu thuyết mới của các nhà văn Việt Nam và tôi cũng ngốn hết: “Sống mãi với Thủ đô” của Nguyễn Huy Tưởng, “Sóng gầm” của Nguyên Hồng, “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi, “Đống rác cũ” của Nguyễn Công Hoan, “Phá vây” của Phù Thăng, “Vào đời” của Hà Minh Tuân…Đọc xong rồi tôi mới biết các cuốn“Đống rác cũ”, “Phá vây” và “Vào đời” bị kết án là luyến tiếc chế độ cũ, theo chủ nghĩa xét lại và chống lại quan điểm chuyên chính vô sản của Đảng ta.

 Hùng đi thi đấu ở Hà Nội về mang theo một số giải thưởng, chứng tỏ tài chơi bóng bàn của cậu em tôi không phải tầm thường. Hùng còn được Lan Anh tặng một đôi dép Thái Lan rất đẹp, khiến tôi thỉnh thoảng phải mượn đi cho đỡ thèm!

 

Bỗng một hôm Đồng bất ngờ xuất hiện trước cổng nhà tôi trong bộ thường phục  quen thuộc. Hóa ra cậu tân binh do thành tích bắn giỏi được nghỉ phép mấy ngày về thăm gia đình và đã không quên đến thăm bạn cũ. Chúng tôi tay bắt mặt mừng kể cho nhau nghe đủ mọi chuyện. Thì ra, sau buổi liên hoan tiễn đưa ở trường, Đồng cùng các tân binh khác tập trung ở rạp chiếu bóng Cộng Hòa (khi ấy đã trở thành hội trường của chính quyền thành phố) để nghe phổ biến nhiệm vụ. Mạ Đồng đi theo đến tận đó để tiễn, cho đến khi con trai mình và các đồng đội lên ô tô hành quân về đơn vị. Khi trở về nhà, mạ Đồng đã khóc vì nhớ thương con trai, nhưng giờ đây thì đã yên tâm rồi.

 Chiều hôm sau, Đồng phải trở về đơn vị và hai chúng tôi quyết định sẽ tiễn nhau bằng một cách đặc biệt. Tôi lại đến nhà anh bạn và gọi cửa như trước kia. Đồng xuất hiện không phải với cặp sách mà trong bộ quân phục chỉnh tề, dắt xe đạp ra cổng Nhà máy Điện, lên yên để tôi ngồi sau lưng rồi đạp xe thẳng tiến trên đường đi Đồ Sơn. Thế là hai chúng tôi lại cặp kè trò chuyện suốt 2 giờ đi xe trên chặng đường dài 24km. Đến cổng đơn vị, Đồng trao xe cho tôi, bắt tay tôi thật chặt, đứng nghiêm chào đúng kiểu quân nhân rồi “đằng sau quay” đi qua trạm gác vào doanh trại. Tôi nhìn theo bạn cho đến khi cậu ấy đi khuất rồi mới lên xe đạp về thành phố. Chiều muộn, tôi cứ thong thả đi xe xuôi chiều gió biển mát rượi và cảm thấy chiếc “Peugeot” của nhà Đồng đạp rất nhẹ nhàng. Chưa đến nửa đường, tôi bỗng thấy có sự lạ: một người đàn ông hì hục dắt xe đạp trên có một phụ nữ bụng rất to đang ngồi. Tôi đi chậm lại và hỏi anh ta sao không đạp xe mà lại dắt? Anh ấy cho biết là đang đèo vợ về thành phố để chuẩn bị đẻ thì xe bị “sập cá”, đành phải dắt cho đến khi có chỗ chữa xe. Cảm thấy đôi vợ chồng này gặp tai ách giữa đường thật tội nghiệp, tôi quyết định giúp đỡ bằng cách đổi xe cho họ. Hai người rối rít khen tôi: “Em tốt quá, thật may cho anh chị!”, rồi bảo rằng chắc cũng chỉ đi nhờ xe tôi một khúc, vì sẽ sớm gặp chỗ chữa xe để họ trả lại xe cho tôi. Khi họ đã đèo nhau trên xe mới đổi, tôi lên xe của họ và biết ngay thế nào là “sập cá”: bàn đạp quay tít nhưng không kéo xe chạy. Thế là tôi ngồi trên chiếc giá đèo hàng, hai chân đi dép cao su lần lượt đạp xuống đường đẩy xe chạy về phía trước. Tôi đã quen cách “đi xe” như vậy từ khi mới tập xe đạp, nhưng hồi đó chỉ đi từng đoạn rất ngắn, còn lúc này phải đi xa không biết đến bao giờ, nên mỗi lúc tôi lại càng thêm mệt mỏi. Khoảng cách giữa tôi với đôi vợ chồng ấy mỗi lúc một xa, trời lại tối dần khiến tôi phải cố hết sức đi nhanh hơn, nhất là khi không nhìn thấy họ nữa. Có lúc tôi giật mình tự nghĩ: nếu họ đi mất cùng với chiếc xe ấy, thì không biết mình sẽ ăn nói với ba mạ Đồng như thế nào? Thế là tôi lại cố tiến nhanh hơn. Có lẽ đoán được ý nghĩ của tôi, nên hai vợ chồng có vẻ đi chậm lại để tôi vẫn nhìn thấy họ lờ mờ phía trước, nhưng mãi mà vẫn không thấy có chỗ chữa xe! Thế rồi băng qua cầu Rào với ánh đèn sáng trưng, tôi tiến vào thành phố thì vừa may trông thấy đôi vợ chồng ấy đứng chờ ở một cái quán có treo bảng “Sửa chữa xe đạp”. Mừng rỡ như vừa được gặp lại người thân, tôi vội vàng tiến đến đổi lại xe cho họ và nhận thêm những lời nói tốt đẹp bày tỏ lòng biết ơn của họ. (Hồi ấy, người ta không muốn và không quen dùng các từ theo phép lịch sự như “cảm ơn”, “xin lỗi”…vì những từ đó được coi là sự giả dối màu mè theo lề thói tiểu tư sản). Tính ra, tôi đã “đi xe” kiểu lạ hơn 10 km, áo quần ướt đẫm mồ hôi với đôi chân vô cùng mệt mỏi và cặp mông cũng rất ê ẩm, nhưng trong lòng sung sướng vì đã làm được một việc tốt. Về nhà, tôi kể lại chuyến đi này trên tờ “Chạy” gửi qua bưu điện, nên Đồng cũng nhớ mãi.

 

Bước vào năm học mới 1963-1964, tôi đã cao 1,64m (lại thêm 10cm nữa trong 1 năm!) và sánh ngang với đa số các bạn nam trong lớp. Khi ấy, tôi có mái tóc đen dầy gợn sóng, thân mình dong dỏng gầy gò nhưng khuôn mặt vẫn đầy đặn với cặp mắt to rất sáng và đôi môi luôn đỏ tươi, nhờ đó mà cái nhược điểm của “Quốc méo” hình như không thành vấn đề gì lắm trong mắt mọi người. Nói chung, tôi hài lòng về dung mạo hiện có và dần dần nhận ra rằng mình cũng thuộc loại con trai được bọn con gái nhìn ngắm.

 Ngoại trừ Nguyển Đắc Đồng cùng Đỗ Văn Hoan đã lên đường nhập ngũ và Vũ Văn Ký thôi học để đi làm ở nhà máy Xi măng, trong lớp không có ai bị lưu ban hay chuyển trường, nên 9D năm trước trở thành 10D năm nay, nhưng có 5 bạn phải chuyển sang 10C nên sĩ số lớp tôi chỉ còn 39 . Chủ nhiệm lớp là thầy Tiêu Vân, một giáo viên hóa học gầy gò nhưng đầy nhiệt tình giảng dạy và là anh ruột của bạn Tiêu Thanh Tùng. Phụ trách các bộ môn có các giáo viên mới: thầy Phan Tích Lương với dáng người cao gầy hay mặc áo đại cán dạy văn bằng giọng xứ Nghệ nhỏ nhẹ, thầy Trịnh Ngọc Viện đầu hói dạy lịch sử khá hay với dàn ý bài giảng rất rõ ràng, thầy Phạm Riễm vui tính dạy toán, thầy Nguyễn Minh Vũ với bộ râu quai nón và đôi lông mày rậm rất đáng sợ dạy vật lý, thầy Nguyễn Trung Hàm tầm vóc cân đối với khuôn mặt điển trai thường đeo kính cận dạy sinh vật, thầy Trần Quốc Bảng ở cùng bên dãy phố Hồ Xuân Hương gần nhà tôi dạy chính trị (sau đó có thầy Kiên dạy  thay); còn thầy Giao, thầy Chánh tiếp tục dạy địa và thể dục. Giờ đây nhìn lại, tôi nhận thấy hầu hết các thầy cô dạy mình từ cấp II đến cấp III đều là những giáo viên giỏi đầy nhiệt tình và tâm huyết với học trò.

 Cho đến năm học này, các bạn học của lớp tôi đã bộc lộ rõ những tài hoa của họ. Phạm Đình Thịnh, Phùng Văn Minh, Trần Đức Chỉnh và Nguyễn Thế Đề luôn dẫn đầu về toán, được bồi dưỡng để chuẩn bị thi học sinh giỏi toàn miền Bắc; Nguyễn Phú Mạnh đã có bài đăng báo và vẽ được mấy bức tranh sơn dầu khiến tôi phải thán phục; Phạm Đức Thịnh bắt đầu sáng tác nhạc; Phạm Lũng Hà và Phạm Thanh Lê đã trở thành những ca sĩ trong đội văn nghệ Hải Âu của thanh niên Hải Phòng; Phạm Minh Việt là một tay bơi có hạng từng tham gia các cuộc thi bơi vượt sông Hồng và vượt sông Bạch Đằng với các vận động viên danh tiếng trên toàn miền Bắc; Đào Văn Nam và Đặng Đình Mai được đội bóng đá Xi Măng Hải Phòng (hạng A) nhòm ngó để tuyển mộ; Đinh Chất Chính, Phùng Văn Minh, Nguyễn Văn Dung là các cầu thủ nòng cốt trong các đội bóng rổ và bóng chuyền nam, còn Nguyễn Thị Tuất và Phạm Lũng Hà nổi bật trong các đội bóng rổ và bóng chuyền nữ của trường và còn là những vận động viên khá thành công trong môn bơi lội, chỉ  thua Trần Hiền của 10A-người đã đoạt huy chương vàng chạy 100m và huy chương vàng nhảy xa nữ trong giải vô địch Điền kinh toàn miền Bắc. Trong khi đó, lớp 10C do thầy Trịnh Ngọc Viện làm chủ nhiệm lại rất thiếu nhân tài cả về học tập lẫn văn nghệ và thể thao. Do vậy, thầy đã đề nghị chuyển Phùng Văn Minh, Phạm Đức Thịnh, Phạm Thanh Lê, Nguyễn Phương Khuê và Nguyễn Thị Tuất từ 10D sang 10C để trợ giúp cho phong trào của lớp thầy. Trong  một Hội diễn Văn nghệ của ngành giáo dục, Thanh Lê đã huy động các bạn cũ ở 10D để dàn dựng 2 điệu múa; trong đó điệu “Rông Chiêng” rất được tán thưởng, mặc dù các “nam vũ công” bất đắc dĩ là Đinh Chất Chính, Phạm Quốc Hùng, Tiêu Thanh Tùng và Nguyễn Văn Tự A trình diễn chưa thuần thục so với các bạn nữ; còn điệu“Bên bờ suối” với 8 cô gái đẹp múa giỏi như văn công Trung ương mà Lê đóng vai solo đã đoạt giải nhất toàn trường, được vào chung kết trình diễn tại Nhà hát Thành phố và nhiều nơi khác.

 Tôi vẫn say mê hội họa, âm nhạc và văn học mà chưa đạt được kết quả cụ thể nào, nhưng lại kiếm được một người bạn mới cũng say mê văn chương và ca hát là Trần Trọng Triệu. Bạn ấy cùng em trai Trần Trọng Phương (còn có tên gọi khác là Vân) ở cùng mẹ và một bà cô lỡ thì là cô The trong căn nhà nhỏ số 197 phố Tô Hiệu bên một đầm sen khá rộng. Nhà Triệu ở phía nam, không gần với nhà tôi ở phía bắc thành phố, nhưng khi đã thân nhau thì chúng tôi vẫn hay đến thăm nhau. Như nhiều người gốc Hải Phòng, anh em Triệu gọi bố mẹ mình là “bá” và “bu”. Bá Triệu ở với bà vợ hai nên thỉnh thoảng mới qua thăm mấy bu con bạn ấy. Bu Triệu rất hiền mà lại tháo vát việc nhà, cùng cô The làm nghề đan len cho mậu dịch mà đủ nuôi cả gia đình 4 người, trong đó hai anh em bạn ấy được ăn học đàng hoàng. Triệu sinh đầu năm 1946 nên hơn tôi gần 2 tuổi nhưng sức học và tầm vóc cũng xấp xỉ với tôi, lúc nào cũng thấy đeo kính cận. Mỗi lần đến nhà nhau, tôi và Triệu thường cùng tập những bài hát mới, ôn lại những bài cũ, hoặc trao đổi với nhau về những tác phẩm văn học mới xuất bản. Trước khi thân với tôi, Triệu thường chơi với Trần Văn Nguyệt, một đoàn viên thuộc lứa đàn anh trong lớp nhưng có vẻ ít quan tâm đến văn chương hay âm nhạc. Qua Triệu, tôi cũng trở nên thân thiết với Nguyệt, thế là  bộ ba Nguyệt-Triệu-Quốc hình thành tạm thay cho bộ ba Đồng-Ký-Quốc trước đây.

 

Chương trình lớp 10 thực sự khó hơn lớp 9 nên nó đòi hỏi tôi phải cố gắng nhiều. Về toán, các phép tính lượng giác, logarit, đạo hàm với các hàm số sin, cosin, tang, cotg…thật không dễ lĩnh hội;  vật lý về điện, quang và vật lý hạt nhân cũng rất khó nhằn; hóa hữu cơ ở lớp 10 khó hơn hóa vô cơ ở các lớp dưới vì hàng loạt công thức rất phức tạp; môn sinh với học thuyết Mitsurin-Lưxencô và chương trình Giải phẫu Sinh lý Người cũng không đơn giản. Môn lịch sử dạy về sự hình thành giai cấp công nhân Việt Nam, sự thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương và các phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo cho đến thắng lợi của cuộc cuộc kháng chiến chống Pháp, công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam. Trong đó, đường lối của Đảng ta luôn luôn đúng đắn và sáng suốt, chỉ có sai lầm tí chút trong phong trào Xô Viết Nghệ-Tĩnh với khẩu hiệu “Trí, phú , địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ”, nhưng sai lầm này đã được sửa chữa bằng viếc đưa “trí” ra khỏi những phần tử phải bị tiêu diệt đó. Chương trình môn văn rất phong phú nhưng cũng rất phức tạp. Vẫn có  văn học hiện thực phê phán với Nam Cao (qua 2 tác phẩm “Chí Phèo” và “Đôi mắt”), nhưng phần chủ yếu của chương trình là dòng văn học cách mạng với các tác giả Nguyễn Đình Thi ( qua tiểu thuyết “Xung kích” và bài thơ “Đất nước”), Nguyên Ngọc (“Đất nước đứng lên”), Võ Huy Tâm (“Vùng mỏ”), Nguyễn Văn Bổng (“Con trâu”), Tô Hoài (“Vợ chồng A Phủ”),Minh Huệ (bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ”),Thép Mới (tùy bút “Cây tre Việt Nam”)…Tiếp đó là các tác phẩm được gọi là “hiện thực xã hội chủ nghĩa” phục vụ kịp thời cho công cuộc lao động xây dựng CNXH và hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc như các truyện “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, “Cỏ non” của Hồ Phương và tiểu thuyết “Cái sân gạch” của Đào Vũ; phục vụ cho đấu tranh cách mạng ở miền Nam như “Một chuyện chép ở bệnh viện” của Bùi Đức Ái (đã được dựng thành bộ phim “Chị Tư Hậu”). Nhưng tác giả mà chúng tôi được học nhiều nhất là Tố Hữu với hàng loạt các bài thơ như “Tiếng hát sông Hương”, “Con cá, chột nưa”, “Sáng tháng Năm”, “Việt Bắc”, “Ta đi tới”, “Bầm ơi”, “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, “Em ơi, Ba Lan”, “Đường sang nước bạn”, “Tiếng chổi tre”,Bài ca mùa xuân 1961”…Trong số đó, nổi bật bài thơ “Từ ấy” rất ngắn gọn nhưng chứa đựng tư tưởng chủ đạo mà tác giả muốn truyền bá cho người đọc:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là cả vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

Cái mặt trời chân lý bừng nắng và sáng chói trong tim Tố Hữu ấy chính là chủ nghĩa cộng sản mà ông được các đảng viên Phan Đăng Lưu và Nguyễn Chí Diểu truyền dạy. Đến lượt mình, ông lại truyền chân lý ấy qua các vần điệu thơ cho nhân dân, để tạo nên lý tưởng sống cho các thế hệ trẻ. Một tác giả nữa còn đứng trên Tố Hữu mà chúng tôi được học rất kỹ chính là Hồ Chí Minh với tập thơ “Ngục trung Nhật ký” (Nhật ký Trong tù), trong đó tư tưởng chủ đạo được kết tinh trong bài thơ này:

Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp

Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông

Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

Tư tưởng chủ đạo này sẽ dẫn dắt tâm hồn con người đi theo lý tưởng cách mạng, để rèn luyện họ trở thành những chiến sĩ có tinh thần chiến đấu gang thép. Hình ảnh những chiến sĩ cách mạng như vậy được tô đậm trong bài “Anh Hoàng Văn Thụ đi  ra pháp trường” (trích hồi ký của Trần Đăng Ninh) kèm theo bài thơ tuyệt mệnh đầy cảm khái của chính con người gang thép Hoàng Văn Thụ:

Việc nước xưa nay có bại thành

Miễn sao giữ trọn được thanh danh

Phục thù, chí lớn không hề nản,

Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành…

Tuy nhiên, khuôn mẫu lý tưởng của người chiến sĩ cộng sản được miêu tả hoàn chỉnh và hấp dẫn nhất chính là nhân vật Paven Korsaghin trong tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Liên Xô Nhikôlai Ôstơrốpski (do Thép Mới dịch). Sách giáo khoa chỉ trích giảng một đoạn dưới nhan đề “Trên công trường Baiarơca”, nhưng cũng đủ toát lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật chính Paven Korsaghin dù bị đói rét và bệnh tật hành hạ đến kiệt sức vẫn dũng cảm lao động quên mình trên công trường xây dựng đường sắt. Gặp lại người yêu cũ là Tônhia trong trang phục thượng lưu đi với chồng là một kỹ sư, Paven yêu cầu Tônhia cầm lấy xẻng đi xúc tuyết cùng những người lao động, đừng có lười biếng như tên chồng “tư sản mà người ta chưa cắt cổ nốt”. Không giới hạn ở trích đoạn này, đa số chúng tôi đã tìm đọc toàn văn tác phẩm , lại còn được xem bộ phim “Paven Korsaghin” do Liên Xô sản xuất dựa trên tiểu thuyết, nên Paven đã trở thành thần tượng của hầu hết thanh niên học sinh chúng tôi suốt mấy thế hệ, cũng như của thanh niên Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác. Các bạn học cùng khóa hoặc trước sau tôi một số năm thường chép trong nhật ký hay “Sổ tay tu dưỡng” của mình, thậm chí học thuộc lòng đoạn triết lý sau đây của con người được tôi luyện thành thép mang tên Paven ấy:

 Cái quý nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người.

Tất cả những gương mà chúng tôi được học từ tấm bé đến giờ đã đọng lại trong đoạn triết lý này, để lấy nó làm ý nghĩa cuộc đời: sống để hy sinh cho lý tưởng cộng sản nhằm giải thoát loài người khỏi mọi sự áp bức bất công. Cùng với tác phẩm đặc biệt ấy, chúng tôi còn được học thơ Maiacốpski với bài “Cái chết của Lênin” qua bản dịch tiếng Việt. Bằng thể thơ bậc thang độc đáo, nhà thơ Xô Viết này đã ca ngợi Lênin với  những mỹ từ cao đẹp nhất về “người con và người cha của cách mạng”, miêu tả ngày ông từ trần “muôn thuở sẽ là truyền thuyết đau thương” của nhân loại cần lao. Khi học bài này, tôi không hề biết rằng, chỉ 6 năm sau khi thương khóc Lênin, Maiacốpski sẽ tự tử bằng súng và để lại hai câu thơ tuyệt mệnh khó hiểu: “ Trên đời này chết chẳng có gì là khó/ Xây dựng cuộc đời thì mới khó hơn”. Bên cạnh các tác phẩm văn học Xô Viết nêu trên, chúng tôi còn được học nhà văn Lỗ Tấn của Trung Quốc qua 3 tác phẩm  “Cố Hương”, “Cầu phúc” và “AQ chính truyện” (có những liên hệ thú vị với “Chí Phèo” của Nam Cao).

Trong phần văn học sử, chúng tôi được nghe giảng rất kỹ về cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” (1935-1939) giữa các nhà văn hóa macxit thuộc phái “vị nhân sinh”do Hải Triểu đại diện vả những nhà văn hóa tự do theo phái “vị nghệ thuật”với Thiếu Sơn đứng đầu. Để minh họa cho cuộc tranh luận này, chúng tôi được học bài thơ “Là thi sĩ” của Sóng Hồng bảo vệ quan điểm của phái “vị nhân sinh” chống phái “vị nghệ thuật”:

Nếu thi sĩ vùi đầu mài miệt tả

Cặp “tuyết lê” hồi hộp trước tình yêu,

Cho cuộc đời là mộng ảo cao siêu,

Chìm đắm ở thương hoa và tiếc ngọc;

Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc

Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn,

Véo von ca cho át tiếng kêu than

Của nhân loại cần lao đang giãy giụa;

Thì bạn hỡi một nhà thơ như rứa

Là tai ương chướng họa của nhân quần….

Còn về quan điểm của phái “vị nghệ thuật”, chúng tôi chỉ được đọc mấy câu thơ bí hiểm trích của Nguyễn Xuân Sanh như “Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm/ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà…”.  So sánh bài thơ của Sóng Hồng với mấy câu của Nguyện Xuân Sanh, dĩ nhiên chúng tôi nhận thấy chân lý thuộc về phái vị nhân sinh. Trong khi “nhân loại cần lao đang giãy giụa” (như chị Dậu, anh Pha hay Chí Phèo chẳng hạn) mà cứ mải mê mộng ảo với tình yêu (ví dụ như mấy câu trên của Nguyễn Xuân Sanh, hay “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư hoặc “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Nhất Linh…) thì thật là bất nhẫn. Mãi đến nhiều năm sau tôi mới nhận ra sự phi lý khi phân chia nghệ thuật thành “vị nghệ thuật” với “vị nhân sinh”. Nghệ thuật chân chính chỉ có mục tiêu duy nhất là phục vụ cho con người. Đó là con người vĩnh hằng muôn thuở (mà người ta cảm thấy như là vị nghệ thuật) hay con người trong từng hoàn cảnh khác nhau ( có vẻ như là vị nhân sinh). Những gì thuộc về con người vĩnh hằng sẽ sống mãi; còn những gì chỉ đáp ứng với từng hoàn cảnh, thì cũng chỉ sống cùng hoàn cảnh đó mà thôi. Vì vậy, không thể bảo những bài thơ tả “ mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông” chỉ là “vị nghệ thuật”, còn những gì có chất “thép”, hay cơm áo gạo tiền mới là “vị nhân sinh”. Bởi thế mà Văn Cao nổi danh cùng “Thiên thai” “Suối mơ” cực kỳ lãng mạn, đồng thời cũng trường tồn với “Tiến quân ca” “Chiến sĩ Việt Nam” vô cùng hùng tráng. Không ai có thể xếp bản “Serenade” của Shubert, “Tristesse” của Chopin hay các bản giao hưởng lừng danh của Beethoven hoặc Bach thuộc loại “vị” cái gì; nụ cười bí hiểm của nàng Mona Lisa trong bức tranh “La Gioconda” luôn là tuyệt đỉnh mỹ thuật nhân loại, mà không ai hỏi danh họa Leonardo da Vinci rằng khi vẽ bức tranh đó ông “vị” nghệ thuật hay nhân sinh. Bản “Sonata Ánh trăng” của Beethoven “vị” cái gì khi mà chính Lênin đã say mê nó? Phải chăng bức tranh “Bác Hồ với ba em thiếu nhi Bác-Trung-Nam” là một tác phẩm vị nhân sinh vì nó được vẽ bằng máu của họa sĩ Diệp Minh Châu để kính dâng vị Cha già Dân tộc? Nếu vậy thì nó có giá trị nghệ thuật không? “Truyện Kiều” sống mãi cùng dân tộc mà không ai cần biết đại thi hào Nguyễn Du “vị” cái gì. Nghệ thuật vị nghệ thuật (theo một nghĩa nào đó) là để phục vụ con người bằng nghệ thuật đích thực. Nghệ thuật vị nhân sinh lẽ đương nhiên là phục vụ con người; nhưng khi vị nhân sinh biến thành phục vụ chính trị thì lại có nghĩa khác. Khi ấy, văn nghệ sĩ sẽ phải sáng tác theo đường lối chính trị của Đảng cầm quyền, nghệ thuật không còn là chính nó, mà đã biến thành công cụ phục vụ cho quyền lợi của nhóm người nắm quyền lực chính trị. Những tác phẩm được sáng tác như vậy khó có thể nói là chúng vị “nhân loại cần lao đang giãy giụa”, mà thường là  vị cái nhân sinh của chính tác giả, để nhờ đó mà người sáng tác được giới cầm quyền quyền ban phát bổng lộc và danh vọng. Không ít văn nghệ sĩ đã chọn cách “vị nhân sinh” như vậy.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác