NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 5, Phần 5

( 23-03-2014 - 04:36 PM ) - Lượt xem: 653

Trong năm học mới này, kết quả học tập của tôi giảm sút thấy rõ so với năm ngoái, nhất là về toán, lý và hóa. Ngay mấy bài kiểm tra đầu tiên, tôi đã nhận được hai điểm 2 về toán và về lý, điểm các môn khác cũng không khá lắm (chúng tôi gọi việc bị điểm 2 là “xơi ngỗng”, bị điểm 1 là “vác gậy”, còn bị cả hai điểm đó là “vác gậy chăn ngỗng”).

5. Vác gậy chăn ngỗng

Từ Đồ Sơn trở về, tôi cùng gia đình lại được xem vở kịch Liên Xô “ Một câu chuyện ở Iêckut” do Đoàn kịch nói Trung ương dàn dựng ( cậu Bính vẫn là người thiết kế mỹ thuật và tặng vé cho chúng tôi). Khi ấy cả nhà đang rất vui vì ba đã đạt danh hiệu “Chiến sĩ Thi Đua”, má tốt nghiệp lớp “hàm thụ” Trường Sư phạm Sơ cấp, đạt danh hiệu “Lao động Tiên tiến” của trường Nguyễn Tri Phương và được tặng thưởng một chiếc khăn mặt, em Hùng đã tốt nghiệp cấp I và đạt kết quả tốt trong kỳ thi chuyển lên cấp II, em Dũng mới 3 tuổi cũng đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ” ở trường Mầm Non. Cũng thời điểm này, trên đài phát thanh vang lên một bài hát mới nghe rất hùng tráng của một nhạc sĩ có cái tên lạ là Huỳnh Minh Siêng:

Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước

Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước

Ôi xương tan máu rơi, lòng hận thù ngất trời

Sông núi bao nhiêu năm cắt rời.

Đây Cửu Long hùng tráng

Đây Trường Sơn vinh quang

Thúc giục đoàn ta xung phong đi giết thù

Vai sát vai chung một bóng cờ…

Đài giới thiệu đó là bài “Giải phóng miền Nam” – bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mới được thành lập sau phong trào Đồng Khởi để đánh đổ Mỹ-Diệm. Ít lâu sau, tôi đã được xem bộ phim thời sự về sự thành lập Mặt trận dưới lá cờ xanh-đỏ-sao vàng do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch, rồi được xem cả các hình ảnh về Quân Giải phóng Miền Nam mới thành lập với các chiến sĩ đội mũ “tai bèo” giương cao lá cờ đó tiến bước theo nhịp bài hát “ Khúc quân hành” của Phan Thế. Sau này tôi mới hiểu rõ rằng đó là những sự kiện trọng đại của cách mạng miền Nam.

 Tháng 8-1961, phe XHCN lại nâng cao khí thế khi Liên Xô phóng thành công con tàu vũ trụ Phương Đông 2 chở trung tá Ghecman Titốp bay 17 vòng quanh trái đất và quay về an toàn. Nhưng cũng chính trong thời gian này, “Bức tường Berlin” cao 3,5m và dài 100km đã được Liên Xô và chính phủ Đông Đức dựng lên, bao quanh khu vực Tây Berlin thuộc quyền cai quản của Mỹ-Anh-Pháp (nhưng lại nằm ngay trong nước Cộng hòa Dân chủ Đức) để ngăn chặn làn sóng bao gồm hàng triệu người từ bỏ chế độ XHCN trong “thế giới cộng sản” ở Đông Berlin (thủ đô Đông Đức) chạy sang Tây Berlin rồi tìm cách di cư sang Tây Đức (tức Công hòa Liên Bang Đức) theo chủ nghĩa tư bản trong “thế giới tự do”. Bức tường này còn có tác dụng ngăn chặn giao thông và ảnh hưởng từ Tây Berlin sang Đông Berlin rồi sang cả Đông Đức và các nước XHCN khác.

 

Kết thúc năm lớp 7, chúng tôi chỉ thực sự tạm biệt các thầy cô đã giảng dạy mình ở cấp II, còn bạn bè cùng lớp thì lại nhanh chóng gặp nhau sau hè, cũng dưới mái trường này, nhưng ở lớp 8 của trường cấp III. Có nhiều bạn đã chia tay với chúng tôi là Nguyễn Vũ Tiến chuyển sang trường Thái Phiên, Bùi Bích Huệ bỗng trở thành bà mẹ đơn thân nên phải bỏ học ở nhà sống riêng biệt tại Kiến An, Trịnh Thục Yến nghe đồn là “bị điên” phải ở nhà để khép lại tuổi xuân trong bốn bức tường của một gia đình bất đắc dĩ ( bố mẹ Yến đã điều trị cho bệnh nhân này bằng cách cưới cho con một ông chồng già ngang tuổi ông ngoại bạn ấy). Bên cạnh đó, các bạn Đặng Văn Bỉnh, Nguyễn Đức Hiến, Vũ Văn Phụng, Đỗ Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Thị Minh, Vũ Thị Thịnh và cả Nguyễn Thu Phương-Việt kiều cũng không học lên cấp III nữa mà tôi chẳng hiểu vì sao. Riêng Vũ Văn Ký bị tai nạn lao động làm đứt gân gót chân, phải vào bệnh viện bang bó; khiến cho Đồng và tôi phải thay nhau dung xe đạp chở cậu ấy đi học, cho đến khi Ký tự đi bộ được bằng nạng, rồi dần dần bỏ nạng.

 Hai lớp 7 cũ của trường cấp II Ngô Quyền bị giải tán để cùng với hàng loạt học sinh vừa tốt nghiệp cấp II ở Trần Phú và nhiều trường khác tổ chức lại thành 4 lớp 8 của trường cấp III Ngô Quyền. Từ Trần Phú và các trường khác chuyển đến  lớp 8A có các bạn nam Lã Thanh Hải, Đỗ Quang Sinh (em ruột thủ môn Quang Minh của đội bóng đá Xi Măng Hải Phòng) và Đoàn Văn Lễ đều là bạn cũ của tôi từ hồi cấp I, Phan Văn Đạt (da ngăm đen, nổi trội về Nga văn), Trần Bang Hiển, Hà Đăng Hiển, Đồng Minh Hoàng, Vũ Như Ngà, Hoàng Mộng Ngọc, Mạc Đăng Nớp, Lê Văn Phúng, Nguyễn Văn Phê, Nguyễn Văn San, Nguyễn Đăng Tảo (rất cao lớn), Bùi Minh Thắng…; còn 8D có Vũ Hữu Ái, Vũ Thượng Chất, Trần Đức Chỉnh, Nguyễn Văn Dung, Nguyễn Thế Đề (thường được gọi là “Xã Đề” vì to béo phục phịch), Phạm Quốc Hùng, Đặng Mạnh Hùng, Đỗ Mạnh Hùng, Đỗ Văn Huyền, Trần Quý Khang, Cao Văn Khảng, Đặng Đình Lượng, Nguyễn Huy Mạc, Nguyễn Phú Mạnh (gầy gò má hóp nhưng có khiếu văn chương và hội họa), Phùng Văn Minh (với biệt danh “Minh Bầu” vì có khuôn mặt bầu bĩnh), Trần Văn Mỹ, Nguyễn Nghiêm Nghị, Trần Văn Nguyệt, Lã Văn Oai, Trần Văn Phao (sinh năm 1939, lớn tuổi nhất lớp), Quách Quý (có khiếu hài hước), Bùi Trọng Tài, Trần Văn Tập, Ngô Như Thân (có biệt hiệu “Thân Cò” vì vóc dáng cao gầy với cổ dài, là con cô Lạng- một đồng nghiệp của má tôi ở trường Minh Khai), Phạm Đức Thịnh (có năng khiếu âm nhạc và biệt danh “Thịnh Sêu” do chiều cao vượt trội), Trần Trọng Triệu, Tiêu Thanh Tùng (nói giọng kim như con gái), Nguyễn Quốc Úy (da ngăm đen với tầm vóc lực lưỡng), Nguyễn Đình Vĩnh (sinh năm 1940, đứng thứ hai trong lớp về tuổi tác), Vũ Văn Vòng (có mái tóc đỏ), Trịnh Quang Vọt, Văn Thái…Riêng có Trương Kim Hiếu nhỏ con và Đặng Minh Quang cao lớn từ các trường học sinh miền Nam chuyển đến. Các nữ sinh vào lớp 8A có Nguyễn Thị Ngọc Hà (một hoa khôi của trường Trần Phú), Nguyễn Thị Hiền, Trần Thị Hiền ( một vận động viên điền kinh to khỏe, thường được gọi tắt là Trần Hiền), Đỗ Thị Hương (một tay đàn violon), Phan Tú Lan, Dùng Lầy Màn (gốc Hoa), Nguyễn Thị Thịnh, Hồ Thị Tường Vy (tầm vóc to lớn nên có biệt danh “Tường Voi”)…; còn 8D là Đinh Tuyết Anh (hơi lớn tuổi và khá xinh đẹp), Nguyễn Thị Chung, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Phương Khuê (từ Hà Nội chuyển về)…Nếu so với các lớp cấp III hồi tôi còn học lớp 4 và lớp 5, thì các nữ sinh cấp III hiện tại không thua kém về tầm vóc và nhan sắc, nhưng khác hẳn thế hệ đàn chị về trang phục: chẳng còn ai mặc quần trắng áo dài và để tóc dài tha thướt như các tiểu thư xưa nữa; toàn thể nữ sinh giờ đây mặc đồng phục quần đen như tất cả các phụ nữ khác trong xã hội, chỉ khác nhau chút ít về màu và kiểu áo, còn tóc thì xõa đến ngang vai hoặc tết bím.

 Đa số bạn cũ ở lớp 7A của tôi được vào lớp 8D, riêng tôi lại rơi vào lớp 8A mà phần đông là dân Trần Phú. Rất may là vài tháng sau tôi cùng Lã Thanh Hải lại được chuyển về 8D.

 Chủ nhiệm lớp kiêm giáo viên toán của 8D là thầy Trần Minh Bảo mới tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội và là anh ruột của Trần Bích Liên. Với cơ thể tầm thước, cơ bắp săn chắc nhưng giọng nói nhẹ nhàng, thầy giảng dạy rất nhiệt tình và luôn hòa đồng với học sinh trong công tác chủ nhiệm. Thầy thường đi đá bóng cùng học sinh lớp mình, đôi khi cũng bị học trò “đốn ngã” tím bầm ống chân. Thầy còn am hiểu âm nhạc và chơi đàn accordeon khá hay. Các thầy cô khác cũng để lại cho chúng tôi những ấn tượng tốt đẹp: thầy Trần Trọng Dương dạy hóa rất hay, cô Nga có tầm vóc to lớn nhưng giọng nói nhỏ nhẹ dạy sinh vật, thầy Lê Xuân Giao (là con bác Lê Xuân Phùng- giám đốc Sở) rất cao và gầy dạy địa lý, thầy Trần Ngọc Dương dạy Nga văn rất vững, sau có thầy Lục Toán Ngọc-anh họ của anh Tín tôi về thay thế, thầy Chánh dạy thể dục với những bài xà đơn, xà kép, xà lệch rất thú vị… Riêng có thầy Quất dạy vật lý luôn ăn mặc chải chuốt với mái đầu vuốt bigiăngtin bóng mượt thường ưu ái các bạn nữ xinh đẹp, nhất là với Đinh Tuyết Anh và Vũ Thị Mỹ. Mỗi khi thầy gọi hai bạn này đọc bài, cả lớp lại vang lên tiếng “ííí…!” kéo dài để diễu sự “mê gái” của thầy. (“Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” là thế đấy!). Trong số các thầy khác của trường không giảng dạy lớp mình, tôi thường chú ý đến thầy Trần Học Hải dạy lịch sử rất hay (thỉnh thoảng tôi đứng ngoài hành lang nghe thầy giảng trong lớp rất hấp dẫn), thầy Ngô Ngọc Chi dạy vật lý đã về trường trước cả ba tôi nên tôi gọi bằng chú và thầy Hồ Ngọc Đại dạy toán là con rể của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn.

 Sau 3 năm toàn học buổi chiều, giờ đây chúng tôi vui mừng được học buổi sáng dành cho các lớp đàn anh. Nhiều bạn trong lớp lớn nhanh ra dáng thanh niên lắm rồi, ngay cả em út của lớp là tôi cũng đạt chiều cao 1,44m nhưng người vẫn rất gầy. Đội TNTP của lớp tôi cũng có nhiều thay đổi và được mang tên mới là đội Lý Tự Trọng, do Đỗ Bắc Giang làm đội trưởng. Một số bạn trong đội đã được làm “Lễ trưởng thành” để cởi khăn quàng đỏ kết thúc tuổi thiếu niên, trong đó Nguyễn Đăng Chúc, Trần Văn Nguyệt và Nguyễn Thị Vượng đã được “chuyển Đoàn”, nghĩa là vừa cởi khăn quàng đỏ của đội viên TNTP ra liền được kết nạp ngay vào Đoàn TNLĐ và đeo huy hiệu Đoàn trong cùng một buổi lễ. Một vài bạn khác trở thành “cảm tình đoàn”, nghĩa là có triển vọng được kết nạp Đoàn sau một thời gian “tu dưỡng” thêm về lý tưởng qua thực tế cuộc sống. Nhưng người học sinh đặc biệt nhất là Trần Văn Phao đã 22 tuổi, có thân hình tương đối cao to với khuôn mặt rỗ hoa tròn trịa, nụ cười hiền hậu và giọng nói khẽ khàng. Là người lớn tuổi nhất lớp nhưng học lực chỉ trung bình, Phao được cả lớp kính nể gọi bằng anh và bầu làm lớp trưởng vì anh ta đã là “cảm tình Đảng”. Không ai biết anh ấy học cấp II ở trường nào, nhưng mới lên lớp 8 đã là “cảm tình Đảng” rồi thì thật đáng nể. Đảng là mặt trời, mỗi đảng viên là một tia nắng do mặt trời phát ra, vậy thì “cảm tình Đảng” sắp thành đảng viên cũng có thể coi là một tia nắng soi đường cho lớp 8D chứ sao! Khoảng cách từ bọn đội viên quàng khăn đỏ chúng tôi đến tia nắng ấy của Đảng quả là rất xa, nhưng chúng tôi vẫn vui đùa với Phao như với các bạn học bình thường. Do tên anh ấy nghe na ná như tên của viên phi công gián điệp Mỹ bị Liên Xô bắt sống năm ngoái, chúng tôi gọi Phao là “Pao Ơ”.

 Vào một ngày đầu tháng 11, báo chí và đài phát thanh lan truyền một tin chấn động: thi hài của Đại nguyên soái Stalin đã được đưa ra khỏi Lăng Lenin để hỏa thiêu mai táng bên tường thành Điện Kremli, theo sự phán xét của chính phủ Liên Xô về những tội lỗi của ông đối với đất nước. Trong khi đó tại miền Nam nước ta, hàng chục nghìn quân nhân Mỹ đã được đưa vào các đơn vị của Quân lực VNCH để làm cố vấn cho lực lượng này tiến hành cuộc “chiến tranh đặc biệt” chống “Việt Cộng”; đồng thời chính quyền Sài Gòn bắt đầu thi hành quốc sách “Ấp chiến lược” nhằm tách rời nông dân ra khỏi Quân giải phóng và du kích miền Nam để dễ dàng tiêu diệt họ (gọi là chiến thuật “tát nước để bắt cá”).

 

Trong năm học mới này, kết quả học tập của tôi giảm sút thấy rõ so với năm ngoái, nhất là về toán, lý và hóa. Ngay mấy bài kiểm tra đầu tiên, tôi đã nhận được hai điểm 2 về toán và về lý, điểm các môn khác cũng không khá lắm (chúng tôi gọi việc bị điểm 2 là “xơi ngỗng”, bị điểm 1 là “vác gậy”, còn bị cả hai điểm đó là “vác gậy chăn ngỗng”).

 Thời gian đầu học ở 8A, tôi không gặp Lê thường xuyên nữa mà cũng ít thấy nhớ nhung . Khi được trở về 8D, tôi nhận ra rằng không chỉ có Hưng, mà cả Khánh và Sĩ Tùng cũng đều thích Lê nên thỉnh thoảng hai cậu lại hục hặc với nhau. Cảm thấy có quá nhiều “đối thủ” chiếm ưu thế hơn mình, tôi không mơ tưởng nhiều đến Lê như trước nữa, nên không còn bị phân tán tư tưởng trong giờ học. Vậy  tại sao mình lại học kém đi? Tôi tự tìm ra lời giải đáp rằng mình chưa chăm chỉ học vì quá ham đọc sách. Khi ấy có nhiều sách hay được xuất bản mà ba lại luôn mang về nhà đọc, nên tôi cũng được đọc theo mỗi khi ba vắng nhà. Tôi say mê các tiểu thuyết cổ Trung Quốc, ngốn hết 13 tập của bộ “Tam quốc diễn nghĩa”, đọc tiếp 3 tập dầy cộp của bộ “Thủy Hử”, thêm 4 tập tương tự của bộ “Tây Du Ký”. Tôi còn mua được hoặc đến thư viện đọc thêm nhiều sách khác đã được dịch sang tiếng Việt, mà nhớ nhất là cuốn “Không gia đình” của Pháp, các cuốn “Hầm bí mật bên bờ sông Enbơ” và “Nam tước Phôn Gônrinh”- tiểu thuyết tình báo Liên Xô, tiểu thuyết lịch sử “Aivanhô” cùng các truyện “Đảo giấu vàng”, “Rôbinsơn Cruxô”, “Người anh hùng rừng Xécvút” của nước Anh.

Một hôm đến nhà Đồng, tôi mang theo hai bài được điểm “ngỗng” đưa cho cậu ta xem (Đồng học rất khá trong suốt mấy năm qua). Xem xong, Đồng bảo tôi chưa vững về định luật vật lý và không cẩn thận khi làm toán. Nhận ra là các môn này rất khó so với lớp 7, tôi với Ký đến học nhóm ở nhà Đồng thường xuyên hơn trước để có thể hỏi bạn ấy khi chưa hiểu bài. Học xong chúng tôi lại chơi bóng bàn hoặc bàn tán về những cuốn truyện đã đọc. Thì ra Đồng và tôi đều thích đọc những sách giống nhau, nên có thể cùng nhau bình luận về chúng: nào là các danh tướng trong Tam Quốc ai tài hơn ai và ai giỏi nhất, rồi đến 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc ai là người đáng phục hơn cả, nếu cho Aivanhô cùng vua Risa Tim Sư tử và các hiệp sĩ nước Anh thời trung cổ đấu với các danh tướng Trung Quốc thời Tam Quốc thì ai sẽ thắng, trong các vụ tiêu diệt yêu quái của Tôn Ngộ Không thì vụ nào khó khăn hơn, mưu mẹo của nhà tình báo dưới vỏ bọc Nam tước Phôn Gônrinh giỏi ở chỗ nào…Tôi nhận ra rằng Đồng đọc nhiều sách chẳng kém gì tôi, nhưng cậu ấy vẫn học khá vì biết sắp xếp thời gian học và chơi rất chặt chẽ, còn tôi thì hay bị sách lôi cuốn nhiều khi quên cả học. Có một lần vào thư viện đọc sách, tôi say mê đến mức không nghe thấy chuông báo hết giờ đọc buổi sáng để trả sách cho thư viện đóng cửa tạm nghỉ trưa, thế là bị nhốt trong đó luôn cho đến chiều, khiến ba má tôi phải hốt hoảng đi tìm. Biết được nhược điểm của mình, tôi tự vạch ra “thời gian biểu” hàng ngày cho mình và cố thực hiện cho đúng. Dù vậy, tôi vẫn thường chỉ đạt điểm 3, lâu lâu mới có điểm 4 nhưng rồi lại có lúc bị vác gậy chăn ngỗng.

 Nỗi buồn về kết quả học tập của tôi tạm được xóa nhòa trong đợt đi lao động của lớp về Hợp tác xã Quy Tức (gần thị xã Kiến An) để gặt lúa chín giúp dân. Thoạt đầu, thầy chủ nhiệm định cho tôi cùng mấy bạn nhỏ con ở lại, vì sợ chúng tôi không đủ sức làm việc nhà nông; nhưng khi thấy chúng tôi tha thiết xin đi, thầy đành chấp thuận. Lần đầu tiên được lội xuống ruộng cầm liềm hái để cắt và bó lúa như nông dân, tôi cũng thấy khó khăn vất vả. Nhưng chúng tôi vừa làm vừa nghỉ tay trò chuyện, nên không mệt mỏi nhiều. Rồi những trò vui trên đồng ruộng cùng cuộc sống mới lạ ở nông thôn ngày mùa đã khiến chúng tôi cảm thấy thích thú như được đi cắm trại.

 Kết quả học tập ở trường không tốt, nhưng tôi lại có những thành công ở chỗ khác. Tiến bộ trong kỹ thuật đánh bóng bàn, tôi đã dám rủ Đồng sang phòng bóng bàn trong Sở Giáo Dục để được chơi với các tay vợt hàng đầu của Sở, trong đó có anh Cơ và anh Cương đều là người gốc Hoa và chơi hay nhất đã dạy cho chúng tôi những cú đánh đặc biệt. Đồng say mê đến mức các em ở bên nhà phải chạy sang gọi về ăn cơm trưa, nhưng cậu ấy vẫn ở lại đánh tiếp, dù ba mạ dọa cho nhịn đói (nhưng khi về vẫn thấy có cơm để phần!). Nhờ Xưởng Dụng cụ Cao su Đường sắt Việt Nam đã sản xuất được loại vợt “mút” đánh bóng bàn có chất lượng ngang với vợt “Song Hỷ” của Trung Quốc, nên chúng tôi đã kiếm được những cây vợt “mút” ưng ý để theo kịp với lối đánh hiện đại. Sau này tôi mới biết người có công đầu trong việc chế tạo ra cây vợt “mút Đường sắt” đó là ông Tạ Đình Đề, một nhà tình báo cách mạng xuất chúng từng là vệ sĩ của Bác Hồ, mà cuộc đời ba chìm bảy nổi đã biến ông thành một huyền thoại.

 Tự mày mò học thêm về âm nhạc, tôi xướng âm khá chuẩn, chơi harmonica cũng hay và đã mê các ca khúc cổ điển của Béttôven, Môda, Sube, Suman, Sôpanh, Traicốpxki…Rất thích các bản nhạc không lời nổi tiếng “Sông Đanuýp xanh”, “Phiên chợ Ba Tư”, “Sóng sông Đanuýp”, “Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ”…, tôi bắt đầu thưởng thức một số bản giao hưởng danh tiếng. Những nhạc phẩm lừng danh ấy họa hoằn lắm mới được phát trên đài, nhưng tôi vẫn thường được nghe ở nhà một số bạn bè còn giữ những chiếc máy quay đĩa từ thời Pháp tạm chiếm. Những khi buồn phiền mà được nghe những tác phẩm đó, tôi lại cảm thấy êm dịu và vui sướng trong lòng.

 

Khi ấy, báo chí và đài phát thanh đưa tin rất nhiều về phong trào thi đua “ Xây dựng tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa” ở khắp nơi để lập thành tích hoàn thành kế hoạch 5 năm. Những thành tích nổi bật ở Hợp tác xã Đại Phong (tỉnh Quảng Bình) và ở Nhà máy Cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng) luôn được nêu gương cho các nơi học tập. Nhà máy này ở ngay phố Trần Quang Khải mà chúng tôi vẫn thường đi qua, không ngờ đó lại là một nơi nổi tiếng toàn miền Bắc, đã được Bác Hồ về thăm và biểu dương thành tích. Nhạc sĩ Trần Hoàn (Giám đốc Sở Văn hóa Hải Phòng) đã ca ngợi thành tích thi đua của nhà máy này bằng ca khúc như sau:

Xông lên giành cờ hồng, nhà máy cơ khí thi đua phong trào

Phấp phới như hoa muôn màu, cùng vượt lên hàng đầu!...

 

Phối hợp với phong trào thi đua đó, những buổi “lao động xã hội chủ nghĩa” được thường xuyên tổ chức trong các ngày chủ nhật để huy động cán bộ công nhân viên các cơ quan xí nghiệp tham gia lao động công ích (làm vệ sinh phố phường, sửa sang đường sá, xây dựng công viên…) mà không hưởng thù lao.

 Trong không khí thi đua tưng bừng như vậy, vào cuối năm “đỉnh cao muôn trượng”, cán bộ và nhân dân thành thị lại được nhà nước phát “Phiếu mua thực phẩm” để sử dụng trong năm mới. Khác với “Sổ gạo” và “Sổ mua chất đốt” được đóng thành từng quyển để dùng trong một năm, “Phiếu mua thực phẩm” là những tờ rời hình chữ nhật  to bằng bàn tay in màu rất đẹp, trong đó quy định khối lượng thực phẩm mỗi người được mua trong một tháng. Khối lượng đó được chia nhỏ thành nhiều ô để có thể mua thành nhiều kỳ, mỗi kỳ mua một hay vài ô tùy theo ý mình hoặc khả năng cung ứng của mậu dịch, mua ô nào thì mậu dịch viên cắt bỏ ô đó ra khỏi phiếu. Cũng như sổ gạo, phiếu thực phẩm phân biệt tiêu chuẩn rõ ràng giữa cán bộ và nhân dân. Phiếu của cán bộ có màu sắc và hoa văn riêng, được chia thành 5 loại chính dựa theo cấp bậc từ cao xuống thấp là A, B, C, D và E. Phiếu của nhân dân là cùng một loại đồng loạt như nhau, với tiêu chuẩn thấp hơn cán bộ rất nhiều, trong đó tiêu chuẩn của trẻ em lại thấp hơn của người lớn. Ba tôi thuộc hạng cán bộ trung cấp nên được hưởng tiêu chuẩn phiếu loại “C”, mỗi tháng được 1,5kg thịt và 1,00 kg đường; má tôi là cán bộ sơ cấp nên có phiếu loại “E” với 0,5kg thịt và 0,5kg đường; còn ba anh em tôi không phải cán bộ nên được hưởng theo tiêu chuẩn “nhân dân” với mỗi tháng 0,3kg thịt và 0,3kg đường. Tiêu chuẩn  mua các loại thực phẩm khác cũng được quy định rõ ràng trong phiếu, tùy theo các cấp bậc cán bộ hay nhân dân. Những tiêu chuẩn đó hầu như không thay đổi trong suốt mấy thập kỷ, nhưng mẫu mã của phiếu thì có thay đổi ít nhiều trong một số năm. In sâu trong ký ức tôi là cái mẫu phiếu gồm 12 ô: các ô số 1-2-3 ghi khối lượng thịt được mua  (trong phiếu của ba tôi mỗi ô đó đều ghi “thịt 500 gam”, còn của má lần lượt là “200 gam”, “200 gam” và “100 gam”); các ô 5-6 là đậu phụ, ô số 7 là nước mắm (phiếu của ba ghi “1 lít”, của má- “0,5 lít”), số 8-cá, số 9-trứng, số 10-mì chính; còn lại 2 ô dự phòng có thể được mua “thức ăn chín” (thường là thịt lợn kho hoặc nấu với đậu phụ và chuối xanh) hay một loại thực phẩm nào đó không xuất khẩu được phải bán trong nước ( hộp lạc rang chẳng hạn). Tiêu chuẩn đường được quy định riêng trong “Phiếu Đường”cấp theo từng quý (3 tháng) với 9 ô (mỗi tháng 3 ô): trong phiếu của ba, 3 ô của mỗi tháng được ghi lần lượt là “500 gam”, “250 gam” và “250 gam”; của má là “200 gam”, “200 gam” và “100 gam”; còn của ba anh em tôi đều là “100 gam” ở cả ba ô trong phiếu. Khi ấy, để nêu gương “ vui duyên mới không quên nhiệm vụ”, nhà thơ Tố Hữu đã kế hoạch hóa ngay cả trái tim mình bằng những lời tình tứ như sau:

Anh nắm tay em sôi nổi vụng về

Mà nói vậy: “Trái tim anh đó

Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ:

Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ, và phần để em yêu…”

Em xấu hổ: “Thế cũng nhiều anh nhỉ!”

Khi phiếu thực phẩm đã ra đời thì “thịt ngoài” không còn nữa (mọi sự mua bán thịt ngoài đều bị công an bắt) và mọi người đều phải mua “thịt mậu dịch” theo phiếu, do đó tại các cửa hàng thực phẩm quốc doanh luôn diễn ra cảnh xếp hàng đông đúc như ở các cửa hàng lương thực. Rất may, nơi mua thực phẩm của gia đình chúng tôi chính là cửa hàng thuộc Công ty Thực phẩm thành phố (tức nhà hàng Misô) ở góc đường Hồ Xuân Hương-Lý Tự Trọng ngay xế cổng  nhà mình, nên chúng tôi luôn có thể đến sớm để khỏi phải xếp hàng từ xa. Mà cửa hàng này lại được dành riêng phục vụ cán bộ trung-cao cấp nên ít khi thiếu hàng, nhờ đó việc mua thực phẩm của chúng tôi không đến nỗi quá vất vả như ở nơi khác.

Với chế độ tem phiếu này, mọi sự ưu đãi được dành riêng cho cán bộ theo thứ bậc từ thấp lên cao, còn nhân dân chỉ hưởng những gì còn lại trong kế hoạch nhà nước. Ranh giới giữa cán bộ với nhân dân ngày càng xa cách, những cửa hàng dành cho cán bộ trung-cao cấp (từ loại C trở lên) thì nhân dân không được bén mảng đến. Ngoài “Bìa mua hàng” đặc biệt được sử dụng tại các cửa hàng này để mua nhiều thứ hàng cao cấp mà nơi khác không thể có, những cán bộ loại A và B còn được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi khác lớn hơn nhiều. Vì thế, những cán bộ có chức quyền lớn được nhân dân gọi là “cốp”- những ông “cốp” và bà “cốp”; còn nhân dân phải tự hài lòng với cương vị “phó thường dân”. Như vậy, miền Bắc quả thật là một thiên đường dành riêng cho các “cốp” to, trong đó các con đồng chí Tố Hữu luôn được tận hưởng mọi thứ đặc quyền đặc lợi của cha mẹ chúng.

Các Bài viết khác