NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯƠC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 6, phần 1

( 08-05-2014 - 03:58 PM ) - Lượt xem: 519

Là con gia đình tư sản, việc Giang được chuyển đoàn khi mới 16 tuổi đã cho thấy sự tu dưỡng kiên trì của bạn ấy. Giang đã viết mấy quyển nhật ký tu dưỡng, trong đó ghi rõ những tấm gương anh hùng liệt sĩ mà bạn đã noi theo

CHƯƠNG SÁU

 Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI

 

1. Tiến lên đoàn viên

Đầu năm 1963, tin về chiến thắng Ấp Bắc tại tỉnh Định Tường (Nam Bộ) được lan truyền trên toàn miền Bắc: một tiểu đoàn bộ binh cơ động bằng máy bay trực thăng phối hợp với lính bảo an của Mỹ-Diệm, có pháo binh và chiến xa M113 yểm trợ, đã bị 2 đại đội quân Giải phóng miền Nam cùng du kích địa phương đánh bại, giết và làm bị thương trên 200 tên địch, bắn rơi nhiều máy bay, bắn cháy nhiều chiến xa.

 Trong không khí mừng chiến thắng ấy, Ban chấp hành Đoàn trường Ngô Quyền tổ chức Lễ trưởng thành và kết nạp đoàn viên mới cho bạn Đỗ Bắc Giang, đội trưởng đội Lý Tự Trọng của chúng tôi. Là con gia đình tư sản, việc Giang được chuyển đoàn khi mới 16 tuổi đã cho thấy sự tu dưỡng kiên trì của bạn ấy. Giang đã viết mấy quyển nhật ký tu dưỡng, trong đó ghi rõ những tấm gương anh hùng liệt sĩ mà bạn đã noi theo, kể cả “ Ruồi Trâu”- vị anh hùng cách mạng Ý trong tiểu thuyết của Êten Lilian Vôinítsơ và Lôi Phong- một chiến sĩ giải phóng quân Trung Quốc luôn muốn được làm “tùng bách trong dông tố”, được Bác Mao nêu gương cho thanh niên Trung Quốc học tập và được tuyên truyền rất nhiều ở Việt Nam. Hồ sơ thủ tục kết nạp Giang vào đoàn có khá nhiều giấy tờ. Trước hết là giấy giới thiệu của Đội Lý Tự Trọng do 2 phụ trách đội là anh Phạm Văn Ngà và chị Hoàng Thị Nguyệt cùng ký tên với đội phó Cao Văn Khảng, trong đó xác nhận rằng “Em Giang không bị ảnh hưởng của thành phần giai cấp gia đình, luôn tích cực tu dưỡng theo lý tưởng của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao mà không mắc sai sót” và đề nghị Đoàn trường công nhận em là cảm tình đoàn. Tiếp đó là giấy giới thiệu của 2 đoàn viên chi đoàn 6 (lớp 9D) là Nguyễn Đăng Chúc và Nguyễn Thị Vượng, xác nhận Giang đã tu dưỡng tốt, xứng đáng trở thành đoàn viên TNLĐ, đề nghị cấp trên xét kết nạp. Trên cơ sở đó, Ban chấp hành Đoàn Trường PTC3 Ngô Quyền làm công văn gửi lên Thành đoàn TNLĐ Hải Phòng đề nghị kết nạp Giang. Cuối cùng, Thành đoàn đã ra quyết định kết nạp đồng chí Đỗ Bắc Giang vào Đoàn TNLĐ Việt Nam. Nhận được quyết định của Thành đoàn, Ban chấp hành Đoàn trường lập tức tổ chức lễ kết nạp. Trong buổi lễ này, Giang rưng rưng nước mắt cảm động vì mình đã trở thành một người cộng sản trẻ tuổi, cắt đứt với lý lịch của gia đình tư sản.

 Cũng trong thời gian đó, ba tôi được đề bạt làm Giám đốc Sở Giáo dục Hải Phòng (thay bác Lê Xuân Phùng nghỉ hưu). Việc ba được lên chức đã làm cho không khí những ngày tết nguyên đán Quý Mão thêm vui, nhưng gia đình tôi lại ăn tết có phần đạm bạc hơn trước. Do những khó khăn về chất đốt và lượng thịt được mua theo phiếu, má tôi quyết định không gói bánh chưng nữa mà chỉ làm “xôi xéo” (nếp đồ chín trộn với đậu xanh giã nhuyễn) để ăn với gà luộc, mặc dù biết ba tôi luôn rất thích bánh chưng. Đêm giao thừa, toàn dân miền Bắc lại được nghe thơ chúc tết của Hồ Chủ tịch trên đài phát thanh:

Mừng năm mới,

Cố gắng mới,

Tiến bộ mới,

Chúc Quý Mão là năm nhiều thắng lợi.

Thơ Bác năm nay thật độc đáo, rất ngắn gọn nhưng cũng đủ cho nhân dân hiểu rằng mọi người phải ra sức thi đua lao động sản xuất ở miền Bắc và hy sinh chiến đấu ở miền Nam để giành những thắng lợi mới dâng lên Đảng-Bác.

Trong năm học này, chính tôi cũng giành được nhiều thắng lợi: hầu như tất cả các môn học đều tiến bộ hơn năm ngoái. Các bài tập toán tôi giải không mấy khó khăn, kể cả đại số và hình học, nên thường được điểm 4, thỉnh thoảng cũng được 5. Vật lý có khó hơn, nhưng tôi vẫn đủ sức vượt qua. Tôi tiến bộ nhất trong môn hóa của thầy Trần Trọng Dương nhờ cách dạy rất hay của thầy. Dạy về các phản ứng hóa học, thầy luôn đưa lớp vào phòng thí nghiệm để thực hành. Khi dạy “Bảng hệ thống tuần hoàn Menđêlêep”, thầy cho chúng tôi nghiên cứu kỹ theo từng tổ rồi cử người lên thuyết trình trước lớp, sau đó còn bắt mỗi học sinh viết đủ các dữ liệu về một nguyên tố trong bảng vào một tờ bìa để nộp cho thầy. Trong môn sinh vật, tôi rất thích học thuyết Pavlốp về phản xạ có điều kiện qua các thí nghiệm của ông đối với loài chó. Môn văn của thầy Mộc cũng giúp tôi tiến bộ nhanh. Tôi thuộc làu hai bài thơ “ Làm lẽ” và “Bánh trôi” của Hồ Xuân Hương trong sách giáo khoa, và còn học thêm hai bài “Cái quạt” và “Đánh cờ người” của bà do các bạn trong lớp truyền khẩu một cách thích thú. Tôi cảm thụ được tình yêu thương con người và những giá trị khác trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng như trong “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm hay “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều và đã thuộc lòng những đoạn dài trong các tác phẩm cổ điển này. Tôi cũng cảm thụ và học thuộc những bài cổ văn rất hay mà rất khó như “ Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bạch Đằng giang Phú” của Trương Hán Siêu, “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu, “Hà thành chính khí ca” của Nguyễn Văn Giai… Các bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm (“Thói đời”, “Thế gian biến cải”…), Nguyễn Khuyến (“Thu điếu”, “Ông nghè tháng Tám”, “Khóc Dương Khuê”…), Trần Tế Xương ( “Hà Nam tức sự”, “ Chúc Tết”, “Thương vợ”…) để lại những ấn tượng không phai mờ. Các tác phẩm hiện thực phê phán như “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố và “Bước Đường Cùng” của Nguyễn Công Hoan cũng làm tôi thích thú. Tôi thấm thía đau xót cho cảnh bán con nộp sưu của chị Dậu trong “Tắt đèn”; rất tâm đắc đoạn tường thuật cảnh “Vào cửa quan” của anh Pha trong “Bước Đường Cùng”, đặc biệt là chi tiết kể viên quan huyện thò tay vào chiếc đĩa định vét tiền đút lót nhưng không thấy liền trợn mắt hỏi “Đâu?” khiến anh Pha sợ xanh mặt. Qua các tác phẩm này, tôi hiểu rõ sự bất công thối nát của chế độ thực dân phong kiến, do đó thực sự tin rằng chế độ mới của Đảng ta là tốt đẹp. Chuẩn bị dạy bài “Một người mẹ Trung Quốc” (vốn có tên là “Người đàn bà Tàu”, được đổi lại để bày tỏ sự trân trọng đối với nước bạn Trung Hoa) của Nguyên Hồng, thầy Mộc nhờ tôi vẽ chân dung nhân vật đó trong cuộc đấu tranh của công nhân Hải Phòng chống chính quyền thực dân Pháp. Bức tranh vẽ bằng chì than của tôi được thầy dùng làm giáo cụ trực quan cho cả lớp. Nếu giỏi văn nhất lớp là Nguyễn Phú Mạnh thì sau đó đến tôi và một số bạn khác với những điểm 4 hoặc 5 đều đều.

 Tiếng Nga của tôi cũng đã khá. Khi ấy, em Hùng đang học lớp 6 trường Đinh Tiên Hoàng nhận được “thư tìm bạn” (kèm theo ảnh chân dung) của một nữ sinh lớp 6 Liên Xô tên là Liuba Mednhikova. Hùng phải nhờ tôi dịch và viết thư trả lời cho cô bạn đó, và tôi đã giúp em trọn vẹn. Nhưng thú vị nhất là chúng tôi đã học được nhiều ca khúc của Liên Xô bằng chính tiếng Nga (có kèm theo lời Việt) do thầy Dương dạy. Đó là “Leninskie Gory” (Đỉnh núi Lênin), “Pesnhie o Rodinhe” (Ca ngợi Tổ quốc)…Nổi bật trong đó là “Dan Prikaz” (Lệnh đã ban ra), một ca khúc kinh điển về những đoàn viên của Đoàn thanh niên cộng sản Nga (viết tắt là Komsomol) trong thời nội chiến:

Lệnh đã ban ra

Anh đi về phương Tây

Chị đi về một phương khác

Những đoàn viên Komsomol

Tiến vào cuộc Nội chiến khốc liệt…

Ca khúc này in sâu trong tâm trí tôi cùng với hình ảnh các chiếnsĩ kỵ binh Hồng quân đội chiếc mũ dạ có chóp nhọn và ngôi sao đỏ phía trước, vung kiếm xung phong trên mình ngựa bên những chiếc xe “Troika” ba ngựa kéo chở khẩu đội súng máy, chạy băng băng trên thảo nguyên mênh mông của nước Nga để tiêu diệt bọn Bạch vệ. Nhưng chúng tôi thuộc lòng cả lời Nga và lời Việt và thường hay hát trong những cuộc sinh hoạt tập thể là bài “ Pesnhi Trevojnoi molodosti” (Bài ca tuổi trẻ sôi nổi), một ca khúc của Alexandra Nikolaievna Pakhmutova viết về các đoàn viên Komsomol tình nguyện đến những vùng đất hoang vu hẻo lánh để xây dựng CNCS:

Lòng ta hằng mong muốn và ước mơ

Bàn tay son sắt giương cao ngọn cờ

Để ngàn đời bền vững Tổ quốc ta

Trời cao muôn ngàn năm chói lòa

Dù sương gió tuyết rơi, dù vắng bóng ngôi sao giữa trời

Kìa trái tim và tiếng ca

Giúp ta nhịp chân trên đường xa…

Hát những bài như vậy, chúng tôi cảm thấy như mình đã trở thành những người cộng sản trẻ tuổi hăng hái đấu tranh để cải tạo thế giới, giống như những đoàn viên Komsomol trong khói lửa cách mạng. Bên cạnh đó, chúng tôi còn thuộc  nhiều bài hát nước ngoài khác qua lời dịch tiếng Việt. Có một bài đặc biệt mang tên “Sulicô”, kể về  một cô gái chết trẻ để lại nỗi buồn vô hạn cho người yêu của cô. Bài này còn buồn thảm hơn những bài “nhạc vàng” của ta, nhưng có lẽ vì đó là nhạc phẩm của người Gruzia thuộc Liên bang Xô viết nên không bị cấm. Các bài  “Lời anh bay tận rừng xanh” và “Rồi một con chim bay” chỉ nói về tình yêu trai gái lãng mạn mà cũng không bị cấm, có lẽ vì đó là những nhạc phẩm của nước bạn Ba Lan. Khi ấy, vì đã phải nghe quá nhiều những bài hát đấu tranh và lao động của Việt Nam, nên chúng tôi rất yêu thích các bài “Con chim non” của Pháp, “Trở về Soriento” của Ý, các bài “La Paloma”,“Siboney”, “Habana mến yêu” của Cuba, “Chim én” của Trung Quốc, “Bài ca đảo dừa”, “Dòng sông Sôlô” và “Con ếch xanh” của Inđônêxia cùng các bài “Lăm tơi”“Hoa Chăm pa” của Lào. Những nhạc phẩm này cho thấy đất nước đã sản sinh ra chúng thật là tươi đẹp và tâm hồn của người dân nơi đó vô cùng hồn nhiên duyên dáng, khác hẳn với những cuộc đấu tranh chính trị bạo tàn vẫn diễn ra hàng ngày ở đây đó.

19-4-1963 trở thành một ngày đáng nhớ của số đông các học sinh lớp 9D, vì hôm đó đã diễn ra buổi lễ trưởng thành cho tất cả các đội viên TNTP còn lại của đội Lý Tự Trọng, đồng thời cũng là lễ kết nạp đoàn viên TNLĐ mới. Như thường lệ, buổi lễ được tổ chức ngay tại lớp học với quốc kỳ, ảnh Bác, cờ Đoàn và cờ Đội treo trên tường phía bảng đen. Tất cả đội viên chúng tôi quàng khăn đỏ lần cuối cùng để đến dự lễ cùng các đoàn viên của lớp và các anh chị phụ trách. Sau thủ tục chào cờ, thầy Tổng phụ trách lên phát biểu về những thành tích của đội Lý Tự Trọng trong mấy năm qua, biểu dương chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đội viên, nêu lên ý nghĩa về sự trưởng thành của mỗi đội viên sau khi hết tuổi Đội và kêu gọi chúng tôi tu dưỡng vươn lên Đoàn. Tiếp đó, chúng tôi đứng dậy để thầy lần lượt cởi khăn quàng đỏ của mỗi người, gấp khăn và trao lại cho từng người cất làm kỷ niệm. Khi thầy làm thủ tục đó với mình, tôi cảm động hệt như khi được quàng khăn đỏ lần đầu tiên hơn 3 năm về trước. Sau khi người cuối cùng đã cất khăn quàng, tất cả chúng tôi đồng thanh hát bài truyền thống “Tiến lên đoàn viên” của Phạm Tuyên:

Đây một mùa xuân trăm hoa hé tưng bừng

Đây thời niên thiếu hát ca vang lừng

Khăn quàng đỏ tươi em đeo em mến yêu

Quyết tâm luyện rèn cho mình càng tiến thêm.

Tiến lên đoàn viên, em ước mơ bao ngày

Xứng cháu Bác Hồ dựng xây nước sau này

Tiến lên đoàn viên, theo Đảng tiên phong

Bước theo lá cờ nhuộm màu đấu tranh.

Hát xong, buổi lễ bước sang phần thứ hai: kết nạp đoàn viên mới. Có hai bạn được kết nạp là Nguyễn Đắc Đồng và Bùi Trọng Tài. Theo giới thiệu của ban tổ chức, hai bạn lần lượt đứng dậy, nghiêm trang đọc đơn xin gia nhập Đoàn TNLĐ Việt Nam. Tiếp theo, hai đoàn viên cũ là Nguyễn Đăng Chúc và Trần Văn Nguyệt lên đọc lý lịch của 2 “cảm tình đoàn” do mình chịu trách nhiệm bồi dưỡng, rồi đọc giấy giới thiệu của chính mình đề nghị kết nạp 2 người vào Đoàn. Tiếp đó, Đồng và Tài đứng nghiêm để nghe đồng chí Bí thư Đoàn trường Ngô Quý Đô đọc quyết định của Thành đoàn TNLĐ Hải Phòng về việc kết nạp hai người vào Đoàn TNLĐ Việt Nam. Giữa tiếng hoan hô vang dậy, đồng chí Bí thư tiến đến gắn huy hiệu đoàn vào ngực áo hai bạn. Hai đoàn viên mới lần lượt lên đọc thuộc lòng nhiệm vụ của đoàn viên theo điều lệ Đoàn, trong đó nổi bật là “ Luôn phấn đấu vì lý tưởng của Đảng và Bác Hồ; tích cực học tập, lao động, rèn luyện để xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất Tổ quốc”. Đọc xong, hai bạn lần lượt giơ nắm tay hô “Xin thề!” để cam kết thực hiện đúng nhiệm vụ đó. Nhìn khuôn mặt của hai đoàn viên mới, tôi biết họ đang rất xúc động. Trước khi hạ cờ bế mạc, Bí thư Đoàn trường lại lên tuyên đọc danh sách những người được công nhận là “cảm tình đoàn” trong đó có tên tôi, rồi phát cho mỗi người trong danh sách đó một “giấy chứng nhận cảm tình Đoàn”. Thế là tôi đã từ giã tuổi thiếu niên để trở thành “ thanh niên cảm tình” tu dưỡng vươn lên Đoàn.

 

Đầu tháng 5, toàn miền Bắc lại tưng bừng phấn khởi khi “ Đại hội Thi đua toàn quốc” khai mạc tại Hà Nội để mở một đợt thi đua mới với 4 ngọn cờ đầu là “Sóng  Duyên Hải” (ở Hải Phòng), “Gió Đại Phong” (ở Quảng Bình), “Cờ Ba Nhất” (trong quân đội) và “Trống Bắc Lý” (ở Hà Nam). Trường Phổ thông cấp II Bắc Lý (huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam) được tặng danh hiệu “Lá cờ đầu trong ngành giáo dục” nhờ có đường lối đào tạo “con người mới XHCN” vừa học tốt để chiếm lĩnh đỉnh cao khoa học, vừa có tinh thần hy sinh chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, lại vừa sẵn sàng tham gia xây dựng quê hương. Từ đó, Bộ Giáo dục đã phát động phong trào “Tích cực thi đua dạy tốt-học tốt, học tập và làm theo Bắc Lý”, được gọi tắt là “Thi đua Hai tốt”. Các khẩu hiệu của phong trào thi đua này lập tức được kẻ trên những bức tường trong trường  Ngô Quyền.

 Mặc dù Đảng ta đã có cả một hệ thống đoàn-đội để giáo dục thanh thiếu niên theo lý tưởng của mình, rồi lại có cả đường lối đào tạo “con người mới XHCN” theo lý tưởng đó, nhưng trong xã hội vẫn còn sót lại những phần tử lạc lõng chưa quán triệt đường lối ấy. Sự lạc lõng của những người này thể hiện rõ ràng ở trang phục của họ. Trong khi các đội viên, đoàn viên và đảng viên luôn cắt tóc cao, đi dép lốp và mặc quần áo giản dị theo cách cắt may của các cửa hàng May-đo nhà nước, thì một số thanh niên lại thích để một chùm tóc dài sau gáy, chải đầu bóng mượt bằng bigiăngtin rồi vuốt chùm tóc đó cong lên, trông giống như đít con vịt. Mà đã để đầu kiểu “đít vịt” thì lại thích mặc áo sơ mi có hình chim cò hoặc kẻ ca rô (không biết ở đâu ra) với quần “ống tuýp”, tức là loại quần trễ rốn bó sát đùi và cẳng chân, với ống nhỏ vừa đủ để xỏ chân vào. Dĩ nhiên họ không dùng dép cao su mà thường đi dép Thái Lan hoặc ít nhất cũng là dép kiểu Thái do Việt Nam chế tạo. Những người  ăn mặc như thế rất xa lạ đối với tôi, nhưng tôi cũng không ghét họ, vì cho rằng đó là sở thích của họ. Hơn nữa, tôi đã thấy các Việt kiều ở Thái Lan về nước  ăn mặc như thế cũng hay hay (như bạn cũ Thu Phương chẳng hạn).

 Nhưng Đảng và Đoàn đã coi những kẻ đó là bọn “càn quấy”, “cao bồi” và  kiên quyết chống “quần ống tuýp-tóc đít vịt”. Các đội “thanh niên cờ đỏ” được thành lập ở khu phố, trong xí nghiệp và trường học với những thành viên đeo băng đỏ trên cánh tay để giữ gìn nền nếp tác phong và ngăn chặn những trang phục không thích hợp. Các cửa hàng mậu dịch không bán hàng cho những ai diện trang phục như vậy, một số cơ quan xí nghiệp từ chối nhận các sinh viên tốt nghiệp đại học khi trông thấy những người này mặc quần có ống quá hẹp. Kiên quyết hơn, công an trên các đường phố đã bắt giữ những người đó để dùng dao kéo rạch toang quần ống tuýp, cắt cụt tóc đít vịt của họ rồi thả cho đi. Vậy mà cái “bọn càn quấy” ấy vẫn không chừa. Ở lớp tôi có Vũ Hữu Ái thích mặc quần ống tuýp trễ rốn khiến mọi người thường lo thay cho bạn ấy; vậy mà không hiểu do đâu cậu ta vẫn thoát được sự nhòm ngó của thanh niên cờ đỏ trong trường (có lẽ nhờ mái tóc không phải là đít vịt).

 Tôi không hiểu tại sao người ta lại phải thẳng tay trị những người đó như vậy, và chỉ tâm niệm rằng mình đang “tu dưỡng” vươn lên đoàn thì phải nhớ cắt tóc trước khi để nó quá dài, và cứ nên mặc quần áo cũ mà đừng dại dột cải tiến trang phục làm gì cho khổ. Trong một lần đến nhà bác Khâm để vẽ một bức tranh về cảnh sông Lấp, tôi được anh Tín tặng mấy thứ đồ cũ mà anh không mặc vừa nữa: một chiếc áo sợi dài tay màu đen và chiếc quần ka ki trắng vẫn còn tốt. Quần này có gấu rộng 20 cm, đúng với kích thước quy định của cửa hàng May đo Tổng hợp, nên tôi rất thích. Khi tôi diện quần này đến lớp, các bạn có vẻ thán phục và từ đó gọi tôi là “Ichchian”- theo tên nhân vật chính trong bộ phim khoa học giả tưởng “Người Cá” của Liên Xô. Đó là một chàng đẹp trai dong dỏng cao có thể sống dưới nước nhờ được ghép một bộ mang cá mập, mỗi khi lên bờ luôn mặc quần áo trắng.

 Nhiều năm sau, khi đã chứng kiến quá nhiều những hành động chống “quần ống tuýp-tóc đít vịt”, tôi mới hiểu được ý nghĩa thâm thúy của chúng. Ngoài cảm giác khó chịu của những người gốc bần cố trước cách ăn mặc theo mốt ở chốn thị thành mà họ không quen mắt, những hành động đó có mục đích chính trị hẳn hoi. Đảng ta luôn áp dụng mọi biện pháp để tạo nên “con người mới XHCN”, tức là những người xả thân vì lý tưởng của Đảng mà không nghĩ gì đến bản thân. Khi nhìn những kẻ “càn quấy, cao bồi” như vậy, Đảng và Đoàn thấy ngay rằng bọn này chỉ muốn ăn ngon mặc đẹp theo sở thích riêng của mình, không thể tu dưỡng vươn lên đoàn, lại càng không thể trở thành cảm tình đảng được. Cách trang phục của chúng chính là dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong chế độ tư bản thối nát, phải bị quét sạch khỏi xã hội XHCN tươi đẹp, để không lây cái thứ chướng tai gai mắt đó cho những mầm non đang vươn lên dưới ánh sáng của Đảng. Đó chính là cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận áo quần. Đối với Đảng ta, những thứ như là “thời trang” và “mốt” đều là sản phẩm của CNTB, hoặc chí ít cũng là lề thói tiểu tư sản -“ tạch tạch sè”. Vì thế, khi trên tờ họa báo “Liên Xô” bắt đầu xuất hiện những kiểu mẫu thời trang, thì đích thị nước này đã theo chủ nghĩa xét lại.

 Điều đáng ngạc nhiên đối với tôi là nhiều Việt kiều ở Thái Lan về nước vẫn mặc quần ống tuýp mà lại không bị rạch. Có lẽ đó là sự ưu tiên cho những người đã sống lâu năm dưới chế độ tư bản, nay mới về nước nên chưa kịp giác ngộ xã hội chủ nghĩa.

 

 Trong năm học này, 9D của chúng tôi được đánh giá là lớp học giỏi nhất trong số 4 lớp 9, giỏi cả về văn nghệ và thể thao. Kết quả học tập hầu như tốt đẹp với tất cả mọi người, chúng tôi vui vẻ tham dự đêm liên hoan văn nghệ trong ngày Hội truyền thống của trường Ngô Quyền (20-5) với sự trình diễn của học sinh tất cả các lớp. Các tiết mục của 9D được hoan nghênh nhiệt liệt, nổi bật là màn hợp ca bao gồm hơn nửa lớp tham gia, dưới sự chỉ huy của Phạm Đức Thịnh, do Nguyễn Huy Thiêm lĩnh xướng và chính thầy chủ nhiệm Nguyễn Xuân Mộc đệm phong cầm, với hai nhạc phẩm “Đảng là tay lái” và “Hoàng hôn trên nông trường” (đều là nhạc Liên Xô, lời Việt). Kỳ nghỉ hè vừa bắt đầu, Đồng rủ tôi cùng lên Hà Nội mấy ngày để thăm họ hàng. Má cho tôi một số tiền và tem gạo đủ dùng, thế là tôi cùng Đồng ra ga khởi hành một chuyến đi vui vẻ. Không thấy “thùng nước tự giác” trên tàu như má kể (có lẽ họ đã dẹp thùng này vì quá ít người tự giác trả tiền), nhưng tàu có đủ chỗ ngồi cho cả hai chúng tôi, lại có cô nhân viên xách ấm chén đi bán nước cho hành khách, nên cuộc hành trình cũng khá thuận tiện. Đồng cho tôi biết rằng Bộ Tư lệnh thành phố đã cử người về trường để tuyển quân, và cậu ấy đã lọt vào danh sách dự tuyển nên phải tranh thủ lên Hà Nội thăm họ hàng trước khi đi bộ đội. Đến ga Hàng Cỏ, hai đứa hẹn ngày trở lại rồi chia tay nhau, tôi đi về nhà cậu Bính còn Đồng về nhà bà con của cậu ấy.

 Hà Nội đã thay đổi rất nhiều so với chuyến đi thăm thủ đô lần đầu tiên của gia đình chúng tôi 8 năm về trước. Không còn những cô gái mặc quần trắng áo dài màu tha thướt, tất cả phụ nữ đều mặc quần đen áo cánh như ở Hải Phòng. Thay cho những chiếc xích lô trải đệm trắng muốt, giờ đây là những chiếc xe sàn gỗ dùng chủ yếu để chở hàng. Chỉ còn lại tàu điện với tiếng chuông leng keng là có vẻ giống như xưa. Gây ấn tượng mạnh nhất là những cuộc “ lao động xã hội chủ nghĩa” để xây dựng các công viên lớn ở thủ đô. Đường Cổ Ngư xưa có vẻ hoang vắng, nay đã thành đường Thanh Niên to đẹp với nhiều bồn hoa cây cảnh bên hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Trên con đường rợp bóng cây xanh này, các đôi nam nữ tha hồ khoác tay nhau đi dạo mát, ngồi bên nhau trên ghế đá hay bờ cỏ ven hồ mà tâm sự với nhau. Chỉ khi nào các cặp đôi ấy có những hành vi quá trớn không phù hợp với nếp sống văn minh của con người mới xã hội chủ nghĩa, thì thanh niên cờ đỏ hoặc trật tự viên mới xuất hiện để nhắc nhở họ. Xung quanh hồ Bảy Mẫu có hàng nghìn người đang hăng say lao động để xây dựng “công viên Thống Nhất”. Công viên này đang dần dần hình thành với những cây cầu uốn cong nối bờ hồ với mấy hòn đảo giữa hồ, và đã có những chiếc thuyền thoi “pêrixoa” một hoặc hai tay chèo cho mọi người  thuê để bơi giải trí. Trên các thảm cỏ xanh nổi bật những bức tượng ca ngợi người lao động: một chị công nhân xách xô vác xẻng, một anh công nhân vác búa xách đèn…Ở hồ Thủ Lệ cũng diễn ra cảnh lao động xã hội chủ nghĩa tưng bừng nhộn nhịp để xây dựng công viên. Băng cờ khẩu hiệu giăng đỏ chói bên bờ hồ, hàng nghìn người dùng cuốc xẻng và quang gánh hối hả đào đắp vận chuyển đất dưới tiếng loa thúc giục tinh thần thi đua hăng hái. Bài hát sôi nổi“Ngày thứ bảy cộng sản” do Hoàng Hà sáng tác để ca ngợi lịch sử ngày “lao động xã hội chủ nghĩa” xuất phát từ nước Nga cách mạng của Lênin  vang khắp công trường:

… Dòng lịch sử còn ghi vinh quang

Đây là sáng kiến giai cấp công nhân

Vì tự nguyện cùng nhau tham gia lao động kiến thiết.

Những đội ngũ đều bước tới công trường

Lúc lao động là lúc cất lời ca:

“Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian!...”

Cùng với cảnh lao động tưng bừng như vậy, phong trào chống quần ống tuýp - tóc đít vịt ở thủ đô được triển khai rất mạnh. Đã mấy lần tôi được chứng kiến cảnh công an và thanh niên cờ đỏ rạch quần và cắt tóc của “bọn càn quấy” ngay tại Bờ Hồ.

 Ở thăm gia đình cậu Bính, dì Dung và dì Quỳ, tôi vui mừng đươc gặp lại những đứa em họ thân thiết, đặc biệt là được gặp Bùi Đức Hoài, cậu em mới sinh chưa đầy năm của gia đình dì Quỳ. Khi ấy chú Trực chồng dì đang đi du học ở Liên Xô nên dì ở nhà một mình nuôi con. Có lẽ em Hoài được đặt tên như vậy để ghi lại nỗi nhớ nhung mà dì và chú dành cho nhau trong những tháng ngày xa cách. Thật ngẫu nhiên, khi đến thăm gia đình dì Dung ở Khu tập thể Bờ Sông, tôi lại gặp Đồng cũng đến thăm người bà con có nhà ngay trên gác phòng ở của dì tôi. Đó là gia đình ông bà giáo Hoàng Tử Đồng- Nguyễn Khoa Diệu Biên mà  Đồng gọi là “anh-chị”, mặc dù họ xấp xỉ tuổi cha mẹ chúng tôi và đã có ba người con: con trai trưởng Hoàng Tử Hùng ngang tuổi tôi, cô con gái lớn Diệu Thanh xinh đẹp nổi tiếng thua tôi một tuổi và cô nhỏ Diệu Minh bằng tuổi em Lan Anh. Sau này, tôi sẽ có hân hạnh làm đồng nghiệp của gia đình ấy và gặp lại họ nhiều lần. 

             

Kết thúc chuyến đi Hà Nôi trở về nhà, chúng tôi nhận được ngay tin báo: Đồng đã có lệnh gọi nhập ngũ. Thế là lớp tôi liền tổ chức gấp một buổi liên hoan tiễn cậu ấy đi bộ đội. Mọi người hỏi thăm Đồng tíu tít và tặng bạn những món quà kỷ niệm: chiếc bút máy, cuốn sổ tay, vài chiếc khăn tay, vài cuốn truyện hay để bạn đọc giải buồn. Cả lớp không khách khí khi thanh toán những gói bánh kẹo và đĩa hoa quả trên bàn, rồi còn đùa nghịch lấy hạt nhãn và hạt vải ném nhau. Đồng cảm động phát biểu chia tay mọi người, chúc cả lớp thành công trên con đường học vấn. Bài phát biểu của thầy chủ nhiệm Nguyễn Xuân Mộc cuốn hút tất cả chúng tôi với những lời căn dặn chí tình, mong Đồng vượt qua khó khăn của cuộc sống quân ngũ rồi sẽ trở về học lên đại học.

 Ngay sau ngày tiễn Đồng lên đường nhập ngũ, chúng tôi lại được tin Đỗ Văn Hoan cũng đã gia nhập quân đội mà không báo cho lớp biết. Trong khi đó, báo chí và đài phát thanh dồn dập đưa tin Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu giữa đô thành Sài Gòn vào ngày 11-6 để phản đối chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo ở miền Nam. Tấm gương hy sinh oanh liệt của Hòa thượng khiến mọi người vô cùng xúc động và cảm phục. Ít hôm sau, tin Liên Xô phóng thành công con tàu vũ trụ chở  nữ phi hành gia đầu tiên Valentina Têrếchscôva bay vòng quanh trái đất 48 vòng trong 3 ngày đêm lại gây xôn xao dư luận quần chúng.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác