NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯƠC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 5, phần 2

( 15-03-2014 - 06:20 AM ) - Lượt xem: 784

Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt/ Đảng ta đây, xương sắt da đồng/ Đảng ta, muôn vạn công nông/ Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin./ Đảng ta Mác-Lê Nin vĩ đại/ Lại hồi sinh, trả lại cho ta/ Trời cao, đất rộng bao la/ Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người…

2. Ba mươi năm đời ta có Đảng

 

Cũng đầu năm mới này, Đảng  đã quyết định khôi  phục lại toàn bộ lịch sử của mình từ khi bắt đầu  thành  lập  vào  năm 1930. Thay cho ngày 3-3-1951 vốn được coi là ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam (thực chất chỉ là ngày Đảng ra công khai), nay Đảng coi mùng 6 tháng1, sau đó xác định lại mùng 3 tháng 2 là ngày chính thức thành lập Đảng với tên gọi hồi đó là Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Lao động Việt Nam). Đúng dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (3/2/1930-3/2/1960), nhạc sĩ Phạm Tuyên đã có hai bài hát kính dâng lên Đảng là bài “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” và bài “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, nhạc sĩ Trần Hoàn đóng góp bài  “Kể chuyện người Cộng sản”; còn nhà thơ Tố Hữu đã cho xuất bản bài thơ dài theo thể song thất-lục bát“ Ba mươi năm đời ta có Đảng”, trong đó nêu rõ toàn bộ lịch sử vẻ vang của Đảng cho đến những thành tựu vĩ đại của công cuộc cải tạo nền kinh tế nước ta tiến lên CNXH. Thơ Tố Hữu đã miêu tả thành tựu của công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở thành thị:

 

Đời hết kẻ sống lười ăn bám

Đời của ai dũng cảm hy sinh

Những người lao động quang vinh

Chúng ta là chủ của mình từ đây.

 

Qua đó có thể nhận thấy giai cấp tư sản “ngồi mát ăn bát vàng” đã bị tiêu diệt, xã hội chỉ còn lại toàn những người lao động vinh quang được làm chủ bản thân mình mà không phải làm thuê cho các ông chủ. Còn đây là thành tựu hợp tác hóa nông nghiệp ở nông thôn:

 

Dân có ruộng, dập dìu hợp tác

Lúa mượt đồng ấm áp làng quê.

Chiêm mùa cờ đỏ ven đê

Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn.

Qua đó có thể nhận thấy toàn thể nông dân đã gia nhập các hợp tác xã nông nghiệp để làm ăn tập thể. Từ nay, họ không phải “hai sương một nắng” quần quật trên đồng ruộng của mình để kiếm bát cơm manh áo, mà đi làm trên ruộng của hợp tác, nghỉ giải lao và trở về theo hiệu lệnh bằng tiếng trống (hoặc tiếng kẻng) của các đồng chí chủ nhiệm, chẳng khác gì nông dân Trung Quốc trong các Công xã Nhân dân và nông dân Liên Xô trong các Nông trang Tập thể. Cũng không còn cảnh “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” đơn độc như xưa, mà nay đi làm tập thể rất đông vui với tinh thần thi đua hăng hái theo ngọn cờ đỏ bay phấp phới ở ven đê.

 Tất cả những thành tựu ấy đạt được là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng . Vì thế, toàn dân phải hiểu Đảng vĩ đại như thế nào  để tuyệt đối trung thành với Đảng:

 

Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt

Đảng ta đây, xương sắt da đồng

Đảng ta, muôn vạn công nông

Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin.

Đảng ta Mác-Lê Nin vĩ đại

Lại hồi sinh, trả lại cho ta

Trời cao, đất rộng bao la

Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người…

 

 

Với tình hình thành thị và nông thôn đã được đổi mới như trên, dưới sự lãnh đạo của Đảng tuyệt vời như vậy, chẳng bao lâu miền Bắc nước ta sẽ tiến đến CNXH theo gương Trung Quốc và Liên Xô vĩ đại. Nhưng chính lúc nước ta đang vươn lên phơi phới như thơ Tố Hữu, thì ở các nước bạn vĩ đại lại có những điều không ổn. Ngay từ mùa hè năm ngoái, Đài phát thanh Bắc Kinh đã thông báo về sự thay đổi ban lãnh đạo Trung Quốc: đồng chí Lưu Thiếu Kỳ làm Chủ tịch nước CHND Trung Hoa và đồng chí Đặng Tiểu Bình làm Tổng Bí thư Đảng gánh vác việc nước việc Đảng thay cho đồng chí Mao Trạch Đông; để Mao Chủ tịch (nay chỉ còn là chủ tịch Đảng) tập trung vào việc nghiên cứu lý luận macxit-lêninnít. Khi ấy ai cũng nghĩ rằng Bác Mao ưa thích lý luận nên đã trao bớt quyền lực cho Lưu Chủ tịch và Đặng Bí thư để dành thời gian đọc sách nghiên cứu. Nhưng về sau mới biết rằng công cuộc “Đại nhảy vọt” của Bác Mao đã gây tổn thất nặng nề cho đất nước, nên Bác buộc phải tạm lui vào hậu trường để hai đồng chí kia đứng ra giải quyết những hậu quả tai hại do mình gây ra. Phong trào “Toàn dân làm gang thép” đã sản xuất được nhiều gang thép, nhưng hầu hết là loại phế phẩm không dùng được trong công nghiệp hiện đại. Nông dân tối ngày lo luyện thép nên bỏ bễ việc đồng áng, khiến cho sản lượng nông nghiệp sút giảm nghiêm trọng. Kỹ thuật “cấy dầy” tạo ra “lúa vệ tinh” chỉ là chuyện bịa đặt của cơ quan tuyên huấn nhằm làm cho nước ngoài phải nể phục Trung Quốc để Bác Mao vui lòng. Phong trào “Toàn dân diệt chim sẻ” không bảo vệ được nguồn lương thực của đất nước, mà còn làm cho tình hình nghiêm trọng hơn. Hóa ra loài chim nhỏ bé này ăn sâu bọ là chính, như các nhà khoa học Mỹ đã chứng minh, chứ không mổ nhiều thóc lúa như Bác Mao đã tưởng. Vì thế, khi chim sẻ bị diệt thì sâu bọ phát triển mạnh đã tàn hại mùa màng không biết bao nhiêu mà kể. Các “Công xã Nhân dân” khổng lồ được điều hành theo kỷ luật nhà binh không làm cho sức sản xuất phát triển mà lại kìm hãm nó. “Đại nhảy vọt” của Bác Mao không đưa Trung Quốc tiến lên CNCS, mà đã làm cho đất nước kiệt quệ với 37 triệu dân chết đói (nhiều tài liệu viết rằng khi ấy ăn thịt người là hiện tượng phổ biến ở nước này).

 Trong khi đó tại Liên Xô, nhà lãnh đạo Nikita Xecgâyêvích Khơrutsôp đã nhận thấy những khuyết tật của chế độ Xô Viết do Stalin để lại. Ông quyết định bắt đầu sửa chữa chế độ đó bằng việc lên án “tệ sùng bái cá nhân Stalin” cùng những tội ác do tệ đó gây ra. Rồi ông đề ra đường lối “chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau” cho Đảng của mình và cho cả phe XHCN. Với đường lối này, ông đã thay thế cuộc đấu tranh giai cấp để tiêu diệt chủ nghĩa tư bản bằng cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới.  Do đường lối này, Liên Xô bắt đầu quan tâm đến giá trị và tình cảm cao quý của cuộc sống con người. Nhờ đó, bên cạnh các bộ phim chiến đấu dũng cảm hay lao động hăng say để giành cờ thi đua, những bộ phim thấm đẫm tình nhân đạo như “ Khi đàn sếu bay qua”, “ Bài ca người lính” hay “Số phận một con người” đã ra đời. Xem các phim này, tôi đã bật khóc khi chứng kiến  những con người bình dị gặp số phận bi thảm do chiến tranh tàn bạo gây ra. Các phim “Sông Đông êm đềm” và “Người thứ 41” không khiến tôi phải khóc, nhưng ý nghĩa nhân đạo sâu sắc của chúng in mãi trong tâm trí tôi. Mikhain Sôlôkhốp, tác giả của các tác phẩm văn học được dựng thành phim “Sông Đông êm đềm” và “Số phận một con người” trở thành nhà văn được hâm mộ nhất ở miền Bắc lúc đó. Cũng thời gian này, chúng tôi được nghe rất nhiều ca khúc tuyệt vời của Liên Xô, nổi bật là “Đôi bờ”- ngôn ngữ của tình yêu nồng cháy, “Lòng mẹ”- tiếng gọi thiêng liêng của tình mẫu tử, “Cuộc sống ơi, ta mến yêu người”- ngợi ca ý nghĩa thiêng liêng vĩnh cửu của cuộc sống con người…; và nhất là “Chiều Matxcơva”- âm điệu của cuộc sống thanh bình tràn ngập yêu thương:

 

Chiều thanh vắng là đây, âm thầm gió rì rào

Rừng cây chim muông lắng suốt canh thâu

Hỡi em thấu chăng tình, anh lòng bao trìu mến

Matxcơva bên chiều vắng âm thầm…

 

Đây là ca khúc được yêu thích nhất, luôn được phát trong chương trình “Ca nhạc theo yêu cầu thính giả” của Đài Tiếng nói Việt Nam. Đang đi đường mà gặp lúc đài đang phát bài này, tôi phải dừng lại nghe cho hết rồi mới đi tiếp. Hai tác giả của nó, V. Xôlôviốp Xêđôi và M. Matuxốpxki, đã trở thành thần tượng của thính giả miền Bắc nước ta. Khi ấy cũng có một nhạc phẩm mới của Việt Nam được thính giả yêu cầu phát rất nhiều lần trên đài và tôi cũng đặc biệt yêu thích. Đó là bản hợp xướng “Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy” của Tô Hải. Cũng thời gian này, nhờ có vé của cậu Bính gửi tặng, tôi cùng với cả nhà lại được xem vở kịch nói  “Platôn Krêset” của nhà viết kịch Liên Xô nổi tiếng Alếchxanđrơ Koocnâychuc do Đoàn kịch nói Trung ương trình diễn.

 

 

Báo chí và đài phát thanh hồi này không kêu gọi bà con nông dân “cấy dầy” nữa, mà bảo “cấy dầy vừa phải” thôi. Bà con vui sướng hiểu rằng: mình sẽ không còn phải mất công cấy dầy để tạo ra những cánh đồng chỉ thu hoạch được toàn rơm rạ, chứ không phải là “lúa vệ tinh” như cấp trên từng hứa hẹn. Báo đài lại tuyên truyền kỹ thuật mới “cấy thẳng hàng” có chăng dây làm mốc cho bà con thực hiện. Bà con nghe đài nhưng vẫn bán tín bán nghi: hay ta cứ làm như ông cha xưa cho chắc ăn? Lúc này, trong số các nông cụ cải tiến chỉ còn chiếc “cày 51” là đươc tiếp tục sản xuất và sử dụng ở đồng bằng Bắc Bộ đối với một số “chân ruộng” thích hợp, các nơi khác vẫn dùng cày “chìa vôi” thì trâu bò mới đủ sức kéo nổi. Chiếc guồng đạp nước sau khi được chụp ảnh đăng báo thì cũng phải bỏ xó vì nó quá cồng kềnh, đạp rất mệt mà không thể áp dụng cho mọi loại ruộng đất, dùng các loại gàu cổ xưa linh hoạt hơn nhiều. Các loại phân xanh (bao gồm bèo hoa dâu), phân chuồng và cả “phân bắc” do người thải ra và ủ trong các “hố xí hai ngăn” cũng chỉ có tác dụng nhất định, không đủ để tăng sản lượng lương thực như người ta đã tưởng. Nhưng dù sao, tất cả những cái đó cũng đủ để được bay bổng trong thơ Tố Hữu:

 

                    Dọn tí phân rơi, nhặt từng ngọn lá

                    Mỗi hòn than, mẩu sắn, cân ngô

                    Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ!

 

Sau này, người ta sẽ hiểu rằng cơ đồ của đất nước mà xây dựng bằng cách dọn phân, nhặt lá và gom góp các thứ đồ phế thải hoặc rơi vãi, cùng với việc “cải tiến” những nông cụ cổ xưa, sẽ chỉ là một cơ đồ tương xứng với những chất liệu tạo ra nó.

 Mùa hè năm ấy, “Thời mới”- tờ báo tư nhân duy nhất còn lại ở miền Bắc- chính thức bị đóng cửa, với lời giải thích rằng nó đã được sát nhập vào cơ quan ngôn luận của Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam thành phố Hà Nội với tên gọi là báo “Hà Nội Mới”. Từ nay, toàn bộ báo chí đều là của Đảng và các đoàn thể do Đảng lãnh đạo, đặt dưới quyền quản lý của Ban Tuyên Huấn Trung ương Đảng.

 

 

Tôi đã kết thúc năm học lớp 6 của mình bằng một kết quả đáng mừng: hầu hết điểm tổng kết các môn được 4, riêng điểm nhạc, vẽ và lịch sử là 5. Đặc biệt, tôi cảm thấy tự tin hơn về môn toán, vì đã giải được cả mấy bài khó do các bạn giỏi toán trong lớp thách đố. Thế là tôi phấn khởi bước vào những ngày hè thoải mái.

 Vì chiếc bàn bóng cũ ở nhà tôi đã được chuyển đi đâu đó, tôi rủ Ký đến nhà Đồng trong Nhà máy Điện chơi bóng bàn. Mang tên là Nhà máy Điện nhưng đó chỉ là nơi quản lý và phân phối điện (còn nơi sản xuất điện là Nhà máy điện Cửa Cấm). Khuôn viên Nhà máy Điện được bảo vệ nghiêm ngặt, nên chúng tôi phải đến cổng sau luôn khóa chặt của nó ở phố Trần Quang Khải réo gọi Đồng, rồi vòng ra cổng trước ở phố Minh Khai để được Đồng đón đi qua trạm bảo vệ vào nhà. Đó là ngôi nhà một tầng có hai phòng lớn và mấy gian phụ, đồ đạc có vẻ sang hơn của nhà tôi, được bày biện ngăn nắp gọn gàng và giữ gìn sạch sẽ. Khi ấy ba của Đồng đang là Giám đốc Nhà máy Điện, cả ba và mạ bạn ấy đều là người Huế thuộc hai dòng họ lớn là Nguyễn Đắc và Nguyễn Khoa có truyền thống văn hóa rất cao. Đồng có bà chị cả Diệu Hương cũng đang học ở trường  Ngô Quyền trên chúng tôi 2 lớp, có hai cô em gái là Diệu Thủy, Diệu Lam và cậu em trai út Đắc Vinh. Bàn bóng của nhà Đồng sơn màu rêu còn tốt, có kích thước và bộ lưới đúng chuẩn, lại được đặt trên sân xi măng khá rộng, nên có thể chơi  thoải mái. Đồng mang ra một cặp vợt mới có dán những tấm gai cao su ở hai mặt (được gọi là “vợt gai”) và cuộc chơi bắt đầu: hai người chơi, người thứ ba làm trọng tài. Mỗi ván tính đến 21 điểm, ai bị thua thì ra làm trọng tài để trọng tài cũ vào chơi tiếp. Đồng chơi hay quá, luôn thắng cả hai đối thủ; tôi phải cố lắm mới thắng được cậu ấy vài ván, còn Ký thì liên tục thua cả Đồng và tôi. Trong một ván đấu với Ký, Đồng vụt một quả mạnh khiến đối thủ không đỡ được phải chạy đi nhặt bóng. Lóng ngóng thế nào mà Ký lại dẫm bẹp quả bóng mới của Đồng, thế là phải bỏ bóng vào bát nước sôi cho nó phồng lên. Nhưng vì bị dẫm mạnh quá nên bóng không phồng được. Cuộc chơi được tiếp tục bằng một quả bóng cũ mà Đồng mới tìm ra, nhưng rồi phải kết thúc khi quả này bị nứt.

 Trước lúc chia tay, Đồng cho tôi mượn một cuốn sách “Tập đánh bóng bàn” do hai huấn luyện viên nổi tiếng của Trung Quốc là Khương Vĩnh Ninh và Tôn Mai Anh biên soạn. Chính cuốn này đã giúp Đồng chơi bóng giỏi, và tôi cũng bắt đầu học theo từng trang sách này. Ký tiến bộ chậm về bóng bàn, nhưng cậu ta thổi sáo khá hay và còn say mê tập chơi một nhạc cụ rất khó là đàn violon.

 Nhân dịp hè, Đội TNTP tổ chức cho các đội viên đi tham gia công tác xã hội. Chúng tôi chia thành từng nhóm đi dạy văn hóa cho dân nghèo sống dưới thuyền trên sông Tam Bạc, hoặc mang phim đèn chiếu đến các xóm dân nghèo để phục vụ thiếu nhi. Ngoài những buổi đó, tôi thường đến Thư viện đọc sách,  thỉnh thoảng đi xem bóng đá tại sân vận động Lạch Tray, hoặc nghe tường thuật trên đài phát thanh các trận đấu thuộc giải vô địch bóng đá hạng A toàn miền Bắc. Khi ấy, thành phố của chúng tôi có 3 đội hạng A là Cảng Hải Phòng, Công An Hải Phòng và Xi Măng Hải Phòng so với 4 đội ở thủ đô là Công An Hà Nội, Thể Công, Trường Huấn luyện Thể dục Thể thao và Tổng cục Đường sắt; ngoài ra còn có Dệt Nam Định và Thanh niên Thanh Hóa. Những trận đấu giữa các đội này với nhau luôn có rất đông khán giả tham dự, trong đó có cả ba tôi và tôi. Tiếp đó, giải bóng đá quốc tế bốn nước Việt-Trung-Triều-Mông được tổ chức tại nước ta lại khiến chúng tôi phải chăm chú theo dõi. Ngoại trừ đội Mông Cổ có phần yếu kém, ba đội Việt Nam DCCH, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên thi đấu ngang ngửa với nhau và chúng tôi rất tiếc là Việt Nam không giành được chức vô địch.

 Qua radio, tôi còn được biết đến một cuộc đấu khác mang tầm cỡ quốc tế giữa Trung Quốc với Liên Xô về đường lối chính trị của phe XHCN. Khi ấy Đài phát thanh Bắc Kinh và Đài Tiếng nói Matxcơva đều có các buổi phát thanh bằng tiếng Việt, và cả hai đài này đều được Đài Tiếng nói Việt Nam “tiếp âm”, nên tôi đã theo dõi được cuộc tranh luận gay gắt giữa Trung Quốc với Liên Xô. Phê phán đường lối “chung sống hòa bình” của Khơrutsôp, Đài phát thanh Bắc Kinh liên tục tố cáo Liên Xô theo “chủ nghĩa xét lại” phản bội chủ nghĩa Mác- Lênin; còn Đài Tiếng nói Matxcơva thì phê phán tư tưởng “chính quyền trên đầu ngọn súng” của Mao Trạch Đông để khẳng định Trung Quốc theo “chủ nghĩa giáo điều”, đòi làm cách mạng bạo lực bất chấp nguy cơ của cuộc chiến tranh nguyên tử. Trung Quốc coi các nước đế quốc do  Mỹ cầm đầu là “con hổ giấy” cần phải đánh đổ; Liên Xô đáp rằng đó là con hổ “có răng nanh nguyên tử” cần ngăn chặn nó gây chiến tranh. Với những gì sẵn có trong óc của một học sinh chưa đầy 13 tuổi, tôi cảm thấy Trung Quốc vẫn kiên trì lý tưởng cộng sản, còn Liên Xô dường như đã rời xa lý tưởng ấy, mặc dù Liên Xô đã bắn rơi chiếc máy bay do thám U2 và bắt sống viên phi công gián điệp Gari Paoơ của Mỹ ngay trong ngày Quốc tế Lao động 1-5. Hoàn toàn không hiểu rằng các tác phẩm điện ảnh, văn học và âm nhạc mà mình yêu thích chính là kết quả đường lối mới của Khơrutsốp, tôi cho rằng Liên Xô đã theo “chủ nghĩa xét lại” (mặc dù chưa biết rõ “xét lại” nghĩa là gì, nhưng cảm thấy từ này có vẻ xấu). Ngược lại, không còn thích các bộ phim và bài hát Trung Quốc như xưa nữa, nhưng tôi lại khâm phục nước này về tinh thần cách mạng chống tư bản đế quốc mà không sợ “con hổ giấy”(mặc dù không biết tinh thần đó là đúng hay sai, nhưng có vẻ dũng cảm). Một thời gian sau, Đài Tiếng nói Việt Nam không còn tiếp âm các đài Bắc Kinh và Matxcơva nữa, tôi cũng không cố dò bắt các đài này qua radio, nên cũng dần quên cuộc tranh luận giữa hai cường quốc vĩ đại của “phe ta”.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác