NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU-Chương 4, Phần 6

( 11-03-2014 - 06:48 AM ) - Lượt xem: 542

phe đế quốc tư bản do Mỹ cầm đầu ngày càng suy yếu, còn phe xã hội chủ nghĩa của ta do Liên Xô và Trung Quốc lãnh đạo ngày càng lớn mạnh. Mỹ có bom nguyên tử, Liên Xô không chỉ có bom đó, mà còn có tàu phá băng nguyên tử đầu tiên trên thế giới mang tên Lê Nin. Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Liên Xô nặng 83 kg, Mỹ theo sau Liên Xô cũng cố phóng vệ tinh, nhưng quả cầu tí hon của Mỹ chỉ nặng chưa đến14 kg! Rồi ông bảo chủ nghĩa tư bản (CNTB) là chế độ người bóc lột người rất thối nát và phản động, phải được thay thế bằng chế độ xã hội chủ nghĩa

      6.Quàng khăn đỏ

 

Nhà mới của chúng tôi đầy đủ tiện nghi hơn hẳn chỗ cũ. Má có thể nấu ăn trong căn bếp rộng rãi có đủ củi nước với một chiếc “gác măng-giê” đựng đầy bát đĩa và mắm muối. Thỉnh thoảng chúng tôi còn xách cặp lồng đến nhà ăn tập thể của Sở để lãnh “cơm tập thể” về ăn. Ba tôi lại mua được một chiếc radio cũ nhãn hiệu Radialva đặt trên bệ lò sưởi, rồi xin được giấy “Chứng nhận Đăng ký Máy Thu thanh” (có ghi số đăng ký, kèm theo dòng chữ in “cấm nghe đài địch”); thế là cả nhà có thể nghe tin tức  và các tiết mục văn nghệ truyền thanh bất cứ lúc nào. Theo quy định của ba má, mỗi tối thứ bảy hàng tuần tôi và em Hùng đều được đi xem chiếu bóng tại các rạp. Thật đúng là “đời sống đang vươn lên trên đất nước chúng ta”.

 Về nhà mới được ít ngày, không hiểu do đâu mà tôi và em Hùng bỗng nhiên mắc bệnh “quai bị”, được ba má cho đi điều trị tại Bệnh xá Học sinh miền Nam ở gần Ngã Sáu. Các thầy thuốc chăm sóc rất chu đáo, luôn căn dặn chúng tôi không được chạy nhảy leo trèo để đề phòng biến chứng có thể bị “mất giống”. Các cô cấp dưỡng là cán bộ miền Nam tập kết cũng rất thương yêu bệnh nhân, cho chúng tôi ăn món canh chua nấu theo kiểu miền Nam có dứa và rau ngổ rất lạ miệng, và luôn hỏi “Các cháu ăn có ngon không?” Khi hết bệnh được về, chúng tôi cảm thấy rất lưu luyến với các cô chú ở bệnh xá.

 Nhà ở gần Sở thuận tiện cho ba đi làm, nhưng lại xa trường của má và của hai anh em tôi. Thế là má xin chuyển từ trường Minh Khai về trường Phổ thông Cấp I Nguyễn Tri Phương ở gần nhà hơn; em Hùng cũng xin chuyển từ trường Nguyễn Văn Tố về học cùng trường với má; chỉ riêng tôi vẫn tiếp tục học tại Ngô Quyền. Do em Dũng đã biết đi và ăn cơm được, nên má cho bà Mùi thôi việc và mua một chiếc xe đẩy trẻ con để tôi giúp má trông em. Má còn mua được một chiếc xe đạp nữ sơn xanh nhãn hiệu “Super Celial” đeo biển số chữ đen “WA 383” để đi dạy cho tiện. Khi ấy tôi thấp bé nên chưa thể đi xe đạp của ba có chiếc khung giữa nối ngang từ cổ phuốc đến cọc yên. Nhưng nhìn chiếc xe của má có hai gióng ở giữa  nối chéo từ cổ phuốc xuống trục bánh xe sau, tôi đã nghĩ ra cách tập đi xe này. Dắt xe ra đường, tôi ngồi ngay trên hai gióng giữa rất thấp ấy, hai tay cầm lái rồi lần lượt đạp hai chân xuống đường cho xe chạy. Được một lúc, tôi co hai chân lên bàn đạp để xe tự chạy theo đà sẵn có và cố giữ cho nó khỏi đổ, rồi bắt đầu đạp xe .Tập như vậy trong vài tiếng đồng hồ, tôi vui sướng nhận thấy mình đã biết đi xe đạp mà không cần có ai trợ giúp. Mấy hôm sau, tôi đã ngồi được lên yên để đạp xe như người lớn, mặc dù phải với chân hết cỡ mới tới bàn đạp để phóng qua các phố gần nhà. Nhờ đó, tôi đã phát hiện được những địa chỉ quan trọng: Sở Giáo Dục của ba là một tòa nhà 2 tầng ở góc ngã tư nơi hai phố Hòa Bình và Trần Quang Khải cắt nhau; nhà ăn tập thể của Sở ở phố Điện Biên Phủ; trường Nguyễn Tri Phương của má ở phố cùng tên; Thư viện Thành phố tại một góc ngã tư Điện Biên Phủ-Hòa Bình, trong một tòa nhà hai tầng có chiếc tháp cao gắn 3 đồng hồ lớn hình tròn ở ba mặt được gọi là “Đồng hồ Ba chuông”. Tháp đồng hồ này nhỏ hơn nhiều, nhưng trông cũng tựa như tháp chuông đồng hồ Điện Kremli ở thủ đô Liên Xô mà tôi đã nhiều lần được thấy trong phim hoặc trong ảnh. Cứ mỗi thời khắc, “Đồng hồ ba chuông” lại đánh chuông báo giờ, tuy tiếng chuông của nó không hay bằng và không vang xa được như chuông đồng hồ ở Điện Kremli.

 Kỳ nghỉ hè này ba không đưa gia đình đi nghỉ mát, nhưng tôi đã có nhiều thú vui mới. Cây nhãn của nhà đến mùa quả chin rất ngon khiến tôi cùng em Hùng trèo hái hàng ngày. Một chiếc bàn bóng cũ kỹ được phát hiện dưới gầm cầu thang, thế là chúng tôi có thể chơi bóng bàn ngay tại sân vườn. Tôi đạp xe đến thăm Thịnh, Hưng và Khánh rồi cả bọn kéo nhau đi đến hồ bơi An Dương ở bên một con đường nhỏ (sau trở thành phố Trần Nguyên Hãn) cách phố Ngô Quyền một quãng để tập bơi. Ai cũng bảo học bơi rất khó, nhưng tôi tìm được một quyển sách dạy bơi trong tủ của ba và học theo nó nên không thấy khó. Chỉ sau vài buổi tập, tôi đã biết bơi “kiểu chó”, rồi bơi sải và bơi ếch. Vừa biết đi xe đạp lại vừa biết bơi, tôi cảm thấy mình lớn hẳn lên. Tôi lại còn xin được  thẻ thư viện, nên thường đến đọc sách tại Thư viện Thành phố. Chiều chiều, má cùng hai anh em tôi đẩy xe cho em Dũng cùng đi dạo phố hoặc đến công viên thiếu nhi (thường được gọi là “Vườn Trẻ”) bên phố Trần Hưng Đạo để xem các chuồng thú, chơi cầu tụt, đánh đu, cưỡi ngựa gỗ và nhiều trò khác. Có hôm tôi một mình đẩy xe em Dũng đến Vườn Trẻ thì gặp ngay các bạn quàng khăn đỏ ở lớp mình đang sinh hoạt Đội, với cả bạn Lê trong đó.

 

 

Ba tháng hè trôi qua nhanh chóng và năm học mới đã đến. Ngôi trường thân yêu không có gì thay đổi, ngoại trừ chiếc lò luyện thép đã biến mất. Tất cả các bạn học ở lớp cũ gặp lại nhau tay bắt mặt mừng trong lớp mới 6A (hình như không đứa nào bị lưu ban), mà lại có thêm một bạn nữ mới xuất hiện khiến tôi kinh ngạc: đó chính là chị Mai Việt Hằng (em anh Mai Xuân Phú) vốn chơi thân với tôi từ hồi ở trường Lam Sơn (Thanh Hóa), giờ đây lại vào học cùng lớp với tôi. It lâu sau chị Hằng được lớp đặt biệt danh là “Mẹ mìn Răng tím” (do chiếc răng cửa bị sứt có màu như vậy), còn anh Phú thì làm cán bộ ở một công trường ngay tại Hải Phòng để nuôi em ăn học.

 Nguyễn Đắc Đồng hồ hởi kéo tôi lại: “ Mình thấy cậu mấy lần đạp xe qua phố Hòa Bình, đúng không?” Tôi gật đầu xác nhận, thế là Đồng cho biết nhà cậu ấy  trong khu Nhà máy Điện ở đầu phố Hòa Bình, ngay gần Sở Giáo Dục ở phía bên kia đường. Tôi cũng cho Đồng biết mình đã dọn về  nhà mới ở gần nhà bạn ấy. Tan học, Đồng rủ tôi cùng về và kéo theo cả Vũ Văn Ký vừa đi bộ vừa trò chuyện râm ran. Đến cổng Nhà máy Điện, Đồng chào tạm biệt và hẹn ngày mai cùng rủ nhau đi học. Tôi và Ký đi tiếp theo phố Hòa Bình, đến ngã tư rẽ phải qua phố Trần Quang Khải đến một ngôi nhà hai tầng dùng làm gara ô tô là nơi Ký ở cùng ông chú là chủ gara ấy. Thì ra nhà Ký rất gần nhà Đồng và cũng không xa nhà tôi. Tạm biệt Ký, tôi đi tiếp rồi rẽ trái qua phố Trần Thành Ngọ thẳng tiến về nhà. Kể từ đó, Đồng- Ký- Quốc trở thành một bộ ba bạn thân thường cặp kè với nhau. Riêng Đồng với tôi sẽ có một tình bạn gắn bó  trọn đời.

 Có một điều đáng ngạc nhiên mà tôi nhận thấy là học lớp 6 có những môn không khó bằng lớp 5. Lần đầu tiên được học đại số và hình học trong môn toán, tôi lại thấy dễ tiếp thu hơn số học ở lớp 5. Học về các loài nguyên sinh động vật như “thảo trùng”, “nhãn trùng” và “amip” rồi đến các loài côn trùng do thầy Bái giảng, tôi thấy thích hơn các loài thực vật đã học thầy Khiết trong chương trình sinh vật năm ngoái. Nga văn vẫn khó về ngữ pháp, nhưng tôi phát âm tốt, đọc và dịch khá trôi chảy. Ngoại trừ  hóa học mới được học lần đầu tiên và vật lý luôn luôn là môn khó, các môn khác tôi đều tiếp thu một cách nhẹ nhàng. Thầy Trần Sự lại theo chúng tôi lên lớp 6 để tiếp tục dạy toán, đồng thời kiêm chủ nhiệm lớp. Luôn cắt tóc cao, đeo kính trắng với bộ trang phục là thẳng nếp và đôi dép cao su được cài quai cẩn thận, thầy chinh phục chúng tôi bằng trình độ chuyên môn giỏi cùng tư thế tác phong rất đĩnh đạc. Thầy quy định cả lớp làm bài kiểm tra trên cùng một khổ giấy, trình bày khung “điểm” và “lời phê” cùng một kiểu, viết “giả thiết” và “kết luận” phải gạch dưới, “đáp số” bài làm phải đóng khung. Tất cả chúng tôi tuân thủ răm rắp những quy định ấy, và chúng trở thành thói quen suốt đời học sinh của mình. Thầy chia lại lớp thành 4 tổ và không dùng những lá cờ thi đua như trước đây thầy Khiết đã dùng.

 Học sinh 6A luôn được các thầy cô khen là học khá; nhưng chúng tôi còn vui chơi cũng rất hăng. Nhiều bạn nam cũng như nữ thích chơi bóng rổ và bóng chuyền ngay tại sân trường. Khi vắng thầy cô, chúng tôi lại chơi bóng bàn bằng chính chiếc bục kê bàn giáo viên. Trong giờ ra chơi, các bạn nam yêu bóng đá thường đến “sân vận động nhà xí” ( một sân xi măng nhỏ ở khoảng giữa tòa nhà chính với khu nhà xí công cộng) để quần thảo với nhau bằng bất cứ loại bóng gì. Sau giờ học, các cầu thủ nghiệp dư này còn kéo nhau ra sân vận động Sông Lấp (một sân bóng đá rất rộng có hai khung thành bằng gỗ dành cho tất cả mọi người tự do sử dụng, không có tường bao quanh và cũng chẳng có khán đài) để chia phe thi đấu, hoặc đấu với lớp khác hay trường khác bằng những quả bóng da thực sự. Đồng với tôi thường xuyên có mặt trong những cuộc vui đó.

 

 

Vào một buổi chiều, toàn thể học sinh cấp II được nghỉ 2 tiết cuối cùng để tập hợp tại sân trường nghe nói chuyện thời sự (học sinh cấp III đã được nghe trong buổi sáng). Các lớp xếp hàng ngay ngắn sát cạnh nhau, hướng về phía hành lang trước văn phòng nhà trường, nơi có chiếc bàn dài trên đặt micro. Thầy phó hiệu trưởng Nguyễn Văn Hòa đứng trước micro giới thiệu đồng chí đại diện Thành Ủy Hải Phòng lên nói chuyện. Một người đàn ông trung niên mặc trang phục “đại cán” với chiếc áo 4 túi cài kín cổ bước tới micro giơ tay chào và bắt đầu nói chuyện. Thoạt đầu, ông nói về hai phe trên thế giới: phe đế quốc tư bản do Mỹ cầm đầu ngày càng suy yếu, còn phe xã hội chủ nghĩa của ta do Liên Xô và Trung Quốc lãnh đạo ngày càng lớn mạnh. Mỹ có bom nguyên tử, Liên Xô không chỉ  có bom đó, mà còn có tàu phá băng nguyên tử đầu tiên trên thế giới mang tên Lê Nin. Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Liên Xô nặng 83 kg, Mỹ theo sau Liên Xô cũng cố phóng vệ tinh, nhưng quả cầu tí hon của Mỹ chỉ nặng chưa đến14 kg! Rồi ông bảo chủ nghĩa tư bản (CNTB) là chế độ người bóc lột người rất thối nát và phản động, phải được thay thế bằng chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ưu việt mà người với người là bạn. Trong chế độ XHCN, nhân dân sống theo nguyên tắc cao đẹp “mình vì mọi người, mọi người vì mình” và được hưởng thụ với nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”, nghĩa là làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không hưởng. Liên Xô đã xây dựng xong chủ nghĩa xã hội từ lâu, nay bắt đầu bước vào kế hoạch 7 năm xây dựng chủ nghĩa cộng sản (CNCS) để thực hiện nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, nghĩa là nhân dân sẽ sung sướng đến mức muốn gì được nấy mặc dù làm nhiều hay ít. Còn Trung Quốc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) rất nhanh bằng công cuộc “Đại nhảy vọt”, chẳng bao lâu sau cũng sẽ tiến lên CNCS. Ông bảo việc vận động viên Stêpanốp của Liên Xô trở thành nhà vô địch thế giới về nhảy cao với kỷ lục 2,16m,  vận động viên Dung Quốc Đoàn của Trung Quốc trở thành nhà vô địch bóng bàn thế giới và vận động viên Datôpếch của Tiệp Khắc vô địch thế giới về chạy đường trường  5000m, 10.000m và cả cự ly Marathon cũng đủ chứng minh cho tính ưu việt của CNXH. (Tôi đã biết hai nhà vô địch của Liên Xô và Trung Quốc qua báo chí, và được xem tận mắt nhà vô địch chạy đường trường của Tiệp Khắc cùng với vợ là nhà vô địch thế giới về ném lao Datốpcôva trình diễn ngay tại sân vận động Lạch Tray).

 Từ đó, đồng chí đại diện Thành Ủy thông báo rằng nước ta cũng bắt đầu tiến lên CNXH bằng nghị quyết 16 của  Đảng về “ Hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh”. Việc hợp tác hóa nông nghiệp đã được tiến hành thắng lợi ở nông thôn, còn  thành thị sẽ bắt đầu cải tạo công thương nghiệp để xóa bỏ giai cấp tư sản và nền kinh tế tư bản tư nhân. Nền kinh tế đó rất tồi tệ nên phải cải tạo. Bọn tư bản sản xuất hàng hóa không phải để phục vụ nhân dân, mà để kiếm lợi nhuận, tức là kiếm hàng ngàn hàng vạn đồng tiền lời, để chúng “ngồi mát ăn bát vàng”. Vì thế chúng luôn làm ăn gian dối; thí dụ như hãng Vạn Vân nổi tiếng đã từng lấy nước cống để chế tạo nước mắm bán cho nhân dân. Còn tư bản thương nghiệp thì kinh doanh theo lối mua rẻ bán đắt, mua hàng nơi này đem bán nơi kia giá cao hơn, đầu cơ tích trữ, ép giá, nâng giá, cân đo gian dối, lừa gạt khách hàng... (Nghe đến đây, tôi liên tưởng đến vụ mua giày “phòng lớn” của mình và cảm thấy ông này nói rất có lý).

 Ông lại nói tiếp về đường lối nhân đạo của Đảng ta trong việc cải tạo tư sản. Sẽ không có đấu tố, mà chỉ yêu cầu các nhà tư sản hợp tác với nhà nước để cùng kinh doanh dưới hình thức “Công tư hợp doanh”, còn những hộ sản xuất nhỏ thì gia nhập các “Hợp tác xã”. Nhà nước sẽ thành lập các cửa hàng “Mậu dịch Quốc doanh” để phục vụ nhân dân thay cho cách thức buôn bán tư bản tư nhân. Ông khuyên các em học sinh nên động viên cha mẹ kê khai đầy đủ tài sản, để giúp Đảng ta xác định đúng thành phần giai cấp của mình, nhờ đó mới có thể áp dụng chính sách cải tạo thích hợp được. Sau cùng, nhấn mạnh lý tưởng của Đảng ta về CNXH và CNCS là rất cao đẹp, ông kêu gọi thanh thiếu niên học sinh phấn đấu để trở thành những người cộng sản trẻ tuổi, phục vụ cho lý tưởng cao đẹp đó. (Tất cả những người ngồi nghe đồng loạt vỗ tay đôm đốp khi buổi nói chuyện kết thúc).

 Sau buổi đó, tôi nhận thấy mình may mắn được là con gia đình cán bộ không thể bị cải tạo. Nhưng trong lớp còn một số bạn là con các gia đình khá giả có vẻ là tư sản. Các bạn ấy đều là TNTP quàng khăn đỏ, nên chắc rằng họ sẽ phải thuyết phục cha mẹ mình cải tạo tốt để trở thành những người lao động chân chính theo CNXH.

 

 

Một buổi trưa, khi cả nhà đang chuẩn bị dọn cơm ra bàn thì em Hùng đi học về mặt mày hớn hở. Tôi ngạc nhiên thấy trên cổ áo nó có đeo một chiếc khăn quàng đỏ tươi. Ba má khen Hùng ngoan và giỏi nên đã trở thành đội viên TNTP, rồi bảo nó cất sách vở và cởi khăn quàng để ngồi ăn cơm. Hùng ngồi ăn nhưng vẫn đeo khăn đỏ và ríu rít kể chuyện về lễ kết nạp đội. Tôi khen: “Hùng tài quá nhỉ!” mà  trong lòng cũng thoáng chút ghen tị với em vì mình chưa được như nó. Đây là lần đầu tiên tôi nhận ra mình chậm tiến hơn em trên đường đời. Sau này, tôi sẽ còn nhiều lần gặp những trường hợp tương tự so với nó như vậy. Có lẽ cái sự nhanh chậm trên đường đời của anh em tôi đã được số mệnh quy định từ lúc ra đời được “cầm tinh” con gì và con nọ “bọc” con kia ra sao , như má vẫn thường tiên đoán.

 Nhưng dù sao thì tôi cũng đã ra đời vào giờ lợn được cho ăn, nên vào khoảng hai tháng sau, tôi bất ngờ được Đồng cho  biết tin Quốc sắp được vào Đội. Đưa cho tôi đọc cuốn “Điều lệ Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam”, Đồng dặn tôi phải chuẩn bị những gì cho buổi lễ kết nạp, nhất phải tập chào theo nghi thức Đội: đặt bàn tay phải duỗi thẳng khép ngón lên đầu. Buổi lễ ấy được tiến hành ngay tại lớp học vào ngày 20-12-1959 với quốc kỳ, ảnh Bác Hồ, cờ Đoàn và cờ Đội treo trên bảng đen của lớp. Đến dự có thầy Tổng phụ trách Liên đội TNTP của trường cùng thầy chủ nhiệm lớp, anh phụ trách Nguyễn Huỳnh cùng toàn thể các đội viên TNTP lớp 6A thuộc “Đội Nguyễn Quốc Trị” (tên một anh hùng quân đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ)  và những học sinh sắp được kết nạp là tôi với Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Văn Cờ, Vũ Văn Ký. Theo sự điều khiển của anh phụ trách, buổi lễ bắt đầu bằng việc chào cờ: tất cả đứng nghiêm, đồng thanh hát Quốc ca rồi đến Đội ca:

 

Cùng nhau ta đi lên theo bước Đoàn thanh niên đi lên

Cố gắng xứng đáng cháu yêu Bác Hồ.

Lời thề ta ghi sâu mãi mãi trong tim không phai

Quyết xứng danh thiếu niên anh dũng nước nhà…

 

Lần lượt Hưng, Cờ, Ký và tôi được mời đứng dậy đọc đơn xin gia nhập Đội. Thầy Tổng phụ trách đọc quyết định kết nạp chúng tôi; tiếp đó thầy lần lượt quàng khăn đỏ và gắn huy hiệu Đội với hình búp măng non trên nền quốc kỳ và hai chữ “Sẵn sàng” cho mỗi đứa. Anh phụ trách hô khẩu hiệu: “Vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại, hãy sẵn sàng!”; cả 4 đứa chúng tôi giơ cao nắm tay hô đáp lại: “Sẵn sàng! Sẵn sàng! Sẵn sàng!”. Tất cả mọi người trong phòng vỗ tay nồng nhiệt chào đón các đội viên mới. Bạn đội trưởng Nguyễn Đăng Chúc bắt nhịp và toàn thể đội viên cất tiếng đồng ca:

 

Từ hôm nay được mang chiếc khăn thắm màu cờ nước

Khăn đẹp bay trong gió tưng bừng.

Màu khăn tươi vì bao máu ai đã từng đấu tranh

Cho đàn em được sống thanh bình…

 

Trở về nhà, tôi lâng lâng vui sướng như ở trên chín tầng mây, ngắm nghía mãi chiếc huy hiệu măng non và không muốn rời khăn quàng đỏ ngay cả trong khi ăn lúc ngủ. Tôi hiểu rằng khi đã là đội viên TNTP mình sẽ phải sống theo lý tưởng để tiến lên đoàn viên, rồi mai sau sẽ thành đảng viên cộng sản.

Nhiệm vụ đầu tiên mà Đội giao cho tôi là tổ chức học nhóm cho những học sinh gặp khó khăn trong học tập. Tôi liền rủ Cờ, Ký và cả Nguyễn Đức Hiến đến nhà cùng học và kéo chúng vào ngồi ngay trên bộ salon phòng khách của ông Phó Giám đốc Sở. Cả 3 bạn này đều yếu về toán, tôi cũng chỉ nhỉnh hơn họ chút ít. Mở sách giáo khoa tìm các bài tập mà thầy giao về nhà, chúng tôi cùng nhau làm bài, có chỗ nào chưa hiểu thì lại hỏi nhau rồi tranh luận với nhau để tìm ra đáp số. Bằng cách đó, chúng tôi đã hoàn thành tất cả các bài tập. Ký có vẻ thỏa mãn với kết quả học nhóm, nhưng xem bộ dạng cậu ấy khi chép bài giải vào vở mình, tôi cảm thấy cậu ta vẫn chưa hiểu bài. Học xong, chúng tôi rủ nhau ra vườn đánh bóng bàn. Cờ và Ký xí phần đánh trước, riêng Hiến vẫn ngồi lại trong phòng. Tôi quay lại phòng để kéo cậu ấy ra thì thấy Hiến đang xúc cơm ăn trong một cái lon sữa bò. Hiến bảo từ sáng chưa ăn gì nên bây giờ đói quá, còn đây là bữa trưa của cậu ấy. Tôi thấy bữa trưa như vậy quá ít cơm, mà chẳng thấy có thịt cá gì ăn kèm thì không thể đủ no được; nhưng Hiến bảo cậu ấy đã quen ăn như vậy rồi. Thế là tôi hiểu vì sao người cậu ấy luôn xanh rớt. Tôi bảo Hiến ở lại ăn cơm trưa với gia đình tôi, nhưng cậu ấy dứt khoát từ chối, nói là phải về ngay có việc. Hiến hơn tôi đến mấy tuổi, học không phải yếu mà còn giỏi nhất lớp về Nga văn (nên đã được cử làm “cán sự” môn này), nghe nói cậu ấy còn học thêm cả Anh văn nữa. Năm nay Hiến không còn làm lớp trưởng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn; nhưng không hiểu khó khăn đến mức nào mà cậu ta luôn bị đói như vậy. Khi Cờ và Ký ra về, chúng tôi hẹn nhau sẽ tiếp tục học nhóm nữa.

 

 Vài hôm sau, lớp tôi được cử đi lao động xây dựng Trường Phổ thông cấp III Thái Phiên ở phố Cầu Tre. Lần này, tôi hãnh diện cưỡi xe đạp và quàng khăn đỏ đi lao động như mọi đội viên TNTP khác. Vì nền móng và những bức tường chính của ngôi trường 3 tầng xây đã gần xong, nên công việc của chúng tôi chỉ là chuyển gạch và vôi vữa cho công nhân xây trát những bức tường còn trống. Hết buổi lao động dưới trời se lạnh, tôi đạp xe chầm chậm trở về thì trông thấy một cô cán bộ trạc tuổi má tay xách nách mang mấy túi đồ đạc, với hai bé trai có lẽ là con cô ấy đứng cạnh, đang đối thoại với một ông ngồi trên xe xích lô nói rất to tiếng. Tôi dừng lại xem thì thấy ông xích lô đòi tiền chở đến 3đ, mà cô cán bộ chỉ có thể trả 1đ vì không còn tiền; thế là ông ta vùng vằng đạp xe đi mà không thèm ngoái lại. Tội nghiệp mẹ con cô ấy, tôi tiến đến hỏi cô muốn về đâu? Cô trả lời: về nhà máy Sắt tráng men-Nhôm. Tôi liền bảo: “Cháu sẽ đèo hai em này về trước, rồi sẽ quay lại đón cô!”. Thoáng chút ngần ngừ, nhưng có lẽ thấy tôi quàng khăn đỏ nên cô tỏ ra tin tưởng: “Vậy thì cháu giúp giùm cô nghe!”, rồi cô chỉ cho tôi biết đường đi và nơi đến. Thế là tôi đèo một em cùng một túi đồ, phóng nhanh trên đoạn đường không bằng phẳng chưa được tráng nhựa mà khá xa, đến nhà cô trong khuôn viên nhà máy ở phố Ngô Quyền. Để em và chiếc túi trước nhà, tôi quay lại đón đứa thứ hai cùng một túi nữa; rồi một lần nữa quay lại đón cô. Cô nắm tay lái, bảo tôi ngồi lên giá đèo hàng, rồi đạp xe chở tôi về nhà mình. Cô pha cho tôi một cốc nước chanh đường rồi nói bằng giọng miền Nam ấm áp: “Cháu đúng là một đội viên thiếu niên tiền phong!”. Cô hỏi tên tôi, tôi nói tên mình và cũng được biết cô tên là Châu. Trên đường về nhà, tôi rất mệt nhưng lâng lâng vui sướng vì mình đã giúp đỡ được người khác trong lúc họ gặp khó khăn. Có lẽ đó là nguyên tắc sống “mình vì mọi người, mọi người vì mình” mà các bác xích lô không biết đến.

Các Bài viết khác