NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯƠC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương13, phần 4

( 21-10-2018 - 02:44 PM ) - Lượt xem: 88

Trường PTC3 Việt Trì đã góp phần xương máu trên chiến trường Quảng Trị 1972 với các liệt sĩ Lê Văn Thọ, Nguyễn Văn Song, Tạ Thanh Huyền, Đỗ Công Lĩnh… Cựu học sinh PTC3 Việt Trì trở thành sinh viên Đại học Bách khoa là Lê Văn Giao (em ruột anh Lê Văn Long) đã hy sinh tại thành cổ Quảng Trị ngày 9-9-72 ( chỉ 3 ngày trước khi có lệnh rút quân), để lại một tập thơ bị thất lạc và một thi hài không ai tìm thấy được

4. Mùa hè đỏ lửa

 

 Trở lại trường PTC3 Việt Trì sau những ngày tết yên vui, toàn thể thầy trò chúng tôi nhận được một thông tin bất ngờ: Tổng thống Mỹ Risơt Nichxơn (Richard Nixon) cùng Cố vấn An ninh Quốc gia Henri Kitxingơ (Henry Kissinger) đã đến thăm nước CHND Trung Hoa (từ 21 đến 28-2-1972).

 Cả thế giới kinh ngạc chứng kiến Chủ tịch Mao Trạch Đông, kẻ luôn giương cao ngọn cờ cách mạng chống  đế quốc Mỹ ở khắp mọi nơi, đã đón tiếp trọng thể và hội đàm bí mật với Tổng thống Nixon - tên đầu sỏ đế quốc vẫn được Mao gọi là “con hổ giấy”. Bỏ qua luận điểm khét tiếng của Lenin coi chủ nghĩa đế quốc là“Chủ nghĩa tư bản thối nát và giãy chết”, trong âm điệu du dương của nhạc khúc “Nước Mỹ đẹp” (America the Beautiful) do dàn nhạc dân tộc Trung Hoa trình tấu tại đại tiệc dành cho thượng khách, Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu Ân Lai đã nâng cốc cùng Tổng thống Nixon và Cố vấn Kissinger để kết thúc hơn 20 năm đối đầu giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ, khởi đầu cho quan hệ hữu nghị và hợp tác Trung-Mỹ.

 Kết quả của chuyến thăm này được công bố trong bản “Thông cáo chung Thượng Hải” (28-2-1972): Hoa Kỳ tuyên bố sẽ giải quyết tình hình Đông Dương bằng đường lối thương lượng giữa các bên hữu quan; Trung Quốc khẳng định lập trường ủng hộ vững chắc nhân dân Đông Dương; Hoa Kỳ công nhận Đài Loan là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc, đồng thời Trung Quốc cam kết không dùng vũ lực để thống nhất Đài Loan; hai nước sẽ phát triển sự hợp tác về các lĩnh vực thương mại, văn hóa và thể thao. Phía sau những câu chữ công khai đó ẩn chứa những cam kết bí mật về chính trị và quân sự giữa hai nước Trung-Mỹ mà diễn biến các sự kiện về sau sẽ dần dần hé lộ.

 Với kết quả như vậy, cuộc hội đàm thượng đỉnh Trung-Mỹ này đã khiến cho các nước hữu quan hết sức lo ngại. Cũng như Trung Hoa Dân quốc ở Đài Loan, chính phủ VNCH tại Sài Gòn đã cảm thấy mình có nguy cơ bị Hoa Kỳ bỏ rơi để đổi lấy việc bình thường hóa quan hệ với Trung Cộng; mặc dù ngay trước chuyến đi Trung Quốc, tổng thống Nixon đã gửi thư cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cam kết rằng “ngài có thể tiếp tục tin cậy vào sự yểm trợ của Hoa Kỳ trong những nỗ lực của ngài”.

 Trong khi đó, Đảng và chính phủ Việt Nam DCCH cũng nhận ra rằng Mao Trạch Đông không còn là “Lê Nin trong thời đại ngày nay” (như đồng chí Lê Duẩn vẫn thường ca ngợi), mặc dù sau khi tiễn Nixon về nước, Chu Ân Lai đã bay sang Hà Nội để cam kết rằng Trung Quốc vẫn ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Để đề phòng khả năng Trung Quốc bắt tay với Mỹ giải quyết cuộc chiến Việt Nam theo sự thương lượng về quyền lợi giữa hai nước này, đồng chí Lê Duẩn quyết định mở cuộc tổng tiến công mới trên chiến trường miền Nam để giành thắng lợi quyết định cho cuộc đàm phán hòa bình tại Paris.

 

 Cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân-Hè 1972 đã bắt đầu vào ngày 30-3-1972 với lực lượng 200.000 quân chủ lực chính quy miền Bắc (trong đó có 10.000 tân binh là sinh viên các trường đại học), hơn 300 xe tăng và hàng trăm pháo hạng nặng với sự phối hợp của QGP miền Nam, tập trung tiến đánh trên 3 mặt trận: Trị Thiên-Huế, Bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Trong khi đó, phía VNCH có 350.000 quân chủ lực dàn trải trên khắp lãnh thổ miền Nam với hàng nghìn xe tăng-thiết giáp cùng khoảng 400.000 địa phương quân bảo vệ lãnh thổ. Khi ấy Hoa Kỳ còn lại 1.270 máy bay chiến đấu cùng 65.000 quân bộ không có nhiệm vụ chiến đấu tại Nam Việt Nam.

Tại mặt trận Trị Thiên-Huế, 40.000 quân chính quy miền Bắc thuộc các sư đoàn 304, 308 và 312, 1 trung đoàn tên lửa, 4 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn chiến xa Quân đội NDVN vượt vĩ tuyến 17 và đường số 9 tấn công phòng tuyến Đông Hà - Quảng Trị với sự phối hợp của 4 trung đoàn QGP miền Nam thuộc mặt trận B5. Phía đối phương, Quân đoàn 1 VNCH dưới quyền trung tướng Hoàng Xuân Lãm gồm 40.000 quân nhân thuộc các sư đoàn bộ binh số 1, số 2 và số 3; 2 lữ đoàn Thủy quân Lục chiến, 1 lữ đoàn thiết giáp,17 tiểu đoàn pháo binh và hàng vạn địa phương quân.

 Sau 3 ngày giao tranh tàn khốc với những tổn thất nặng nề, 3 sư đoàn Quân đội NDVN đã đánh tan rã sư đoàn 3 bộ binh VNCH, trong đó toàn bộ trung đoàn 56 gồm 1.500 quân của trung tá Phạm Văn Đính và trung tá Vĩnh Lộc đã hạ vũ khí đầu hàng.

 Trước tình hình nguy ngập của quân Nam Việt Nam, Hạm đội 7 Mỹ cùng Không lực Hoa Kỳ lập tức trút bão lửa xuống trận địa đối phương để yểm trợ cho Quân lực VNCH. Ngày 15-4-1972 tổng thống Nixon hạ lệnh oanh tạc trở lại trên toàn lãnh thổ Bắc Việt Nam (chiến dịch “Linebacker”). Việt Nam DCCH coi đây là cuộc “Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2 của đế quốc Mỹ”.  

 Bất chấp hỏa lực khủng khiếp của liên quân Mỹ-VNCH, Quân đội NDVN vẫn tiến lên. Được tăng cường lực lượng của các sư đoàn 320 và 325, quân miền Bắc đã  vượt sông Cam Lộ tiến vào thị xã Đông Hà (28-4); tiếp đó vượt sông Thạch Hãn để đánh chiếm thị xã Quảng Trị (2-5). Sau 2 tháng giao tranh, gần 30.000 sĩ quan và binh sĩ VNCH bị giết, bị thương và bị bắt (tổn thất của quân miền Bắc cũng rất nặng nề nhưng không được tiết lộ). Quân lực VNCH cách chức tướng Hoàng Xuân Lãm, cử trung tướng Ngô Quang Trưởng lên thay làm tư lệnh Quân đoàn 1 để thực thi nhiệm vụ tái chiếm Quảng Trị theo sự cam kết của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

 Tại Bắc Tây Nguyên, sư đoàn 2 Quân đội NDVN cùng trung đoàn 203 tăng-thiết giáp, có sự phối hợp với các trung đoàn độc lập thuộc mặt trận B3 của QGP miền Nam, đã tấn công chiến tuyến Đăck Tô - Tân Cảnh và tiến đánh thị xã Kontum.

 Tại miền Đông Nam Bộ, sư đoàn 5 và sư đoàn 7 Quân đội NDVN phối hợp với các trung đoàn độc lập của QGP miền Nam tấn công thị trấn Bình Long, đánh chiếm thị trấn Lộc Ninh; rồi được tăng cường thêm sư đoàn 9 để vây đánh thị xã An Lộc. Chiến sự đẫm máu diễn ra giằng co dài ngày tại nơi đây; tuy nhiên, Lộc Ninh và vùng phụ cận Tây Ninh giáp giới Campuchia đã trở thành căn cứ địa vững chắc của Trung ương Cục miền Nam (tên gọi của ban lãnh đạo Đảng tại miền Nam) do các đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà…đứng đầu.

 Đưa tin chiến sự nóng bỏng trong thời gian này, báo chí Sài Gòn gọi đó là “Mùa hè đỏ lửa”. Giữa lúc khói lửa ngút trời miền Nam, đã vang lên các ca khúc đau thương “Đại bác ru đêm” , “Người con gái Việt Nam da vàng”“Gia tài của mẹ” của Trịnh Công Sơn (qua giọng hát Khánh Ly):

 

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu

Một trăm năm đô hộ giặc Tây

Hai mươi năm nội chiến từng ngày

Gia tài của mẹ - một rừng xương khô

Gia tài của mẹ - một núi đầy mồ…

 

Trong khi chiến sự bùng nổ dữ dội trên cả hai miền Nam-Bắc Việt Nam, Tổng thống Mỹ Nixon đã sang thăm Liên Xô để hội đàm với Tổng Bí thư Brêgiơnep (L.I. Brezhnev). Trong bản Thông cáo chung Xô-Mỹ ký tại Matxcơva (29-5-1972), hai ông cam kết đưa quan hệ giữa Liên Xô với Hoa Kỳ bước sang một giai đoạn hòa dịu để chấm dứt căng thẳng trong tình trạng Chiến tranh lạnh. Riêng về chiến tranh Việt Nam, phía Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng tương lai của miền Nam Việt Nam nên được quyết định bởi chính người dân miền Nam Việt Nam mà không nên bị can thiệp từ bên ngoài; còn Liên Xô cho rằng quân đội Mỹ cùng các nước đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam và chấm dứt ném bom miền Bắc.

 

 Đáp trả cuộc tổng tiến công của Việt Nam DCCH, cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của Mỹ đã diễn ra vô cùng khốc liệt trên toàn miền Bắc, khiến nhân dân thành thị một lần nữa lại phải đi sơ tán. Tất cả các tuyến giao thông đường bộ và đường sắt, bao gồm cả các trọng điểm dân cư đông đúc đều bị đánh bom dữ dội. Cảng Hải Phòng bị phong tỏa ngặt nghèo bằng hệ thống thủy lôi dày đặc để ngăn chặn tàu biển Liên Xô tiếp viện vũ khí trang bị cho quân Bắc Việt Nam.

 Thành phố công nghiệp Việt Trì với cây cầu sắt bắc qua sông Lô đã nằm trong tầm ngắm của các phi công Mỹ; bởi thế nên thầy trò trường PTC3 Việt Trì chúng tôi lại tạm biệt ngôi trường xây 3 tầng ở thành phố để sơ tán về xã Lâu Thượng ven bờ sông Lô (tháng 4-72). Do phải sơ tán gấp không kịp xây dựng các phòng học tại đây, trường phải cho học sinh các khối lớp 8 và 9 tạm nghỉ học về với gia đình; chỉ còn học sinh khối 10 học ghép lớp tại đình Lâu Thượng để chuẩn bị tiến tới kỳ thi tốt nghiệp. Các giáo viên được vào ở trọ nhà dân tại xóm Gạo trong xã, nơi quê nhà của họ tộc anh Đỗ Quý Bào; riêng tôi được anh sắp xếp cho ở nhà cụ Cử Khương - một bậc trưởng lão gần tuổi bát tuần thuộc thế hệ nho sĩ cuối cùng của dân tộc và là bác ruột của anh.

 Trong ngôi nhà gạch tường xây mái ngói khang trang 3 gian 2 chái, với sân gạch, giếng nước vườn cây và cả hố xí hai ngăn đúng kiểu ở góc vườn, cụ Cử cùng vợ là bà Hai (khoảng lục tuần) và người con gái tên Thu (cũng trạc tuổi  tôi) nồng nhiệt đón tôi về ở cùng với họ. Hai cụ ngủ trong buồng nơi chái nhà, dành cho tôi chiếc giường rất tốt ở gian chính, nơi đặt ban thờ với bộ bàn ghế tiếp khách theo kiểu truyền thống, tiếp đó là tấm phản gỗ lim đen bóng - chỗ ngủ của cô Thu.

 Đã quen với đời sống nông thôn nơi sơ tán, tôi không gặp khó khăn gì với cảnh đọc sách dưới ánh đèn dầu, giảng dạy dưới mái đình mà vẫn ăn cơm ở bếp tập thể của chị Thọ đã dời về đây.

 Tôi còn cảm thấy thú vị khi mình có điều kiện tìm hiểu thực tế xã hội ở xã này. Tên xã “Lâu Thượng” (được giải thích là nơi tọa lạc tòa “Lầu Thượng” của Vua Hùng) cho thấy nền văn hóa truyền thống dân tộc đã lưu truyền bền vững trong các dòng tộc nơi này. Thật ngạc nhiên là họ Khổng ở đây - phải chăng cũng là hậu duệ của Khổng Tử?- có truyền thống học giỏi xưa nay; mà bằng chứng là chàng trai tuấn tú Khổng Phúc Khoa đã tốt nghiệp ra trường từ 3 năm trước với điểm số rất cao; và giờ đây đến lượt em gái Khoa là Khổng Lệ Thi đẹp người đẹp nết mà sức học cũng rất khá đang ngồi lớp 9 của trường.

 Họ Đỗ của anh Bào cũng có truyền thống thi thư. Anh Bào yêu văn chương và làm thơ cũng hay (sau này khi nghỉ hưu, anh đã cho xuất bản tập thơ “Sông quê” với bút danh Lộ Giang). Mẹ anh Bào cũng thuộc truyện Kiều và đang sống cùng vợ chồng người con gái. Tôi thường sang nhà ấy chơi cờ với anh Thảo con rể của bà là công nhân nhà máy điện Việt Trì mà cũng rất mê văn chương.

 Nhưng cụ Cử Khương mới là người nổi bật về nền tảng văn hóa của gia đình. Biết tôi là giáo viên cấp 3, cụ rất mừng vì đã có người đủ trình độ để đàm đạo với mình. Cứ sau bữa ăn tối, cụ với tôi lại thắp đèn dầu ngồi uống trà và nói chuyện văn chương, mà chủ đề chính luôn luôn là Truyện Kiều với Nguyễn Du. Không có quyển Truyện Kiều trong nhà; nhưng tôi hỏi đến đoạn nào là  cụ đọc vanh vách cho nghe đoạn đó, không vấp váp một chữ và không thiếu một câu. Một lần đang đàm đạo thì có tiếng máy bay Mỹ bay xẹt qua đầu, rồi tiếng súng phòng không rộ lên. Tôi định kéo cụ chạy ra hầm; nhưng cụ chỉ thổi tắt đèn rồi bảo tôi: “Thầy cứ ngồi yên, mặc kệ nó, ta nói chuyện tiếp!”. Mỗi khi con trai cụ ghé qua gửi thằng cháu nhỏ cho ông bà trông giúp, cụ lại ru cháu ngủ bằng Truyện Kiều!  

Chỉ riêng cô Thu là khiến tôi bối rối khó xử. Là lao động chính trong gia đình, Thu đảm đương công việc đồng áng của HTX rất giỏi giang; nhưng vì ít học và ít nói mà nhan sắc cũng bình thường, nên cô bị muộn chồng. Ban đêm, tôi và cô ấy cùng ngủ ở gian chính, trên hai chiếc giường phản chỉ cách nhau dăm bước chân, nên tôi thường bị hút về phía cô mà nhẹ bước đến bên tấm phản, nhìn qua màn ngắm cô ấy ngủ. Có lúc Thu nằm tốc yếm cao hoặc kéo quần lên đến tận bẹn, khiến tôi phải rạo rực mà nuốt nước bọt. Cho đến một buổi tối trời nóng nực, tôi ra giếng múc nước tắm cho mát. Bỗng thấy Thu cũng ra giếng, rồi cởi phăng hết áo quần để tắm cùng với tôi. Quá bất ngờ, tôi vội vã tắm nhanh, rồi mặc lại quần áo đi vào nhà với tâm hồn vô cùng xao xuyến.

 Qua những cử chỉ thầm kín nhưng nồng nhiệt mà Thu lặng lẽ bày tỏ với mình, tôi hiểu cô ấy khao khát điều gì. May nhờ có nỗi sợ hãi tiềm ẩn mà tôi đã tự kiềm chế được mình để không “vi phạm kỷ luật dân vận”. Tuy nhiên, khi nhận ra sự khao khát triền miên của người con gái muộn chồng, tôi lại phải tự vấn rằng có lẽ sự kiềm chế của mình là sai lầm. Đúng lúc đó tôi nhận được thư của Dương Thị Tơ từ Liên Xô gửi về, thông báo rằng hè này em sẽ về nước và hẹn gặp lại tôi.

 

Năm học 1971-1972 kết thúc bằng một kỳ thi tốt nghiệp căng thẳng nhưng vẫn đạt kết quả tốt. Do những khó khăn lúc bấy giờ, trường không thể tổ chức cho các em một buổi lễ tốt nghiệp ra trường trang trọng. Nhưng sau ngày các em từ biệt mái trường, tôi vẫn còn được gặp lại Nguyễn Mạnh Đạt (cháu bà Thụy An “Nhân văn Giai phẩm”, sẽ trở thành một doanh nhân thành đạt sau này), Nguyễn Huy Thành (một bác sĩ nối nghiệp bố trong tương lai), Kiều Việt Phương (sẽ là một kỹ sư rồi trở thành cán bộ quản lý tài chính) và Lê Thị Hồng (sẽ trở thành một kỹ sư xây dựng trong tương lai). Riêng hình bóng Lê Thị Hồng đã in đậm trong tâm trí để tôi có nguồn cảm hứng viết mấy bài thơ về em, trong đó tôi thích nhất bài “Hồng”:

 

Ai đem tên sông

Đặt làm tên em?

Ai đem hoa hồng

Gắn với đời em?

 

Như em: dòng sông

Dạt dào ca hát.

Như em: hoa hồng

Đẹp tươi thơm ngát…

                                                                                 (1-8-1972)

 

 Bước vào kỳ nghỉ hè, tập thể giáo viên chúng tôi không đi dự lớp bồi dưỡng chính trị-nghiệp vụ như mọi năm, mà lại phải thực hiện một nghĩa vụ lao động của tỉnh. Sau trận lụt lịch sử hồi năm ngoái, đê sông Lô bị sạt lở rất nhiều, mà giờ đây lại có tin Mỹ sẽ oanh tạc hệ thống đê điều để phá hoại nền kinh tế nước ta, nên mọi cơ quan trường học ở bên bờ sông đều có nghĩa vụ đắp đê. Thế là toàn thể nam nữ giáo viên trường PTC3 Việt Trì, do Hiệu trưởng Đạm dẫn đầu, mang theo cuốc, xẻng, mai, thuổng và quang gánh tập trung tại một đoạn đê sông Lô thuộc xã Lâu Thượng để tiến hành bồi đắp. Công việc đào đất, khiêng đất, gánh đất đắp bờ ở đây khiến tôi nhớ lại những ngày tháng lao động ở Công trường Muối Đồ Sơn 8 năm về trước. Qua niềm vui lao động, phát hiện bạn đồng nghiệp Phạm Thị Chi vừa có tâm hồn văn chương lại vừa có khả năng gánh đất rất dẻo dai, nên tôi hay gần gũi trò chuyện với cô ấy. Thấy vậy, anh Quỳnh đùa: “Cô Chi có thích chú Quốc thì để anh làm mối cho!”. Chi cười bẽn lẽn: “Hai chúng em đã có gì đâu anh!” (quả thực là tôi cũng không có ý gì với Chi ngoài tình bạn đồng nghiệp).

 Sau một ngày lao động mệt mỏi trở về nhà cụ Cử Khương, tôi bỗng thấy cậu học trò Dương Lâm (em ruột Dương Thị Tơ) đến gặp mình và trao cho tôi bức thư tay của chị cậu ấy, trong đó viết rằng em đã về nhà và mong được gặp  thầy. Một tin vui bất ngờ!

Chiều hôm sau, cơm nước tắm rửa sạch sẽ xong, tôi mặc áo sơ mi pô-pơ-lin trắng với chiếc quần ka-ki pha ni lông màu xi măng mới may, nhảy lên xe đạp “sputnik” phóng thẳng về thành phố Việt Trì để đến nhà ông Dương Văn Tái - Trưởng xưởng Xẻ gỗ Việt Trì, thân sinh của Dương Thị Tơ. Cha mẹ Tơ đón tiếp tôi vui vẻ thân tình như ngày nào em còn là học trò của tôi. Còn em tiếp tôi ở nhà trong bộ quần đen áo cổ lá sen và mái tóc tết đuôi sam quen thuộc, mà không mặc váy áo kiểu Nga như các lưu học sinh thường dùng. Tuy vậy, tôi thấy em đẹp hơn sau 2 năm du học với nước da trằng trẻo và thân hình cũng đầy đặn hơn trước; chỉ cặp mắt sáng thông minh là không thay đổi.

 Sau vài tuần trà nước hàn huyện, tôi đưa Tơ đi thăm thú cảnh cũ người xưa với sự vui vẻ đồng tình của cha mẹ em. Lần đầu tiên đèo Tơ trên xe đạp như một người bạn gái cùng đi dạo phố với mình, tôi cảm thấy lâng lâng hạnh phúc. Việt Trì buổi tối không có nhiều chỗ vui chơi giải trí: chẳng có công viên với ghế đá vườn hoa, các cửa hàng mậu dịch ăn uống thì đã đóng cửa và rạp chiếu bóng Long Châu Sa cũng ngừng hoạt động từ khi Mỹ ném bom trở lại miền Bắc. Không thể đi mãi trên quốc lộ số 2 dưới ánh đèn đường, tôi đưa em vào sân vận động thành phố lúc này đang vắng lặng, để có chỗ ngồi tâm sự dưới trăng thanh gió mát. Dựng xe đạp bên khung gỗ cầu môn, em và tôi ngồi bên nhau trên guốc dép của mình, kể cho nhau nghe rất nhiều chuyện đã lắng đọng trong mình suốt 2 năm qua. Tơ cho tôi biết “Phương Đông học” là ngành học rất thú vị, nhưng em gặp khó khăn khi phải học tiếng A Rập - một ngôn ngữ rất xa lạ với tiếng Việt. Rồi Tơ kể về Hùng ở bên đó cho tôi biết. Theo em, anh Hùng luôn được bạn bè quý mến, nhưng anh thường theo phe của người nào biết lôi kéo mình, mà không nhận rõ lẽ phải thuộc về ai. Giờ đây, Hùng kết thân với con gái đồng chí Lê Duẩn là Lê Vũ Anh (đang học đại học ở Matxcơva) và hai người đã cùng nhau đi chơi trong dịp hè này. Tôi cũng cho Tơ biết rằng em Dương Lâm học hành chăm chỉ, mặc dù không giỏi bằng chị, nhưng cũng có kiến thức vững vàng. Hai chúng tôi cũng nói về tình cảm sâu nặng dành cho nhau, nhưng chưa dám dùng từ “yêu” và cũng không dám hôn nhau. Xem đồng hồ thấy đã quá chín rưỡi tối, tôi dắt tay em đứng dậy để lấy xe đưa em về nhà, rồi lại một mình đạp xe về Lâu Thượng.

 Trong thời gian Tơ nghỉ ở nhà, tôi còn được vài lần đi chơi và tâm sự với em như vậy nữa. Cho đến trước ngày em hết hạn nghỉ hè, tôi đã được mời đến nhà để dùng cơm với em cùng cả gia đình. Đó là lần đầu tiên tôi được ăn tiệc của một gia đình thuộc thành phần “giai cấp công nhân” với những món ăn dân dã không chút cầu kỳ: thịt lợn luộc chấm mắm tép, cá chép nấu riêu với dưa chua, đậu phụ rán chấm nước mắm hành, ốc nấu “giả ba ba” với chuối xanh và thịt ba chỉ… Không khí gia đình thân mật ấm cúng giúp bữa ăn thêm ngon miệng.

 Tiễn em ra ga lên tàu để trở lại Liên Xô tiếp tục học tập, tôi cùng em ước hẹn về một cuộc tái ngộ trong tương lai. Nhưng rồi những biến chuyển của tình hình sau đó đã khiến cho lời hẹn ước của hai chúng tôi không trở thành sự thật. Dù vậy, hình ảnh Dương Thị Tơ vẫn luôn đẹp mãi trong trái tim tôi.

 

 Hoàn thành xong nghĩa vụ đắp đê, chúng tôi không được nghỉ hè mà chuyển sang một đợt lao động mới để xây dựng trường tại khu sơ tán mới. Dời khỏi Lâu Thượng, chúng tôi trở lại xã Dữu Lâu, nhưng không về nơi cũ Bảo Đà, mà lần này trú đóng tại thôn Hương Trầm. Để đủ chỗ học cho 16 lớp học sáng-chiều, chúng tôi phải dựng 8 phòng học tranh-tre-nứa-lá nửa nổi nửa chìm trên các quả đồi đất đỏ rất rắn mà phải đào hệ thống giao thông hào chằng chịt với những hầm chữ “A” kiên cố. Một khu tập thể với mái lá vách nan tre nền đất cũng được dựng lên cùng bếp ăn tập thể kèm theo nó. Được phân một phòng ở đầu hồi một dãy nhà, tôi đào một hố tăng sê bên chái nhà và trồng mấy bụi sả bên miệng hố để ngăn những con rắn xâm nhập vào hố (loài rắn rất kỵ mùi sả).

 Sống ở vùng đồi hoang sơ này, chiếc đèn pin bóp tay của tôi phát huy tác dụng rất tốt (học theo nó, anh Lê Diên Cố dùng bình điện xe đạp cũng chế ra được chiếc đèn pin phát sáng bằng cần kéo tay để sử dụng khá thuận tiện). Ở quanh đất Hương Trầm này, các loài chim rừng bay về khá nhiều để có thể thỏa mãn thú vui săn bắn của anh Đạm và tôi.

 Một đêm tháng 8-1972 tôi nằm mơ thấy một đám cưới rất đông vui. Sáng hôm sau tỉnh dậy, theo kinh nghiệm giải mộng về “sinh dữ tử lành”, tôi suy đoán rằng đám cưới sẽ dẫn đến việc sinh đẻ, nên giấc mộng đêm qua đã báo hiệu một tin dữ sắp đến với mình. Quả nhiên chỉ một lát sau tin dữ đã ập đến dưới dạng từng đoàn máy bay Mỹ gầm rú trên trời. Kẻng báo động vang lên, toàn thể giáo viên trong trường hốt hoảng chạy ra giao thông hào và chui vào hầm trú ẩn. Hàng loạt tiếng nổ dậy lên làm rung chuyển đất; nhiều cột khói bốc cao phía thành phố Việt Trì. Ngay chiều hôm đó, chúng tôi đã biết tin thành phố bị oanh tạc, nhiều nhà máy đã bị tàn phá, các sà lan đậu trên sông bị đánh chìm, và cầu Việt Trì một lần nữa lại gãy đổ vì bom Mỹ. Chưa biết có bao nhiêu người chết và bị thương trong cuộc oanh tạc này; nhưng thầy trò trường tôi vẫn bình yên tại nơi sơ tán.

 

Khi ấy cũng là lúc chiến sự trên chiến trường miền Nam trở nên ác liệt đến tột đỉnh. Hiểu rõ rằng thành quả trên chiến trường sẽ quyết định kết quả trên bàn đàm phán tại hội nghị Paris, cả VNCH (có Mỹ yểm trợ) và Việt Nam DCCH (vẫn nhận được viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc) đã dốc hết lực lượng vào các trận đánh đẫm máu ở miền Nam.

 Ngày 26-6, không quân Mỹ cho máy bay B52 ném bom rải thảm xuống thị xã Quảng Trị; hai ngày sau, dưới quyền trung tướng Ngô Quang Trưởng, Quân lực VNCH vượt sông Mỹ Chánh bắt đầu chiến dịch phản công tái chiếm Quảng Trị bằng lực lượng 30.000 quân của sư đoàn Dù (gồm 3 lữ đoàn), sư đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC-gồm 3 lữ đoàn), liên đoàn Biệt động quân và 2 binh đoàn thiết giáp; có sự hỗ trợ của 2 sư đoàn bộ binh thuộc quân đoàn I. Với sự phối hợp và yểm trợ tối đa của không quân và pháo binh Mỹ, Quân lực VNCH đặt kế hoạch giành lại Quảng Trị trong vòng nửa tháng trước 13-7 (là ngày sẽ họp lại Hội nghị Paris).

 Tuy nhiên, sức kháng cự kiên cường của Quân đội NDVN với lực lượng chủ yếu của sư đoàn 320B (sau chuyển thành sư đoàn 390) và sư đoàn 325 với sự phối hợp của các sư đoàn 304, 308, 312 và 320 không cho phép quân địch hoàn thành kế hoạch đó. Thị xã tan nát dưới hỏa lực của Hoa Kỳ, Quân đội NDVN tập trung phòng thủ trong khu thành cổ Quảng Trị có diện tích 3 cây số vuông và giữ vững trận địa của mình tại đây trong 81 ngày đêm (từ 28-6 đến 16-9-1972). Trong suốt thời gian đó, 120.000 tấn bom (có sức nổ gấp 7 lần quả bom nguyên tử thả xuống Hirshima trong chiến tranh thế giới) đã trút xuống thị xã Quảng Trị  cùng với 1,6 triệu viên đạn đại bác các cỡ oanh tạc tập trung vào khu thành cổ; tính trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng chịu 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Được sự yểm trợ hỏa lực khủng khiếp như vậy, Quân lực VNCH đã mở 6 cuộc tấn công ác liệt của quân Dù và TQLC, nhưng tất cả đều bị đánh bật ra với xác chết của cả quân Bắc và quân Nam nằm la liệt khắp nơi. Bức ảnh “Nụ cười bên thành cổ” của Đoàn Công Tính lan truyền trên báo chí cho thấy chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Quân đội NDVN, nhưng thực tế phía sau ảnh đó lại là bi kịch khủng khiếp của chiến trường khiến lương tâm con người phải khóc. Mỗi đêm có 1 đại đội tân binh (khoảng 100 người) từ miền Bắc vào, vượt sông Thạch Hãn dưới mưa bom bão đạn để tiếp viện quân số cho thành cổ; nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn vài người sống sót. Cứ xoay vòng như vậy trong hai tháng rưỡi mà mỗi mét vuông thành cổ trở thành một mét máu. Trung tướng Lê Tự Đồng - tư lệnh mặt trận Quảng Trị Quân đội NDVN ghi nhận: các sư đoàn và trung đoàn tham chiến ở đây đã bị tổn thất quá nửa quân số. Một thống kê cho thấy số chiến sĩ hy sinh là 8.135 người, số bị thương và mất tích nhiều không kể xiết; riêng trung đoàn 27 (sư đoàn 320B) với 1500 quân trú đóng lâu ngày tại thành cổ, sau cùng chỉ còn vài ba người thoát khỏi nơi đây cùng trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu (sau này trở thành Thượng tướng-Thứ trưởng Bộ Quốc phòng).

 Cho đến ngày 12-9, sau khi phái đoàn Mỹ buộc phải thừa nhận Chính phủ CMLTCHMNVN có tư cách ngang hàng với Chính phủ VNCH tại Hội nghị Paris và cam kết sẽ rút hết quân đội Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam, Quân đội NDVN mới được lệnh rút khỏi thành cổ. Nhờ đó, sư đoàn TQLC của chuẩn tướng Bùi Thế Lân đã tiến vào cắm cờ vàng chiến thắng trên thành cổ ngày 16-9-1972 để kết thúc chiến dịch tái chiếm Quảng Trị của Quân lực VNCH. Bị tổn thất 40% lực lượng tham chiến với 7.756 binh sĩ thiệt mạng và hàng chục nghìn người khác bị thương, Quân lực VNCH không đủ sức giành lại phần phía Bắc tỉnh Quảng Trị đã thuộc về Chính phủ CMLTCHMNVN với thị xã Đông Hà là nơi đặt trụ sở.

 Cảm xúc về 81 ngày đêm máu lửa ở thành cổ Quảng Trị, nhà thơ cựu chiến binh Lê Bá Dương viết:

Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.

 

Trường PTC3 Việt Trì đã góp phần xương máu trên chiến trường Quảng Trị 1972 với các liệt sĩ  Lê Văn Thọ, Nguyễn Văn Song, Tạ Thanh Huyền, Đỗ Công Lĩnh… Cựu học sinh PTC3 Việt Trì trở thành sinh viên Đại học Bách khoa là Lê Văn Giao (em ruột anh Lê Văn Long) đã hy sinh tại thành cổ Quảng Trị ngày 9-9-72 ( chỉ 3 ngày trước khi có lệnh rút quân), để lại một tập thơ bị thất lạc và một thi hài không ai tìm thấy được. Trước đó, chàng sinh viên xuất sắc Nguyễn Văn Thạc đã gục ngã để thân xác mình trôi theo dòng Thạch Hãn dưới chân thành cổ, may còn kịp để lại cho đời cuốn nhật ký nổi tiếng với nhan đề “Sống mãi tuổi hai mươi”, trong đó anh đã tiên tri chính xác về ngày kết thúc chiến tranh: 30-4-1975.

 Còn chiến sĩ Nguyễn Đăng Khải hóa ra lại không hy sinh ở Quảng Nam năm 1970 như đồng đội của anh đã tưởng, mà được Quân lực VNCH cứu thương đưa về Sài Gòn điều trị, rồi trả về cuộc sống đời thường nhờ sự cưu mang của gia đình một người bà con miền Bắc di cư vào Nam từ 1954. Trải qua mùa hè đỏ lửa 1972 ở đô thành Sài Gòn, anh bị bắt lính đưa ra chiến trường Quảng Trị chống lại đồng đội cũ “Bắc Việt” của mình. Muốn  thoát khỏi tình thế trớ trêu đó, Nguyễn Đăng Khải đã lấy súng bắn vào đầu tự sát, và để lại cho đời tập thơ “Kiếp dương trần đớn đau” (dưới bút danh “Trà Lý”) như những lời trăng trối về sự phi lý của cuộc chiến Nam-Bắc này:

 

                              Một trăm trứng Âu Cơ sinh ra bốn ngàn năm chém giết

                              Trời Việt Nam vẫn mờ mịt mù sương

                              Giang sơn Việt Nam thành một bãi chiến trường

                              Hai chiến tuyến cùng da vàng máu đỏ!

 

                              Thế kỷ hai mươi bao người trai đã đổ

                              Để tôn thờ chủ nghĩa ngoại lai

                              Sự cuồng tín họ cần chi nhân loại

                              Ôm Ngoại bang - tình huynh đệ tương tàn!

 

(Trích bài “Bể khổ”, 10-8-1970)

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác