NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 5, Phần 3,4

( 21-03-2014 - 04:28 PM ) - Lượt xem: 593

Cùng thời gian này, báo đài lại thông báo cho nhân dân biết rằng ngô là loại lương thực có nhiều chất bổ hơn gạo. Chẳng bao lâu sau, tiêu chuẩn lương thực của mọi người được quy định lại với 1/3 là ngô và 2/3 gạo

3. Lớn lên cùng đất nước

Sau khi hoàn thành các công tác xã hội một cách tốt đẹp, Đội Nguyễn Quốc Trị của chúng tôi (bao gồm 4 phân đội) được đi cắm trại tại Thủy Tú, một thôn nằm trên vùng đồi có nhiều vườn cây râm mát thuộc huyện Thủy Nguyên. Theo sự hướng dẫn của cán bộ phụ trách là anh Huỳnh và chị An, toàn đội được chia thành từng nhóm 3-4 người  ở nhà dân,  tôi ở cùng Thịnh và Ký (mỗi nhóm tự nấu ăn bằng gạo đã mang theo và thực phẩm mua tại chỗ) . Sau bữa cơm trưa và giờ nghỉ trưa, toàn đội tập hợp tại cái sân rộng của một nhà. Cả 4 phân đội xếp hàng thẳng tắp, tất cả đội viên đều quàng khăn đỏ ngay ngắn, riêng phân đội trưởng đứng đầu có đeo phù hiệu màu trắng một vạch đỏ ở phía trên cánh tay  phải. Lần lượt từng phân đội trưởng bước lên, giơ tay phải chào đúng nghi thức Đội, rồi báo cáo tình hình phân đội mình với đội trưởng Nguyễn Đăng Chúc đeo phù hiệu 2 vạch đỏ. Đến lượt mình, Chúc lại đứng nghiêm chào và báo cáo tình hình toàn đội với anh chị phụ trách cũng quàng khăn đỏ. Anh Huỳnh phổ biến kế hoạch hoạt động của trại, rồi hướng dẫn chúng tôi chuẩn bị chơi trò “Tìm mật thư”.

 Sáng hôm sau, trò chơi bắt đầu. Mỗi phân đội được phát một phong bì đựng một mật thư hướng dẫn tìm nơi xuất phát của con đường đi tìm mật thư thứ hai, kèm theo chìa khóa để giải mật mã. Phân đội tôi giải mã khá nhanh nên đã mau  chóng tìm được nơi xuất phát. Từ đó, chúng tôi đi theo con đường đã được thư chỉ dẫn, đến từng đoạn lại tìm gặp một ký hiệu chỉ đường được vẽ bằng phấn, xếp bằng những viên sỏi hoặc xếp bằng những cành cây cắt khúc (phải hiểu đúng những ký hiệu đó thì mới đi đúng đường). Chúng tôi không mắc nhiều nhầm lẫn nên đi cũng khá nhanh. Sau cùng, thấy một mũi tên chỉ vào một hốc cây, chúng tôi đã lấy được mật thư trong đó. Giải mã xong, đặt lại mật thư vào chỗ cũ cho những kẻ đến sau, chúng tôi quay lại con đường cũ, vừa đi vừa chạy thật nhanh, vì mật thư viết: “Trở về nơi tập hợp toàn Đội để lĩnh giải thưởng nếu các bạn đến sớm nhất!”. Chúng tôi đinh ninh là mình sẽ đoạt giải, nhưng khi về đến nơi đã thấy phân đội của Lê ở đó rồi!, hai phân đội kia đến sau chút ít. Giải thưởng chỉ là một xấp những tờ “Nhạc bướm” in những bài hát phổ biến đương thời, nhưng cũng làm cho phân đội vừa giành giải vui sướng tràn trề, tôi thấy Lê cười thật tươi.

Những buổi tiếp theo, chúng tôi được đi tham quan các di tích lịch sử ở quanh vùng. Tôi nhớ nhất về một cái hang núi, nơi có một đội du kích của huyện Thủy Nguyên trú đóng trong đó để chiến đấu chống thực dân Pháp. Bị địch bao vây, nhiều chiến sĩ đã hy sinh anh dũng nhưng không chịu đầu hàng. Họ đã dùng máu viết lên vách hang dòng chữ “Chết vinh hơn sống nhục”. Được đọc dòng chữ đó trong hang, tôi cảm phục các chiến sĩ du kích vô cùng. Buổi tối, chúng tôi đốt lửa trại và cùng nhau ca hát vui chơi quanh đống lửa đến khuya mới giải tán về ngủ. Sáng hôm sau vừa tỉnh giấc, tôi bỗng cảm thấy chóng mặt nhức đầu không ngồi dậy được. Ký sờ trán tôi, bảo : “Mày bị sốt!” rồi chạy đi báo cho các anh chị phụ trách. Một lát sau, nó dẫn chị An mang theo một túi thuốc đến. Chị cũng sờ trán và lấy một chiếc khăn mặt dấp nước lạnh đắp lên trán cho tôi, rồi bảo Ký và Thịnh vào bếp nấu một nồi cháo. Chị ngồi bên giường tôi, hỏi thăm về ba má và nói nhiều chuyện vui, rồi cũng vào bếp. Một lúc lâu sau, chị mang ra một bát to cháo nóng bốc hơi nghi ngút, nhẹ nhàng đỡ tôi ngồi dậy và bảo: “Em ăn ngay cho nóng!”. Cháo có trứng với hành lá tía tô rất thơm ngon. Cùng với hai bạn tôi, chị ngồi nhìn bệnh nhân ăn cho đến hết rồi đi lấy nước cho tôi uống thuốc. Dặn tôi trùm chăn nằm nghỉ, chị cùng Ký và Thịnh đi sinh hoạt Đội. Tôi cảm thấy mồ hôi ra nhiều, rồi ngủ thiếp đi lúc nào chẳng biết. Buổi trưa thức dậy, tôi thấy cả anh chị phụ trách cùng các bạn trong phân đội đến hỏi thăm sức khỏe mình. Chị An lại bưng ra một bát to cháo nóng nữa. Mọi người giải tán đi ăn cơm, còn lại chị An ngồi nhìn tôi ăn cháo, lần này là cháo thịt băm với hành, rồi chị lại cho tôi uống thuốc và dặn nằm nghỉ. Đến tối thì tôi hết sốt và được ăn cơm cùng các bạn. Thịnh và Ký kể cho tôi nghe một chuyện mới đang xôn xao trong Đội: đêm qua Đặng Đình Mai và Nguyễn Văn Hưng đã thổ lộ với nhau về “người yêu” của mỗi đứa (một bạn ngủ cùng nhà nghe được đã loan tin này): Mai yêu Lũng Hà, còn Hưng thích Thanh Lê! Tôi bật cười về tin đột xuất này, nhưng lại thầm nghĩ: may mà chưa ai biết rằng mình cũng thích Lê! Hóa ra anh bạn cũ ở trường Hưng Đạo lại là đối thủ của mình về tình cảm với cô bạn đáng yêu. Ngồi trong ô tô trên đường trở về thành phố, chúng tôi lại đem chuyện “thổ lộ” ấy ra để đùa vui, thỉnh thoảng liếc nhìn Hưng và Mai xem chúng phản ứng thế nào. Một bạn hỏi Đỗ Đình Chươn:  “Mày có yêu đứa nào trong lớp không?”, Chươn đáp không do dự: “Tất cả bọn con gái đều đáng yêu, kể từ rốn trở xuống!” Chươn đã nói trắng ra cái chỗ thầm kín mà hình như thằng con trai mới lớn nào cũng muốn tò mò nhưng không ai dám nói.

 Cuộc cắm trại ở Thủy Tú là một kỷ niệm sâu sắc mà tôi ghi nhớ suốt đời, trong đó nổi bật hình ảnh chị An nhỏ bé mà dịu dàng đã tận tình chăm sóc khi tôi bị ốm. Còn chuyện “thổ lộ” tình yêu mà khi ấy chúng tôi tưởng là ghê gớm, thì sau này mới biết rằng đó chỉ là biểu hiện của tuổi dậy thì vừa tới. Những tình cảm tưởng như rất nồng nàn ấy chỉ nảy sinh trong tâm trí chúng tôi mà chưa có cậu nào (kể cả tôi) dám “tỏ tình” với Lũng Hà, Thanh Lê hay một bạn gái nào khác. Ngay cả ý tưởng có vẻ “xác thịt” của Chươn cũng không vượt khỏi trí tưởng tượng mơ hồ.

 

 Chúng tôi kết thúc kỳ nghỉ đúng vào dịp Lễ mừng Quốc Khánh lần thứ 15 (2/9/1945 – 2/9/1960) được tổ chức hết sức trọng thể. Ở Hà Nội có duyệt binh và mít tinh rất lớn tại quảng trường Ba Đình, được tường thuật tại chỗ trên đài. Hải Phòng cũng có duyệt binh và mít tinh tại quảng trường Nhà hát Lớn rồi tuần hành qua các đường phố lớn. Trong cuộc tuần hành có một đội ngũ đặc biệt bao gồm các đội viên TNTP sinh năm 1945 (cùng tuổi với nước Việt Nam DCCH) được tuyển chọn từ các trường học trong toàn thành. Lớp tôi có Chúc, Đồng, Hoan, Hưng và một số bạn khác đi trong đội ngũ đó. Các bạn đều mặc áo trắng quần ka ki, đội mũ ca lô quàng khăn đỏ cầm cờ và hoa vẫy chào, vừa đi đều hàng vừa hát bài “Đội ta lớn lên cùng đất nước” của Phong Nhã theo nhịp trống và tiếng kèn:

Đất nước muôn vàn yêu dấu đang rợp bóng cờ

Khắp nơi tưng bừng liên hoan mừng non nước ta

Đội ta đi trống rung vang lừng đất trời

Gió tung khăn quàng phấp phới như muôn ngàn hoa.

Ta lớn lên cùng đất nước, như các con sống trong lòng mẹ cha

Ta noi gương người đi trước, những tấm gương vinh quang của Đảng ta

Lớn lên xây dựng Tổ Quốc tươi thắm như hoa.

Không khí lễ hội thật tưng bừng phấn khởi, khiến cho mọi người cảm thấy vui mừng hãnh diện được tiến theo con đường cách mạng của Đảng. Tối hôm đó Hà Nội bắn pháo hoa ở Hồ Gươm, Hải Phòng cũng bắn ở hồ Quần Ngựa cạnh Nhà hát Nhân Dân. Cùng với ánh pháo hoa rực rỡ muôn màu, một chương trình ca nhạc mừng Quốc Khánh được phát trên đài phát thanh, trong đó nổi bật một ca khúc của Vũ Trọng Hối:

Reo lên muôn lời ca

Như chim trong rừng hoa

Mười lăm năm xây dựng nước ta

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

A, tương lai Tổ Quốc,

Đẹp như ngàn mơ ước…

Ngay sau lễ hội này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Ba đã họp để đề ra đường lối đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH; đồng thời tiến hành cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân ở miền Nam. Đaị hội cũng bầu ra ban lãnh đạo mới của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.

 Cùng lúc với Đại hội Đảng, năm học mới đã bắt đầu trên toàn miền Bắc. Một trường Mẫu giáo mang tên “Mầm Non” dành cho con cán bộ của thành phố mới khai trương ở phố Lý Tự Trọng ngay gần nhà tôi. Thế là tôi có thêm nhiệm vụ đưa em Dũng đi học tại trường này, rồi thỉnh thoảng phải đón nó về khi má ở trường về muộn. Hồi này, ngoài việc giảng dạy ở trường mình, má còn theo học hàm thụ ở trường Sư phạm Sơ cấp, nên tôi phải giúp má khá nhiều trong những công việc gia đình.

 Trường Ngô Quyền của tôi (bao gồm cả cấp II và cấp III) nay tách thành 2 trường mới: Trường Phổ thông cấp III (từ lớp 8 đến lớp 10) và Trường Phổ thông cấp II (từ lớp 5 đến lớp 7). Cả hai trường vẫn sử dụng chung phòng ốc như trước, nên bọn học sinh cấp II chúng tôi vẫn tiếp tục học buổi chiều. Hiệu trưởng trường tôi bây giờ là thầy Nguyễn Văn Châu, một nhà giáo lớn tuổi gày gò và hiền hậu.  Khi bạn bè gặp lại nhau, tôi cảm thấy những bạn sinh năm 1945 và trước đó cao lớn hẳn lên, như thể họ đã thật sự “lớn lên cùng đất nước”. Một số cậu còn khoe với nhau về những sợi lông đã mọc ở nách và ở “chim” (mọi người vẫn gọi bộ phận sinh dục nam bằng cái tên như vậy, còn bộ phận tương ứng của phái nữ thì được gọi là “bướm”). Tôi cũng cao thêm chút ít, nhưng chỉ đạt 1,36m. Thầy Trần Sự vẫn là chủ nhiệm lớp, nhưng các giáo viên bộ môn thì thay đổi khá nhiều. Thầy Phúc dạy sử khá hay, còn thầy Huỳnh dạy Việt văn lại không hấp dẫn. Khi thầy Phúc dạy bài “Thực dân Pháp xâm lược Bắc Kỳ”, chúng tôi lắng nghe im phăng phắc, rồi ồ lên hoan hô khi thầy kể về việc quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc giết được các chỉ huy của giặc là Phơrăngxi Gácniê, rồi sau đó là Hăngri Rivie ở ô Cầu Giấy (Hà Nội). Có lẽ từ những bài giảng của thầy mà tôi bắt đầu ham thích học sử và hiểu bài văn tế Hăngri Rivie của Nguyễn Khuyến rất sâu sắc. Tôi rất tiếc khi thấy hai môn nhạc và vẽ không còn trong thời khóa biểu nữa.

 

 Đáng lẽ học lớp cuối cấp thì phải hết sức chăm chỉ, nhưng chẳng hiểu tại sao tôi lại hay chểnh mảng, thiếu tập trung trong giờ học. Tôi hay nghĩ về Lê với hy vọng sẽ được bạn ấy chú ý đến mình, và thường theo dõi quan hệ giữa Hưng với Lê để xem tình cảm giữa hai người với nhau như thế nào. Tôi nhận ra rằng Lê đối xử tốt với tất cả các bạn nam trong lớp và không chú ý riêng đến ai. Một lần thấy Việt Bột cố tình khều vào chân Lê qua gầm bàn, Lê liền quắc mắt: “ Chơi kiểu gì thế?”. Tôi yên tâm khi thấy Lê nghiêm khắc với Việt và thật sự không chú ý đến Hưng, nhưng rất thất vọng khi cảm thấy chính mình cũng không chiếm được cảm tình đặc biệt nào của bạn ấy. Nhiều lúc đang nghe các thầy cô giảng bài, tôi lại nghĩ về một chuyện khác quên cả bài giảng. Điểm toán của tôi bắt đầu giảm sút, nhưng tôi đặc biệt chán các tiết văn của thầy Huỳnh (môn Việt văn trước đây được gọi tắt trong thời khóa biểu là “Việt”, bây giờ lại đổi là “văn”!). Thầy luôn mặc bộ đại cán 4 túi cài kín cổ, một tay cho vào túi áo còn tay kia làm những động tác phối hợp với lời nói mạnh mẽ, nhưng các bài giảng của thầy không giúp tôi nhận biết những cái hay của các tác phẩm. Trong những tiết học như vậy, tôi thường lấy giấy ra vẽ bậy hoặc bí mật làm việc riêng. Rồi việc vẽ bậy của tôi trở thành thói quen lan sang cả những giờ học khác. Chân dung các nhân vật lịch sử hay các nhà khoa học trong sách giáo khoa cũng bị tôi cho đeo thêm kính, đội thêm mũ, mọc thêm râu ria hoặc ngậm tẩu thuốc rất buồn cười. Rồi tôi còn vẽ bậy ngay trên bàn. Mặt bàn của tôi lần lượt xuất hiện các hình tàu thủy, ô tô, máy bay, vệ tinh nhân tạo, cầu thủ bóng đá…Khánh ngồi cạnh không ngăn cản, mà còn bắt chước tôi cũng vẽ bậy theo. Một hôm đến lớp vào chỗ ngồi, tôi thấy ngay một tờ giấy có mấy dòng chữ đậm nét dán đè lên các hình vẽ của mình trên bàn. Thì ra đó là một bức thư ngắn: “ Em nào ngồi đây không được vẽ bậy lên bàn nữa. Em phải biết bảo vệ của công và phải chú ý học.” Người viết không ký tên, nhưng tôi biết ngay thư này là của một anh (hay chị) học sinh cấp III ngồi cùng chỗ với tôi vào buổi sáng. Anh (chị) ấy chắc là rất khó chịu với những hình vẽ của tôi trên bàn, nên đã cho tôi biết lỗi lầm của mình để sửa chữa. Bức thư bất ngờ này đã giúp tôi chấm dứt thói quen vẽ bậy và làm việc riêng trong giờ học, để tập trung học tập tốt hơn. Tôi thực sự cảm phục anh  (chị) ấy.

 Một hôm trong giờ hóa, thầy làm thí nghiệm cho các hóa chất tác dụng với nhau sôi sùng sục trong ống nghiệm, rồi hỏi vui rằng: “Đố em nào dám thò tay vào ống nghiệm này!”. Một bạn ngồi cuối lớp giơ tay xung phong rồi bước lên bàn thầy: chính là Nguyễn Đức Hiến. Trước sự kinh ngạc của mọi người, Hiến tươi cười thò ngón tay vào ống nghiệm đang bốc khói nóng bỏng, rồi bình thản rút tay ra và trở về chỗ ngồi. Không ai hiểu được hành vi kỳ lạ của cậu ấy, và cũng không biết số phận ngón tay cậu ấy ra sao, còn Hiến thì vẫn tươi cười nhưng không nói không rằng.

 Sắp bước sang năm mới, Thịnh đưa ra đố cả lớp giải bài toán này: “Cho một tứ giác bất kỳ A-B-C-D, đường kéo dài các cạnh của nó gặp nhau tại M và N, vẽ đường phân giác của hai góc do các đường kéo dài đó tạo thành. Chứng minh rằng hai đường phân giác này vuông góc với nhau”. Tôi nghĩ nát óc mà không giải được nên đã ghi nhớ bài toán đó suốt đời!

 

4. Cành táo đầu hè

Năm mới đến cùng với “ Bài ca Mùa xuân 1961”, một bài thơ lãng mạn cách mạng trứ danh của Tố Hữu. Khi đọc bài này, mọi người thấy nhà thơ đứng chót vót trên đỉnh cao thời đại để nhìn ra khắp bốn phương, xuyên suốt từ quá khứ đến tương lai:

Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng

Ta đứng đây, mắt nhìn bốn hướng

Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau

Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu!

Chỗ ông đứng cao chót vót ấy hóa ra lại chính là “ Miền Bắc thiên đường của các con tôi” như lời thơ “rất tự do nên tươi nhạc tươi vần” của ông đã chỉ rõ. Tố Hữu lên đến tận thiên đường để nhìn xa trông rộng được như thế là nhờ có đường lối chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đường lối của Đảng ta và những thành tích đầy ấn tượng của phong trào cách mạng nước ta. Khi ấy, 81 đảng cộng sản và công nhân quốc tế mới họp xong ở thủ đô Liên Xô và ra bản “Tuyên bố Matxcơva” làm đường lối chung cho tất cả các đảng. Mặc dù có sự chắp vá giữa các quan điểm “xét lại” với các quan điểm “giáo điều”, bản Tuyên bố này đã khẳng định rằng “Thời đại chúng ta là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới”. Điều đó có nghĩa là CNXH ngày càng thắng lợi để đi đến tiêu diệt CNTB trên cả địa cầu. Chỉ cần xem bản đồ chính trị thế giới là thấy rõ phe XHCN đã phát triển mạnh như thế nào: 12 nước anh em nối liền thành một khối vĩ đại đỏ rực nối liền từ Âu sang Á, chiếm hơn 1/3 diện tích đất đai toàn thế giới. Đến cả Tây bán cầu cũng đã xuất hiện nước Cuba tiến lên CNXH do Phiđen Castơrô lãnh đạo ở ngay trước mũi đế quốc Mỹ. Rõ ràng ngày càng có thêm nhiều nước tiến theo  phe XHCN nên ngày càng bớt đi số nước thuộc phe TBCN. Thêm nữa, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ngày càng tan vỡ, khiến cho các thuộc địa trước kia nay trở thành các quốc gia độc lập tách khỏi phe TBCN, làm cho phe này càng suy yếu thêm. Giữa hai phe XHCN và TBCN giờ đây đang diễn ra cuộc đấu tranh “ai thắng ai” trên toàn thế giới, với một khẩu hiệu rất hình tượng phát đi từ Trung Quốc: “Gió Đông thổi bạt Gió Tây” (có nghĩa là phe XHCN ở phương Đông thổi bạt phe TBCN ở phương Tây; nhưng cũng có hàm ý rằngTrung Quốc ở phía Đông sẽ thắng thế so với Liên Xô ở phía Tây nước này). Riêng ở nước ta, Đảng đã tiêu diệt xong CNTB để CNXH  toàn thắng trên miền Bắc, còn cách mạng miền Nam đang dâng lên để đánh đổ chính quyền Mỹ-Diệm. Triển vọng về thành quả cách mạng quá tốt đẹp đã được Tố Hữu miêu tả thật hấp dẫn:

Cành táo đầu hè quả ngọt rung rinh

Như hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ

Treo trước mắt của loài người ta đó:

Hòa bình

Ấm no

cho

Con người

Sung sướng

Tự do!

Tuy nhiên, để có thể hái được quả ngọt đang treo trước mắt trên cành táo đầu hè ấy, miền Bắc nước ta phải trải qua một quá trình công nghiệp hóa XHCN được mở đầu bằng Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), còn miền Nam phải anh dũng đấu tranh chống Mỹ-Diệm. Vì vậy, trong đêm giao thừa Tết nguyên đán Tân Sửu (1961), toàn dân đã được nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ như sau:

Mừng năm mới, mừng xuân mới,

Mừng Việt Nam, mừng thế giới!

Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh,

Kế hoạch 5 năm thêm phấn khởi.

Chúc miền Bắc hăng hái thi đua.

Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!

Chúc hòa bình thống nhất thành công!

Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi!

Tiếp theo  lời thơ Bác, Tố Hữu kêu gọi toàn dân miền Bắc rầm rộ tiến vào Kế hoạch 5 năm:

Nào đi tới! Bác Hồ ta nói

Phút giao thừa, tiếng hát đêm xuân

Kế hoạch 5 năm. Mời những đoàn quân

Mời những bàn chân, tiến lên phía trước.

Tất cả dưới cờ, hát lên và bước!

 

Ngay sau Tết, tôi đã thấy xuất hiện một khẩu hiệu khổng lồ với những chữ màu xanh lam cao ngang đầu người, được viết bằng sơn lên bức tường vôi vàng phía trước trường Ngô Quyền trên phố Mê Linh: “ Đẩy mạnh phong trào thi đua tiền tiến, ra sức vươn lên hàng đầu, tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Khẩu hiệu đó chạy dài suốt bức tường này vẫn chưa đủ, phải ngoặt sang cả bức tường phía đường Nguyễn Đức Cảnh. Hàng ngày đến trường, tôi đều phải đọc khẩu hiệu này và đi ngược dòng nó, nên không chỉ ghi nhớ, mà còn thuộc lòng đoạn đầu của nó theo trình tự ngược: “ tiến tiền đua thi trào phong mạnh Đẩy”. Cứ đi qua chữ “Đẩy” là tôi bước vào cổng trường và ngửi được mùi thơm hăng hắc tỏa ra từ một cây hoa sữa đứng ngay bên cổng. Khẩu hiệu đó đã  được thực hiện bằng sự ra đời và hoạt động của các xí nghiệp quốc doanh mới trong nền công nghiệp XHCN.

 Theo đúng đường lối công nghiệp hóa “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” và “điện lực đi trước một bước”, khu Liên hợp Gang thép đầu tiên của nước ta do Trung Quốc giúp đỡ được bắt đầu xây dựng ở tỉnh Thái Nguyên, nhà máy Nhiệt điện Uông Bí lớn nhất nước ta được khởi công xây dựng tại khu mỏ than Hồng Quảng, nhà máy Cơ khí Trung Quy Mô do Liên Xô giúp xây dựng tại Hà Nội đã trở thành đứa con đầu lòng của ngành công nghiệp nặng nước ta, nhà máy Xe đạp Thống Nhất tại Hà Nội bắt đầu chế tạo những chiếc xe đạp đầu tiên của Việt Nam để bán sản phẩm cho những cán bộ công nhân viên được bình chọn đủ tiêu chuẩn được mua…Bên cạnh đó, hàng loạt xí nghiệp công nghiệp nhẹ cũng ra đời và đi vào hoạt động. Tại Hà Nội, nhà máy Diêm Thống Nhất là xí nghiệp mới đầu tiên cung cấp sản phẩm cho xã hội, nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà chế tạo bút máy “Trường Sơn” với chất lượng bình dân và bút máy “Hồng Hà” chất lượng cao (tương tự bút “Kim Tinh” của Trung Quốc) cùng với mực “Cửu Long” cho toàn dân sử dụng; khu Cao-Xà-Lá gồm nhà máy Cao su Sao Vàng chế tạo săm lốp xe, nhà máy Xà phòng phục vụ nhu cầu tắm giặt của nhân dân và nhà máy Thuốc lá Thăng Long sản xuất các loại thuốc lá mang nhãn hiệu “Trường Sơn” (dành cho đông đảo nhân dân), “Tam Đảo” ngon hơn (thường dành cho cán bộ), “Điện Biên” ngon hơn nữa (dành cho cán bộ trung, cao cấp) và “Thăng Long” đặc biệt ngon (dành cho các đối tượng đặc biệt). Tại tỉnh Phú Thọ, Khu Công nghiệp Việt Trì do Trung Quốc và Liên Xô giúp xây dựng bên ngã ba sông Lô đổ vào sông Hồng, bao gồm các nhà máy Điện, Hóa Chất, Giấy, Đường, Miến-Mì Chính…đang dần dần mọc lên. Tại Hải Phòng, nhà máy Cá hộp Hạ Long cũng như xí nghiệp Thảm len Hàng Kênh sản xuất để xuất khẩu sang các nước XHCN anh em, nhà máy Nhựa TNTP sản xuất bóng bàn và nhiều thứ đồ chơi khác, nhà máy Sắt tráng men-Nhôm  sản xuất bát đĩa và chậu nhôm phục vụ nhân dân…Tất cả các xí nghiệp quốc doanh ấy sản xuất theo kế hoạch do Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đề ra, giao nộp sản phẩm cho Nhà nước, để Nhà nước cung cấp cho các lĩnh vực kinh tế, phân phối cho bộ đội, cán bộ công nhân viên rồi đến nhân dân.

 Khi ấy đã có nhà máy dệt vải ở Nam Định,  các nhà máy Dệt 8-3 và Dệt kim Đông Xuân đang xây dựng ở Hà Nội nhưng chưa có các xí nghiệp quốc doanh sản xuất mũ và giày dép cho nhân dân, nên tôi luôn gặp khó khăn trong vấn đề đội cái gì và đi bằng gì. Tôi và em Hùng cũng như đa số học sinh khi ấy thường để đầu trần, chỉ vài bạn vào mùa hè đội mũ cát có từ thời Pháp tạm chiếm, hoặc mũ lá cùng kiểu với mũ cát nhưng làm bằng lá cọ từ trước ngày cải tạo tư sản, mùa đông đội mũ “bê-rê” do chế độ cũ để lại hoặc mũ vải “kê-pi” kiểu Liên Xô mới có. Những đôi dép xăng đan và giày da đã nhanh chóng biến mất trên thị trường khi các cửa hàng tư nhân đóng cửa, nên chúng tôi thường chỉ đi dép cao su giống đôi dép nổi tiếng của Bác Hồ hoặc đi guốc gỗ, đều do các hợp tác xã chế tạo. Vì quai dép cao su thường hay bị tụt, nên mỗi người luôn mang sẵn bên mình một cái “rút dép” bằng sắt mỏng để làm dụng cụ “xâu” lại quai lúc hữu sự. Khi đón Việt kiều ở Thái Lan về nước, chúng tôi thấy họ mang một loại dép đặc biệt, chỉ có hai quai nối với nhau bằng một cái mấu kẹp vào giữa ngón cái và ngón trỏ của bàn chân, mà đi rất tiện và trông cũng đẹp. Mọi người trong lớp thầm mong có một đôi dép như thế, nhưng chỉ Việt Bột kiếm được, không biết bằng cách nào. Cậu ta chưng diện đôi dép Thái Lan ấy cùng một chiếc thắt lưng dát ánh vàng cũng kiểu Thái Lan khiến cả bọn chúng tôi tròn mắt. Rất may là có một hợp tác xã nào đó đã học được cách chế tạo loại dép này, mặc dù chất lượng chưa sánh được với nguyên bản nhưng cũng được bày bán ở cửa hàng Bách hóa Tổng hợp với tên gọi là “dép Thái Lan”. Tôi nhớ mãi cảm giác vui sướng khi mua được một đôi dép như vậy.

 

Sản xuất đã kế hoạch hóa, thì phân phối và tiêu dùng cũng phải kế hoạch hóa theo.   Khi Tố Hữu lên tới “đỉnh cao muôn trượng”, thì cán bộ và nhân dân thành thị đã được cấp “Sổ đăng ký mua lương thực” (thường được gọi tắt là “Sổ gạo”). Theo  tiêu chuẩn “hộ gia đình cán bộ”, sổ gạo của gia đình tôi đã quy định: mỗi tháng ba và má  được mua mỗi người 13,5 kg, vừa đủ để mỗi người ăn một ngày 2 bữa chính là  trưa và tối, còn bữa điểm tâm buổi sáng không được tính trong sổ ; tôi với em Hùng đang tuổi lớn nên cũng được mua ngang với ba má; riêng em Dũng còn bé chỉ được 7 kg.  (Cán bộ chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang và những công nhân lao động nặng được hưởng từ 15 đến 18 kg mỗi tháng; tiêu chuẩn của các “hộ gia đình nhân dân” thì thấp hơn nhiều). Khi ấy hầu như không còn ai dám bán hay mua “gạo ngoài” nữa (vì đó là hành vi phạm pháp, sẽ bị công an bắt), nên mọi người chỉ có thể mua “gạo mậu dịch” theo tiêu chuẩn đã ghi  trong sổ gạo tại “Cửa hàng Lương thực” của khu phố mình, với giá quy định ở mọi lúc mọi nơi là 0,4 đồng (tức 4 hào) / kg. Vì cả khu phố mới có một cửa hàng, nên số người đến mua bao giờ cũng rất đông, buộc mọi người phải đứng xếp hàng theo thứ tự đến trước đến sau. Khi đến lượt mình, khách hàng sẽ trình sổ gạo cho người bán (được gọi là “mậu dịch viên”) ký tên xác nhận định mức gạo đã bán trong tiêu chuẩn, trả tiền rồi đến gặp “mậu dịch viên” thứ hai. Người này xem sổ rồi cân  khối lượng gạo bán đã ghi trong sổ cho mình. Xếp hàng kiểu này hết sức  mệt mỏi, nhất là khi dòng người đã dài dằng dặc mà gạo lại chưa về đến cửa hàng để có thể bán. Vì vậy, người ta nghĩ ra cách xếp hàng bằng bao (ai cũng mang theo để chuẩn bị đựng gạo) thay cho người, hoặc xếp các sổ gạo theo thứ tự để người bán gọi tên người ghi trên sổ vào mua. Nhưng những cách xếp hàng cải tiến đó lại thường gây ra những sự nhầm lẫn (vô tình hoặc cố ý) về thứ tự các bao hay trình tự các sổ, dẫn đến những cuộc tranh cãi gây mất trật tự, nên cách xếp hàng kinh điển bằng người vẫn được áp dụng thường xuyên. Dù xếp hàng kiểu gì thì điều cốt tử mà mọi người phải luôn nhớ là không để mất “sổ gạo”, vì nếu điều đó xảy ra, thì nguồn sống chính của gia đình đã bị tước đoạt. Việc mất sổ gạo đáng sợ đến mức hình thành cả một câu thành ngữ mới trong tiếng Việt: “Hớt hải như bị mất sổ gạo”.

 Sau khi đưa tin vui về việc Liên Xô đã phóng thành công con tàu Phương Đông1 chở nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới-Thiếu tá Iuri Gagarin bay vòng quanh trái đất trong 1 giờ 48 phút vào ngày 12-4, báo chí và đài phát thanh lại loan tin về một chiến thắng vang dội ở nước Cuba vừa tuyên bố tiến lên CNXH: 1200 lính đánh thuê của Mỹ đổ bộ lên bãi biền Hirôn hòng lật đổ chính quyền của Phiđen Castơrô, đã bị dân quân cách mạng Cuba bao vây, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ vào ngày 19-4.

 Cùng thời gian này, báo đài lại thông báo cho nhân dân biết rằng ngô là loại lương thực có nhiều chất bổ hơn gạo. Chẳng bao lâu sau, tiêu chuẩn lương thực của mọi người được quy định lại với 1/3 là ngô và 2/3 gạo. Ăn cơm độn ngô màu vàng không ngon bằng cơm trắng; nhưng mãi rồi cũng quen, nên chúng tôi lại thấy bình thường. Cho mãi đến nhiều năm sau, tôi vẫn không hiểu vì sao dân miền Bắc hồi ấy lại phải ăn độn như vậy. Dứt khoát không phải vì ngô bổ hơn gạo; rất có thể do hậu quả của kỹ thuật “cấy dầy” cùng phong trào hợp tác hóa nông nghiệp làm sản lượng lương thực giảm sút; cũng có thể phải dành gạo cho quân đội để chuẩn bị chiến tranh.

 Khi “gạo ngoài” không còn thì “củi ngoài” cũng dần biến mất, nên các hộ gia đình lại được nhà nước phát “Sổ mua chất đốt” để có thể nấu cơm. Vì củi gỗ được dành cho những việc khác có giá trị hơn, nên “chất đốt” chính để đun nấu giờ đây không phải củi, mà là mùn cưa (còn gọi là “cám cưa”), một thứ bột gỗ được tạo ra khi các thợ mộc cưa xẻ những cây gỗ. Ở một số nơi, “chất đốt” được bán cho nhân dân lại là vỏ trấu (sau khi xay lúa thành gạo, vỏ trấu không còn giá trị gì ngoài việc đun bếp). Mùn cưa (hoặc trấu) được bán theo định lượng hàng tháng đã ghi rõ trong sổ, kèm theo một bó củi bé tí dùng để “nhóm lò”. Lò nấu mùn cưa do các “Hợp tác xã thủ công nghiệp” sản xuất bằng sắt cũ và bán cho nhân dân mua tự do. Thân lò hình trụ, cao khoảng 30cm với đường kính đáy cũng cỡ đó; đáy dưới bịt kín, đáy trên để hở có gắn thêm 3 cái mấu sắt tạo thành chiếc kiềng để đặt nồi; một lỗ hình chữ nhật kích thước khoảng 10x8 cm được đục ở thân lò phía đáy dưới để làm cửa lò. Từ bé đã quen nhóm bếp nấu cơm bằng củi, nay tôi phải tập luyện nhiều mới quen với cách nhóm lò này. Trước hết phải đặt một cái chai thủy tinh thẳng đứng  vào đúng tâm đáy lò, rồi đút một thanh gỗ tiết diện hình chữ nhật vào cửa lò cho nó chạm đến cái chai. Đổ đầy mùn cưa vào lò rồi lấy tay lèn cho thật chặt. Rút chai và thanh gỗ ra, chúng sẽ để lại khoảng trống giữa đám mùn cưa đã lèn chặt. Chẻ nhỏ một thanh củi thành nhiều mảnh, xếp các mảnh đó vào khoảng trống trong lò rồi đưa lửa qua cửa lò đốt các mảnh đó, để lửa cháy bén dần vào mùn cưa. Nhóm lò xong, ta đặt nồi lên nấu và duy trì ngọn lửa chỉ bằng một thanh củi đút qua cửa lò. Kỹ thuật nấu lò mùn cưa tuy tốn nhiều thời gian và công sức, nhưng tiết kiệm được rất nhiều củi để dành cho sự nghiệp xây dựng CNXH. Chỉ có điều là khi nấu xong thì mặt và tay thường dính đầy vết nhọ.

 Không ai biết cuộc sống thực sự trên thiên đường là như thế nào, nhưng nếu miền Bắc khi đó đáng coi là thiên đường như Tố Hữu viết, thì có thể hình dung được rằng ở trên ấy các bậc thần tiên cũng được cấp sổ gạo cùng sổ chất đốt (và sẽ có thêm phiếu thịt, phiếu vải cùng nhiều loại tem phiếu khác nữa) để vui vẻ xếp hàng suốt ngày chờ mua những thứ cần thiết theo tiêu chuẩn quy định của Thiên đình, rồi cũng đun nấu bằng lò mùn cưa để được ăn cơm độn ngô rất bổ. Cũng theo nhà thơ ấy, thiên đường còn là nơi mọi người được tự do suy nghĩ, nói và viết theo đúng đường lối chỉ đạo của đấng Tối cao, nhưng không có chỗ cho cá nhân con người:

                    Một ngôi sao chẳng sáng đêm

                 Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng

                    Một người - đâu phải nhân gian

                 Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!

 Trong suốt năm học này, tôi giúp đỡ được nhiều việc nhà cho ba má, khi thì mua gạo, lúc lại nấu cơm hay giặt quần áo, rồi còn đưa đón em Dũng đi học…Tôi cũng duy trì được các buổi học nhóm ở nhà mình, rồi cũng hay rủ Ký đến nhà Đồng cùng học và chơi bóng bàn.  Thế là tôi đã thực hiện được gần đủ khẩu hiệu “Con ngoan- Trò giỏi-Bạn tốt-Đội viên chăm” do Đội TNTP đề ra. Với kết quả học tập thuộc loại khá, tôi đã vượt qua kỳ thi chuyển cấp không mấy khó khăn. Trong lễ bế giảng, tôi cùng các bạn trong lớp ghi tặng nhau những dòng lưu bút đầy tình cảm, để kỷ niệm 3 năm cùng học trước lúc chia tay rời khỏi trường cấp II.

 Nhưng hình như chúng tôi sẽ không phải chia tay nhau, vì ngay trong tháng nghỉ hè đầu tiên đội TNTP Nguyễn Quốc Trị của lớp đã được đi cắm trại. Mỗi đứa mang theo 2 kg gạo để ăn trong 4 ngày, cả đội mang theo nồi niêu bát đĩa lên ô tô, trống dong cờ mở hát hò vui vẻ thẳng tiến về thị trấn nghỉ mát Đồ Sơn trong một buổi sáng đẹp trời. Chúng tôi dựng mấy chiếc lều trại bằng vải bạt tại một bãi đất trống nhiều cây xanh dưới chân một ngọn núi ngay đầu thị trấn. Cởi khăn quàng đỏ và cất quần áo guốc dép trong lều, chúng tôi mặc đồ tắm rồi cùng nhau chạy ào xuống biển như một đàn chim. Bọn con gái mặc áo tắm đẹp che từ ngực đến mông, quây quần với nhau ở một chỗ trên bãi biển; còn tụi con trai mặc quần tắm có nhiều màu sắc quần tụ ở một chỗ khác, ra vẻ không để ý đến phái nữ nhưng nhiều cậu vẫn luôn liếc nhìn về phía ấy. Khi xuống nước vẫy vùng thì hai đám nam nữ tự nhiên xích lại gần nhau, một vài cậu còn cả gan bơi đến bên người bạn gái mà mình ưa thích. Lần đầu tiên trông thấy các bạn nữ trong bộ áo tắm, tôi mơ hồ cảm nhận được vẻ đẹp của cơ thể con gái, ngay cả Giang trông cũng vui tươi bớt vẻ nghiêm nghị của “chính trị viên”. Khi thấy Hưng lội đến bên Lê, tôi cũng đến gần đó và thách cậu ta bơi thi khiến Hưng ngượng nghịu rời xa (Hưng đã tập mãi mà vẫn chưa biết bơi!). Tôi cũng không dám thay vào chỗ của cậu ấy nên bơi đến chỗ Thịnh, Đồng, Khánh và Ký để cùng các bạn ấy chơi bóng nước.

Buổi trưa, mỗi nhóm cùng ở một lều tự nấu ăn cho các thành viên của mình rồi mọi người chui vào lều nghỉ ngơi. Buổi chiều, trong lúc cả đội lại ra tắm biển, Khánh bí mật rủ Thịnh và tôi đi bắt cua. Chẳng hiểu cậu ta kiếm ở đâu ra được 3 chiếc móc sắt dài hơn nửa mét có một đầu uốn cong chia cho mỗi đứa một cái kèm theo một chiếc bao tay. Cầm các dụng cụ ấy, chúng tôi xỏ dép vào rồi đi xa khỏi khu vực bãi tắm đến một bãi đá lô nhô từ trên bờ kéo xuống tận mặt nước biển. Bước trên những tảng đá hà bám chằng chịt, chúng tôi lội xuống nước để tìm các hang cua trong những tảng đá ấy. Khánh tìm được một hang, liền thò móc sắt vào ngoáy. Lát sau rút móc ra, Khánh  reo vang khi thấy một chú cua biển rất to đang bám chắc vào đầu móc sắt. Chúng tôi xúm lại tìm cách buộc cua sao cho nó không cắp được mình, rồi tiếp tục tìm những hang cua khác. Lúc trở về trại, chúng tôi bị anh phụ trách phê bình vì đã đi riêng tách khỏi đội, nhưng vẫn cảm thấy hãnh diện vì đã mang về được mấy con cua ngon góp vào bữa ăn tối của lều mình.

 

Một tối trời quang mây tạnh, toàn đội chúng tôi rời trại đi dạo mát trên con đường nhựa chạy dọc theo bờ biển, xuyên suốt khu Đồ Sơn Phố rồi thẳng tiến qua khu Trung Tâm, dần dần leo lên cao đến tận Dinh Bảo Đại nằm ngay trên đỉnh núi. Đứng nơi đây, chúng tôi nhìn bao quát cả một không gian bao la hùng vĩ. Trên trời, vầng trăng rằm vằng vặc tỏa sáng khắp muôn phương. Bên dưới là toàn cảnh Đồ Sơn với muôn vàn ánh đèn lấp lánh trong đêm cùng đại dương bao quanh mênh mông vô tận. Và đây là chúng tôi, bốn chục đứa con trai và con gái đang độ tuổi trăng tròn quấn quýt bên nhau sau ba năm cùng học. Trong gió thổi lồng lộng cùng tiếng thông reo vi vút và sóng biển vỗ ào ào, chúng tôi quay gót trở về trên con đường nhựa uốn quanh sườn núi, đi theo từng nhóm thân nhau để tâm sự đủ điều về những kỷ niệm đã qua. Mọi người bàn tán rằng Chúc với Hòa yêu nhau, có lẽ hai đứa đang cặp kè bên nhau trên đường? Lại có bạn thông báo rằng “ba cái Đình mọc trên một cái Lũng”, nhưng tôi thấy Lũng Hà vẫn đi cùng Thanh Lê và mấy bạn gái khác ngay phía trước mình, còn Đình Thịnh thì đang đi bên tôi và Đồng, chẳng hiểu Đình Chươn và Đình Mai đi với ai? Mọi người đều biết Hưng thích ai, nhưng rõ ràng cậu ta không có dịp may để đi bên người ấy (và tôi cũng thế!). Vũ Thị Song Kim thường được gán với Nguyễn Đắc Đồng do tên của hai đứa ghép lại thành từ “Kim Đồng” rất quen thuộc, nhưng chính Đỗ Quang Vinh mới thật sự yêu Song Kim tha thiết. Mọi người thường gán ghép Việt Bột với Nguyễn Thị Minh (có biệt danh là “Ruồi”), còn Nguyễn Liên Huy (biệt danh “Chuột”) được ghép với Trần Bích Liên (“Mèo”), cả Bùi Văn Sự và Nguyễn Thị Dung cũng được ghép đôi như vậy. Mấy bạn nữ còn phát hiện hình như Nguyễn Bích Thuận thầm yêu thầy Trần Sự, nhưng vì thầy quá nghiêm nghị và mô phạm nên không ai dám trêu đùa với tình cảm của Thuận.

Trở về nơi xuất phát, chúng tôi đốt một đống lửa trại rồi quây quần xung quanh nó vui chơi ca hát cho đến khuya, nổi bật với hai ca khúc Liên Xô lời Việt là bài “Lửa hồng” và bài “Nâng cốc”:

  Được cùng đồng chí tưng bừng

                         Họp vào ngày tết huy hoàng

                         Cùng mừng cùng hát vang lên lời ca.

                         Nhớ tới phút xưa êm đềm

                         Sống bên nhau xây cuộc đời

                         Hát lên cho khắc sâu đáy lòng…

Đêm trăng ấy, chúng tôi vui say trong tình bạn và rất có thể cả tình yêu đằm thắm để nhớ nhau mãi mãi.

Các Bài viết khác