NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯƠC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 5, phần 6

( 04-04-2014 - 09:03 PM ) - Lượt xem: 616

Vì lý tưởng của Đảng ta là đào tạo những người yêu lao động và ghét bóc lột, nên năm học nào chúng tôi cũng có một đợt đi lao động. Năm nay, chúng tôi lại được đi gặt mùa giúp dân ở Hợp tác xã An Lư (thuộc huyện Thủy Nguyên). Đã quen với việc này từ năm ngoái nên chúng tôi tự tin hơn và cảm thấy rất vui trong chuyến đi lần này. Trong một tuần lễ, chúng tôi được chia thành từng nhóm về ở với các gia đình xã viên nên đã học được cách “ba cùng” với dân như các anh bộ đội: cùng ăn, cùng ở, cùng làm...

6. Tu dưỡng

Đầu năm 1962, Bác Hồ cùng đi với nhà du hành vũ trụ Liên Xô Ghecman Titốp ghé thăm Hải Phòng sau chuyến tham quan Vịnh Hạ Long. Đứng trong đoàn học sinh Ngô Quyền ra đón Bác tại khán đài sân vận động Lạch Tray, tôi được chứng kiến chiếc máy bay trực thăng chở hai vị khách quý từ trên trời hạ thấp dần với chong chóng quay tít thổi bay mọi vật trên một khoảng sân vận động rồi đậu xuống đó. Cửa máy bay vừa mở, Bác cùng nhà du hành vũ trụ Liên Xô bước xuống sân.rồi sánh vai nhau đi qua khán đài, tươi cười vẫy chào những người đứng đón.

 Trong dịp Tết Nhâm Dần, lần đầu tiên má tôi gói bánh chưng bằng “thịt mậu dịch” cùng với “nếp mậu dịch” (được mua thêm theo tiêu chuẩn ăn tết của cán bộ). Đêm giao thừa, cả gia đình tôi lại quây quần quanh chiếc radio nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ:

Năm Dần mừng xuân thế giới

Cả năm châu phấp phới cờ hồng.

Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi,

Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong.

Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới

Sức triệu người hơn sóng biển Đông.

Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi,

Hòa bình thống nhất quyết thành công.

Ngay sau Tết, chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi khi cán bộ và nhân dân lại được nhà nước cấp thêm “Phiếu vải” để có thể may quần áo mặc. Giống như phiếu thực phẩm, phiếu này cũng là một tờ giấy hình chữ nhật in rất đẹp,  trên đó ghi rõ tiêu chuẩn vải mỗi người được mua trong một năm. Theo tiêu chuẩn cán bộ của ba má tôi, mỗi người được mua 5m một năm, đủ để may được một bộ quần áo (nam là quần ka ki với áo pô pơ lin; nữ thì quần phíp hoặc láng đen và áo cũng pô pơ lin). Mấy anh em tôi hưởng tiêu chuẩn “nhân dân” nên mỗi đứa được 2,5m một năm, đủ để may một trong hai chiếc quần hoặc áo. Tiêu chuẩn vải đó cũng được chia thành nhiều ô như phiếu thực phẩm để có thể mua thành nhiều kỳ. Phiếu 2,5m của tôi được chia thành 10 ô: 1m, 30cm, 20cm, 10cm, 20cm, 10cm, 40cm, 20cm; ngoài ra còn thêm 2 ô “dự phòng” với hy vọng sẽ được mua thêm một cái gì đó (đối với phụ nữ, một trong hai ô này thường được mua thêm vải màn để sử dụng hàng tháng khi đến kỳ kinh nguyệt). Mặc dù ai cũng phải mua “vải mậu dịch” vì không còn “vải ngoài”, việc mua vải ở các cửa hàng “Bách hóa tổng hợp” hoặc “May đo tổng hợp” ít khi phải xếp hàng, vì mỗi người cả năm mới được một lần may áo hoặc quần hay cả hai cái. Hơn nữa, khi quần áo bị sờn rách, mọi người đã có những biện pháp thích hợp để có thể tiếp tục mặc chúng. Quần sờn rách ở hai đầu gối hay ở mông sẽ được “pích-kê” bằng cách lót vào bên trong những chỗ đó một miếng vải mỏng rồi may nhiều đường chỉ vòng quanh. Cổ áo sơ mi sờn rách hay cáu bẩn sẽ được lộn ngược mặt trái ra may lại, trông cũng tinh tươm chán! Bởi thế, không có quá nhiều khách hàng hiện diện cùng một lúc tại cửa hàng May đo Tổng hợp; chỉ khi nào có loại vải tốt bán ở quầy hàng nào đó, người ta mới phải xếp hàng. Cùng với sự ra đời của phiếu vải, một nghề mới xuất hiện trong các ngõ hẻm, với một bàn máy may đặt nửa kín nửa hở tại góc một ngôi nhà nào đó cùng một tấm bảng bằng bìa viết nguệch ngoạc mấy chữ “Lộn cổ sơ mi” hoặc “Pich-kê quần cũ”.

 

Vừa nỗ lực bản thân lại vừa có thêm sự giúp đỡ của Đồng, mãi đến cuối học kỳ 2 tôi mới chấm dứt được nạn vác gậy chăn ngỗng.

 Hoàn thành “năm học dốt nhất đời học sinh” của mình, tôi thở phào nhẹ nhõm để bước vào những ngày hè thú vị. Ngay tuần đầu tiên của kỳ nghỉ hè, ba má giao cho tôi và em Hùng nhiệm vụ trông nhà, trông em và tự nấu ăn với nhau; rồi “hai cụ” (bọn học sinh chúng tôi vẫn gọi lén bố mẹ như vậy) mang đồ đạc cùng 5 kg gạo ra ga đi tàu hỏa lên Hà Nội để thăm bà con tại thủ đô. Ở nhà, tôi hết sức chu toàn nhiệm vụ được giao, đồng thời cũng tận dụng thời cơ được tự do để vui chơi giải trí. Tôi quan tâm hơn cả là các thông tin, tường thuật và bình luận về Giải vô địch Bóng đá Thế giới đang diễn ra ở Chilê, trong đó một đội của “phe ta” là Tiệp Khắc đã được vào chung kết gặp Brêdin, và đội tuyển của danh thủ Pêlê đã trở thành vô địch.

 Từ thủ đô trở về, ba má khen mấy anh em chúng tôi ở nhà ngoan, biết giữ gìn nhà cửa sạch sẽ, rồi cho chúng tôi quà: em Hùng và tôi mỗi đứa một chiếc bút máy “Hồng Hà”, còn em Dũng được một thứ đồ chơi nhỏ mua ở tận Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Hà Nội to nhất miền Bắc. Nghe má kể, tôi được biết gia đình cậu mợ Bính đã có thêm cô con gái tên là Phùng Việt Hương, các em Lan Anh và Mai Anh con dì Dung đã lớn rất nhiều. Dì Quỳ cũng đã lấy chồng là một đồng nghiệp ở trường Múa tên là Bùi Đức Trực; đám cưới của dì rất vui vì có khiêu vũ giống như ở bên Liên Xô.  Má còn kể chuyện đi tàu hỏa xã hội chủ nghĩa rất hấp dẫn. Tàu bây giờ tất cả các toa đều như nhau, mọi hành khách đều bình đẳng, khác hẳn tàu ngày xưa luôn phân biệt các toa hạng nhất dành cho khách sang trọng, hạng nhì cho khách trung lưu và hạng ba cho dân nghèo. Ghế ngồi trong toa có đánh số, nhưng vé không ghi số ghế nên mọi người tự do chọn chỗ, ai đến trước ngồi trước, đến sau ngồi sau, hết chỗ ngồi thì đứng. Đặc biệt nhất là mỗi toa có một thùng nước uống tự giác để phục vụ quý khách đi tàu. Mỗi cốc nước giá 2 xu nhưng không có người bán; ai khát nước thì tự giác bỏ tiền vào chiếc hòm để sẵn cạnh thùng , rồi tự vặn vòi lấy nước uống. Chắc rằng nhân dân đã giác ngộ xã hội chủ nghĩa cả rồi, nên có lẽ chẳng ai uống nước mà không trả tiền, và cũng sẽ không có ai lấy mất hòm tiền đó. Nghe má kể vui quá, lại nhớ hồi bé được đi Hà Nội thật thích, tôi liền xin má cho về thủ đô thăm các cậu các dì. Má bỗng sầm mặt xuống và bảo “không được!” khiến tôi chưng hửng mà không hiểu tại sao.

 

Thì ra chuyến đi của ba má đã gặp chuyện không vui. Vừa xuống ga Hàng Cỏ (Hà Nội), ba má liền đến nhà cậu Bính và gặp ở đây một người đàn ông bà con của mợ Nga (tên thường gọi của vợ cậu Bính) cũng từ quê lên thăm cậu mợ. Đáng lẽ anh chị em trong nhà lâu ngày gặp nhau thì phải tay bắt mặt mừng, nhưng ba má cảm thấy không khí đón tiếp khá lạnh nhạt, riêng mợ Nga lại hay cau có. Ba má liền bế em Hương đi chơi phố rồi mua quà cho nó và anh Trí của nó, nhưng không khí trong nhà vẫn kém vui. Trong bữa cơm trưa ngày hôm sau, không hiểu Trí mắc lỗi gì mà bị mẹ lấy roi đánh túi bụi nên kêu khóc vang nhà. Ba má lập tức buông bát đũa xuống, can ngăn mợ Nga rồi hai người cáo lỗi đi ra phố. Ba định rủ má đi ăn phở, nhưng ra tận phố Huế tấp nập gần chợ Hôm mà không thấy có hàng “phở ngoài” nào, “phở mậu dịch” cũng không có. Thế là ba má lên tàu điện đi thẳng đến Bờ Hồ, xuống tàu đi bộ đến nhà dì Dung ở Khu tập thể Bờ Sông của Bộ Giáo Dục tại bãi Hàm Tử bên bờ đê sông Hồng. Cả gia đình dì sống trong một căn phòng khoảng 20 mét vuông dưới đất ở đầu một dãy nhà tập thể 2 tầng làm bằng gỗ. Ba má đến vào giờ nghỉ trưa, nhưng chú Trinh và dì Dung vẫn vui vẻ tiếp đón và đãi khách bằng một nải chuối. Nhờ được tráng miệng bằng hoa quả thay cho bữa trưa dang dở, ba má tạm yên bụng để trở lại Bờ Hồ, lên tàu điện thẳng tiến 8 km về khu ngoại ô Cầu Giấy, rổi đi bộ tiếp 3km đến Khu văn công Mai Dịch để thăm dì Quỳ. Vợ chồng dì Quỳ sống trong căn buồng rộng ngang với nhà dì Dung, nhưng trên tầng 2 của ngôi nhà tập thể hai tầng xây bằng gạch. Dì Quỳ cùng chú Trực đón tiếp anh chị mình hết sức nồng nhiệt. Chú Trực leo lên chuồng chim bồ câu của nhà bắt xuống mấy con để dì nấu cháo đãi anh chị, và lưu giữ ba má tôi ở chơi mấy ngày liền. Nhưng đến sáng ngày thứ ba thì ba má tạm biệt dì và chú để ra về. Xuống tàu điện ngay trước ga Hàng Cỏ, má vào ga mua vé tàu còn ba đi xích lô đến nhà cậu Bính để lấy đồ đạc. Lát sau, cậu Bính đạp xe đèo ba cùng hành lý ra ga để tiễn anh chị về Hải Phòng. Trước khi ba má ra tàu, cậu Bính nói chuyện riêng với chị mình, thanh minh về cách cư xử vụng về của mợ Nga đối với anh chị.

 Ba má tôi cho qua mọi lỗi lầm để tình cảm họ hàng vẫn sâu đậm như xưa, nhưng má vẫn nhớ mãi câu chuyện này và không hiểu tại sao gia đình cậu Bính lại bày tỏ thái độ khó chịu đối với mình đến như vậy. Mãi sau này tôi mới biết rằng người bà con của mợ Nga ở chơi đã khá lâu làm ảnh hưởng đến tiêu chuẩn lương thực của gia đình cậu mợ. Sự xuất hiện đột ngột của ba má tôi làm cho vấn đề lương thực càng trở nên nghiêm trọng, khiến mợ Nga không kìm nén nổi tâm trạng bực dọc đối với các vị khách không mời mà đến. Rất may là số gạo mà ba má tôi mang đến đã góp phần làm dịu tâm trạng đó.

 Tình nghĩa họ hàng bên ngoại của tôi luôn thắm thiết, riêng cậu mợ Bính vẫn quan tâm rất nhiều đến mấy anh em tôi; nhưng khi miếng ăn tối thiểu của mỗi người được nhà nước quy định chỉ có bấy nhiêu, thì khó có thể trách được vì sao cậu mợ lại không vui khi tiêu chuẩn dinh dưỡng của nhà mình bỗng dưng bị thâm hụt.

 Có lẽ Đảng ta đã phát hiện được những sự bất tiện trong cách thức phân phối lương thực bằng sổ gạo, nên đã cho phát hành thêm loại “tem lương thực” thường được gọi tắt là “tem gạo”. Với hình dáng và kích thước tương tự những chiếc tem thư cỡ lớn của bưu điện (cũng hình chữ nhật và có răng cưa ở 4 cạnh), mỗi chiếc “tem lương thực” ghi rõ khối lượng gạo được mua: 50 gam, 100 gam, 200 gam, 225 gam, 250 gam, 500 gam, 1kg, 2kg, 5 kg…Loại tem này được dùng phổ biến trong quân đội và các lực lượng vũ trang: mỗi lần đi công tác ở đâu, mỗi sĩ quan hay chiến sĩ  sẽ được mang theo một số tem với khối lượng gạo được mua tương đương tiêu chuẩn ăn của mình trong thời gian đi công tác, để nộp cho bếp ăn tập thể nơi đó phục vụ mình. Cán bộ và nhân dân thành thị cũng được sử dụng tem này khi cần thiết: mang sổ gạo đến cửa hàng lương thực nhận số tem cần dùng, trừ vào tiêu chuẩn gạo ghi trong sổ. Nhờ đó, khi đi thăm bà con họ hàng hay bạn bè, mọi người chỉ việc mang theo số tem đủ dùng theo tiêu chuẩn ăn của mình, nộp cho gia chủ nơi mình đến thăm là được, đỡ phải mang gạo theo rất nặng nề phiền toái. Tiêu chuẩn ăn bình thường mỗi bữa đã được nhà nước tính chính xác bằng công thức 13,5 kg : (30 ngày x 2 bữa) = 0,225 kg;  vì thế loại tem 225gam được sử dụng nhiều nhất. Tiếp theo tem gạo, lần lượt các loại tem vải, tem thịt, tem đường…cũng được cấp phát và sử dụng như cách thức đối với tem gạo.

 Các hàng bán quà ăn sáng quen thuộc của tôi lần lượt biến mất, giờ đây mỗi sáng đi học tôi phải đến tận sân vận động “Máy Đèn” (gần nhà máy Điện) mua bánh mì ba tê (1 hào một chiếc) tại một quầy mậu dịch ở đó, hoặc thỉnh thoảng điểm tâm tại một hàng phở “lưu động”  có lẽ của tư nhân, không hiểu do đâu vẫn tồn tại được ở đây bằng món phở chín rắc rau cần tây rất thơm ngon với giá 2 hào 5 xu một bát.

 

Lớp 6A trường Ngô Quyền trong dịp đón đoàn giáo sinh thực tập đầu năm 1960

Nhân dịp Xưởng phim truyện Việt Nam cử một đoàn về Hải Phòng để làm phim  “Khói Trắng”, dì Dung gửi Lan Anh đi cùng để cho em đến nghỉ hè tại nhà tôi. Đã quen với cô em họ này từ khi nó còn bé tí, nay tôi rất ngạc nhiên khi thấy Lan Anh đã lớn vổng lên, có vẻ sắp trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Bữa cơm gia đình có thêm Lan Anh trở nên đông vui hơn trước. Để bảo đảm “tiêu chuẩn” dinh dưỡng cho bọn trẻ, má chia thức ăn cho mỗi đứa vào một chiếc đĩa sắt tráng men, cơm và canh thì múc ăn chung. Hùng bao giờ cũng vét sạch đĩa của mình đầu tiên, và tỏ ra không khách khí khi cô em họ mời anh dùng thêm phần của nó.

 Là anh cả trong nhà, tôi cố gắng giúp cho Lan Anh có những ngày hè thật vui. Mấy anh em chúng tôi thường trèo lên cây nhãn để thưởng thức những chùm quả chín đầu mùa rất ngon, rồi xin phép ba má đưa Lan Anh đi tắm biển Đồ Sơn. Tôi lên xe đèo Lan Anh mặc bộ váy áo có cổ viền kiểu lính thủy rất đẹp, còn Hùng đèo túi đồ đựng quần áo tắm và thức ăn đã được má chuẩn bị sẵn. Qua cầu Rào là hết phố xá, Lan Anh đòi tự đi xe đạp, thế là Hùng nhường xe cho em để lên ngồi sau xe tôi. Chân Lan Anh chưa với hết bàn đạp, nên cứ phải vẹo người qua bên này rồi lại qua bên kia, thỉnh thoảng phải đứng lên đạp. Khi gặp những đám hoa dại màu tím nở tưng bừng bên bờ cỏ, Lan Anh lại xuống xe hái hoa nên tôi và Hùng cũng xuống để hái những “quả nổ” từ những cây hoa tím ấy. Gặp trời mưa hoặc rơi vào nước những quả này sẽ nổ tách thành hai mảnh để tung hạt ra khắp nơi. Tôi sẽ mang chúng về thả vào chậu nước để chơi trò “thủy chiến”. Đến bãi biển Đồ Sơn lúc trời hửng nắng, chúng tôi khóa xe cẩn thận, tìm chỗ khuất  thay quần áo tắm, rồi chạy ào xuống bãi biển. Vẫy vùng dưới nước chán chê rồi lại lên bãi xây lâu đài trên cát hoặc tìm nhặt những vỏ ốc đẹp, chúng tôi tận hưởng thú vui tắm biển như thường lệ.

 Lan Anh trở về Hà Nội, tôi lại đến chơi nhà Đồng và được gặp ở đó hai người anh họ của cậu ấy là Nguyễn Khoa Điềm (sinh viên khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội) và Nguyễn Khoa Sơn (học cấp III ở trường học sinh miền Nam số 19 Hải Phòng). Đó là con ông anh ruột của mạ Đồng- nhà cách mạng Nguyễn Khoa Văn tức nhà văn Hải Triều danh tiếng đã quá cố. Thú vị nhất là anh Điềm đã mang về cho Đồng cả một bộ truyện tranh “Tam quốc Diễn nghĩa” được vẽ rất đẹp do Trung Quốc xuất bản mà trước kia tôi đã từng thấy ở hiệu sách Yên Bình. Anh ấy đã dịch cả bộ truyện tranh này và viết ngay tiếng Việt xen vào những dòng chữ Hán dưới mỗi bức tranh trong từng trang, nên Đồng và tôi xem hết sức say mê. Khi ấy, bắt chước bộ truyện tranh này, tôi đã vẽ một cuốn truyện tranh dựa theo tác phẩm “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” của Nguyễn Huy Tưởng mà mình rất thích.

 

Hết hè, tôi và các bạn cùng lớp trở thành học sinh 9D do thầy giáo dạy văn Nguyễn Xuân Mộc làm chủ nhiệm. Có khuôn mặt khá điển trai với giọng nói nhỏ nhẹ dịu dàng, thầy chinh phục chúng tôi bằng những bài giảng khúc chiết gợi cảm và cả tài chơi accordeon, mặc dù  tầm vóc thầy hơi thấp nhỏ so với cây đàn và so với chính học trò của mình. Thầy Minh dạy toán là một người khá cao to, ăn mặc xuềnh xoàng nhưng giảng dạy rất vững và hết sức tận tâm với học trò. Thầy chú trọng bồi dưỡng một nhóm học sinh giỏi toán (Phạm Đình Thịnh, Phùng Văn Minh, Trần Đức Chỉnh…) bằng cách giao thêm những bài tập khó và phụ đạo thêm cho họ tại nhà riêng của thầy. Các thầy cô khác cũng có những ưu điểm riêng khiến chúng tôi nể phục, nhưng gây ấn tượng mạnh nhất có lẽ là cô Thảo mới tốt nghiệp trường Sư phạm Thể dục Thể thao về dạy môn này cho lớp tôi. Cắt tóc ngắn với khuôn mặt trái xoan và thân hình thon thả của một vận động viên thể dục dụng cụ, cô làm các động tác thị phạm rất đẹp khiến cả lớp phải lác mắt để học theo.

 Sĩ số lớp tôi hầu như không thay đổi so với hồi cuối lớp 8, ngoại trừ một bạn nữ mới ở tỉnh khác chuyển về có tầm vóc thấp nhỏ với khuôn mặt tươi cười tên là Đỗ Thúy Nga đượcvào ngồi cùng tổ với tôi (chị của bạn này lại vào học lớp 9A). Khi ấy tôi cao 1,54m (chỉ trong một năm đã tăng lên 10 cm) nhưng đa số các bạn nam trong lớp vẫn còn cao lớn hơn tôi. Cảm thấy mình không còn là thiếu nhi nữa, chúng tôi bắt đầu ngại ngùng khi phải quàng khăn đỏ đến trường.

 Một hôm, trên đường đi học cùng nhau, Đồng cho tôi biết là cậu ấy đang “tu dưỡng” để vươn lên Đoàn, rồi hỏi tôi có muốn “tu dưỡng” không. Tôi hỏi “tu dưỡng” như thế nào, Đồng giải thích: phải có một cuốn “Sổ tay tu dưỡng” ghi chép các công việc hàng ngày; chiếu theo lý tưởng của Đảng ta mà suy nghĩ xem việc nào tốt việc nào xấu, để rút kinh nghiệm làm cho việc tốt tăng lên, việc xấu giảm xuống; khi nào loại trừ được hết việc xấu để làm toàn việc tốt, mình sẽ được kết nạp vào Đoàn và trở thành người cộng sản trẻ tuổi. Tôi thấy tu dưỡng như vậy cũng hay, nhưng sợ rằng mình chưa đủ kiên nhẫn để ngày nào cũng ghi chép và suy nghĩ, vả lại mình cũng còn ham chơi nhiều thứ chẳng biết là tốt hay xấu. Nghĩ vậy, tôi bảo Đồng: cậu cứ tu dưỡng trước đi, rồi mình sẽ học theo. Từ hôm đó, tôi biết Đồng đã là “cảm tình đoàn”, và cũng biết rằng cậu ấy đã nói thế nào thì sẽ làm đúng như vậy.

 

 Tháng 10-1962, Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu ra thăm miền Bắc và đến thăm thành phố Hải Phòng. Trong cuộc mít tinh chào mừng Đoàn tại Quảng trường Nhà hát Nhân dân, tôi cùng một bạn nữ không quen biết được cử làm thiếu niên quàng khăn đỏ tặng hoa cho các vị khách quý. Trong sự hoan hô nồng nhiệt của toàn thể những người tham dự mít tinh, Đoàn đại biểu miền Nam tiến vào quảng trường nhà hát. Một cán bộ tổ chức chỉ cho chúng tôi hai vị đi đầu: giáo sư Nguyễn Văn Hiếu mặc bộ com-lê màu đậm và đeo kính, nhà thơ Thanh Hải trong bộ trang phục nhạt màu hơn và không đeo kính. Tôi có nhiệm vụ tặng hoa cho giáo sư, còn bạn gái kia thì tặng nhà thơ. Chúng tôi lập tức ôm hoa chạy nối đuôi theo đoàn. Khi Đoàn vừa yên vị tại dãy ghế danh dự đặt trên sân khấu nhà hát, chúng tôi lập tức tiến đến trước mặt các vị đại biểu, giơ tay chào đúng kiểu TNTP rồi trao hai bó hoa tươi thắm cho giáo sư và nhà thơ. Hai vị ôm hôn chúng tôi rồi mời mỗi đứa ngồi ở chiếc ghế bên cạnh mình. Sau một bài diễn văn nói về phong trào cách mạng miền Nam với lời cảm ơn sự ủng hộ của đồng bào miền Bắc, giáo sư quay sang hỏi nhỏ tôi học trường nào và quê ở đâu. Khi biết tôi quê ở Bến Tre nhưng lại học ở một trường học sinh miền Bắc và nói giọng Bắc, giáo sư tỏ vẻ ngạc nhiên. Còn tôi thì lại không hiểu do đâu mà mình có được vinh dự làm người tặng hoa cho đoàn. Sau đó, chú Đặng Đình Khoa phụ trách Phòng Công tác Chính trị của Sở Giáo dục cho biết chính chú là người đề xuất sự lựa chọn này, vì tôi là con một cán bộ lãnh đạo Sở có quê ở miền Nam.

 Cuộc đi thăm miền Bắc của Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được  tường thuật rất nhiều trên báo chí và đài phát thanh, gắn với bức ảnh Bác Hồ ôm hôn giáo sư Nguyễn Văn Hiếu cùng với ca khúc “Miền Nam ơi, Chúng tôi đã sẵn sàng!” do nhạc sĩ Lưu Cầu mới sáng tác, nói về sự sẵn sàng của quân dân miền Bắc để lên đường chi viện cho cách mạng miền Nam.

 Trong lúc vui mừng chào đón đoàn đại biểu Mặt trận, tôi  không biết rằng chính lúc đó Liên Xô và Mỹ đã đối đầu nhau trong vụ khủng hoảng tên lửa tại Cuba với nguy cơ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ ba. Rất may là đến giờ phút cuối cùng, hai nước đã tìm được giải pháp thỏa hiệp để tháo ngòi nổ chiến tranh.

 

 Vì lý tưởng của Đảng ta là đào tạo những  người yêu lao động và ghét bóc lột, nên năm học nào chúng tôi cũng có một đợt đi lao động. Năm nay, chúng tôi lại được đi gặt mùa giúp dân ở Hợp tác xã An Lư (thuộc huyện Thủy Nguyên). Đã quen với việc này từ năm ngoái nên chúng tôi tự tin hơn và cảm thấy rất vui trong chuyến đi lần này. Trong một tuần lễ, chúng tôi được chia thành từng nhóm về ở với các gia đình xã viên nên đã học được cách “ba cùng” với dân như các anh bộ đội: cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Công việc chính là ra đồng gặt lúa, nhưng chúng tôi còn kèm thêm cho trẻ em học và làm được một số việc khác giúp  bà con nông dân. Chỉ có điều bữa cơm ở đây khá đạm bạc dù được ăn gạo mới, nên chúng tôi thường có cảm giác chưa no. Thế là không ai bảo ai, thỉnh thoảng một vài người lại đi “ăn mảnh” tại một chiếc quán ven đường. Trong một lần “ăn mảnh” như vậy, Đồng và tôi đã chạm trán Đề và Chính ngay tại quán. Thế là cả bốn chúng tôi trở nên thân nhau và tự gọi mình là nhóm “Tứ đốm”, trong đó tôi được ba bạn to khỏe hơn mình đỡ đần công việc khá nhiều. An Lư có một đầm nước rất rộng thả nhiều sen súng nên phong cảnh rất đẹp. Trước lúc hoàng hôn, các bạn trong lớp kéo nhau ra bờ đầm ngồi chơi hóng mát. Ngắm một vài chiếc thuyền nhỏ trôi trên đầm nước mênh mông nhuộm đỏ ánh mặt trời sắp lặn, chúng tôi cùng nhau ca hát, xua tan sự mệt mỏi sau một ngày lao động.

 Sau chuyến đi gặt mùa trở về, chúng tôi được xem bộ phim “Khói Trắng”, một sản phẩm mới của điện ảng Việt Nam phục vụ kịp thời cho công cuộc công nghiệp hóa XHCN, trong đó bạn Vũ Thị Mỹ ở lớp tôi được đạo diễn phim mời đóng một vai phụ. Chỉ xuất hiện mấy giây trên màn ảnh, “Mỹ nghẽo” cũng trở nên nổi tiếng trong trường.

Các Bài viết khác