NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - CHƯƠNG BỐN: MÌNH VÌ MỌI NGƯỜI (Phần 5)

( 23-02-2014 - 11:23 AM ) - Lượt xem: 567

“Cú đấm lịch sử” làm vỡ kính đã cho tôi một bài học không thể quên, và tôi nhớ mãi thầy chủ nhiệm Trần Quang Khiết đáng kính.

5. “Ai làm vỡ kính?”

 

Trong khi nhân dân miền Bắc đang tưng bừng phấn khởi theo con đường làm ăn tập thể của Đảng ta để tiến lên CNXH, thì có một tin kinh hoàng được gửi từ miền Nam ra: bè lũ Mỹ-Diệm đã dùng thuốc độc thảm sát hơn một nghìn tù chính trị tại trại tập trung Phú Lợi (tỉnh Thủ Dầu Một) vào ngày 1-12-1958. Cùng với toàn miền Bắc, cả thành phố Hải Phòng xuống đường biểu tình mít tinh phản đối tội ác man rợ này. Hơn 1000 học sinh Ngô Quyền xếp hàng theo từng lớp cùng các thầy cô giáo kéo ra đường giương cao những băng khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ-Diệm giết hại đồng bào ta ở Phú Lợi!”. Một người cầm loa hô to khẩu hiệu đó, cả đoàn thầy trò cùng nắm tay vung lên đồng thanh hô: “ Đả đảo! Đả đảo! Đả đảo!”. Các con đường lớn của thành phố tràn ngập những đoàn biểu tình từ khắp mọi nơi lần lượt đổ về sân vận động Lạch Tray. Đứng trong đoàn của mình, tôi đặc biệt chú ý đến những đoàn của các trường học sinh miền Nam đóng tại thành phố: nữ sinh các trường số 6, số 8, số 11 và số 13 mặc áo bông xanh quần đen, trên đầu chít khăn tang trắng vừa hô khẩu hiệu lại vừa khóc; nam sinh các trường số 19, 21 và 24 cũng mặc áo bông dài lụng thụng, đeo băng tang đen mà xắn tay áo vung lên rất mạnh và hô khẩu hiệu rất to. Cả một biển người với băng cờ khẩu hiệu và rất nhiều tranh cổ động đã tham gia cuộc mít tinh phản đối vụ thảm sát Phú Lợi. Báo chí và đài phát thanh liên tục truyền đi bức công hàm của chính phủ cùng tuyên bố của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vụ thảm sát này. Các tác phẩm văn nghệ tố cáo tội ác Mỹ-Diệm trong vụ Phú Lợi được liên tục tuyên truyền. Mấy hôm sau, trong giờ nhạc của thầy Nguyễn Ngô Kim, chúng tôi được học bài hát mà thầy vừa sáng tác:

 

Hướng về phương Nam, bao tâm hồn uất ức,

Bao nấm mồ hờn oán.

Đây Phú Lợi đau thương, bao linh hồn oan ức,

Bao nấm mồ oán hờn.

Loài giặc kia quá ác tham, Mỹ-Diệm kia quá dã man

Đời đời nhân dân ta không quên.

Mối thù này phải được trả, hãy đứng lên, vùng đứng lên

Ta quét sạch loài gian tham kia!

 

Rồi bài thơ “Thù muôn đời muôn kiếp không tan” của Tố Hữu được in nhanh và phát hành rộng rãi. Trong giờ Việt văn, chúng tôi đã được học bài thơ hết sức xúc động này:

 

Đồng bào ơi, anh chị em ơi!

Hỡi lương tâm tất cả loài người

Hãy nghe tiếng của nghìn người bị giết

Không sống nữa, nhưng không chịu chết

Nghìn hồn oan bay khắp nhân gian

Thù muôn đời, muôn kiếp không tan.

 

Chỉ vào mặt những kẻ thủ ác, tác giả cảnh cáo:

 

Và chúng bay, bầy Mỹ-Diệm giết người

Hãy nghe đây, chúng ta nói một lời.

Hãy nghe tiếng của những người đã sống:

Những thuốc độc, xiềng gông, gươm súng

Đã giết ta, sẽ giết lại loài bay

Bão ngày mai là gió nổi hôm nay!

Trời chớp giật, tất đến ngày sét đánh!

 

Thật không ngờ lời cảnh cáo này chưa đầy 5 năm sau sẽ trở thành sự thật. Rồi rất nhiều năm sau nữa tôi mới được biết rằng chính từ sau vụ Phú Lợi mà Đảng đã ra nghị quyết mở đầu cho cuộc đấu tranh bằng bạo lực đánh đổ chính quyền miền Nam để thống nhất đất nước.

 

 

Sau Tết nguyên đán Kỷ Hợi, một cuộc đổi tiền đã diễn ra trên toàn miền Bắc vào cuối tháng 2-1959.  Cứ 10 đồng (10đ) tiền cũ thì đổi được 1 xu tiền mới, 100đ cũ được 1 hào mới và 1000đ cũ đổi thành 1đ mới. Cũng như tiền cũ, tất cả các loại xu, hào và đồng của tiền mới đều là tiền giấy. Nếu như mọi khi tôi được má cho tờ 50đ (năm chục) để ăn sáng, thì bây giờ được tờ 5xu và cũng mua được những thứ như mọi khi. Theo tiền mới, lương tháng của ba tôi là 105đ còn của má được 45đ, và cuộc sống của gia đình chúng tôi vẫn bình thường như trước. Tôi rất thích tiền mới vì chúng đẹp hơn tiền cũ, lại có “xu” và “hào” là những đơn vị mới nghe rất hay, giống như tiền ngày xưa khi má còn ở nhà với ông bà ngoại. Nghe người lớn nói chuyện với nhau, tôi biết những nhà giàu có nhiều tiền đã bị thiệt hại, vì tổng số tiền được đổi có giới hạn cụ thể, lại chỉ được lãnh một số trong đó để tiêu, phần còn lại phải gửi ngân hàng và muốn rút ra thì phải làm đơn trình bày lý do để nhà nước duyệt. Mặc dù đã tìm cách nhờ người thân đổi giúp thêm một lượng nào đó, những người giàu vẫn bị mất trắng số tiền cũ còn lại. Từ đó, tôi đã lờ mờ nhận ra rằng cuộc đời mới này không phải dành cho những người giàu có “ăn trắng mặc trơn”, mà là của những người lao động “đổ mồ hôi sôi nước mắt”.

 Mỗi buổi tối được đến Câu lạc bộ Lao Động, tôi hiểu rằng đây chính là nơi vui chơi giải trí của những người lao động. Họ hăng say tham gia mọi trò chơi: chỗ này đánh bi-a, chỗ kia chơi cờ chọc hoặc cờ tướng; và  đông vui nhất là ở chỗ đánh bóng bàn, nơi các đối thủ giao tranh với nhau bằng những đường bóng rất hay với sự cổ vũ nồng nhiệt của khán giả. Chính tại đây, tôi đã được xem những danh thủ bóng bàn hàng đầu của Hải Phòng thi đấu, đặc biệt có nhà vô địch miền Bắc Trần Vũ Phấy cầm vợt ngang với lối đánh công thủ toàn diện rồi thỉnh thoảng lại “gò lỳ”, và danh thủ Lương Mằn Vầy cầm vợt dọc có những quả giật phải cực xoáy buộc đối thủ đỡ bóng bổng lên, rồi dang tay dậm chân vụt bạt tới tấp.

 Từ khi vào học lớp 5,  Hưng không còn chơi thân với tôi nữa, vì cậu ấy có vẻ bị các bạn nữ trong lớp thu hút hơi nhiều. Tôi thường chơi với hai bạn cùng lớp có nhà ở gần trường là Nguyễn Văn Khánh và Phạm Đình Thịnh. Khánh sống với mẹ trong căn nhà nhỏ tại một ngõ hẻm sau lưng rạp Cathay. Còn Thịnh là con của chủ hiệu may Đình Khải ở ngay mặt tiền phố Trần Phú. Bố Thịnh vừa là chủ vừa là thợ cắt may, hai con gái lớn của ông là chị Nga và chị Tuyết là thợ chính giúp việc cho bố. Thịnh học rất giỏi, thường đứng nhất lớp về toán nên luôn được thầy yêu bạn mến. Khánh học cũng khá, nhưng tính tình hiếu động nên rất hay nghịch ngợm.

 Khi trường phát động thi vẽ để chọn tác phẩm gửi đi dự một kỳ thi tranh thiếu nhi quốc tế, Khánh và tôi rủ nhau mang giấy, bảng, bút, màu ra bến Bính để vẽ cảnh tàu thuyền sông nước. Thấy tranh của tôi đẹp hơn, Khánh đòi tôi cho cậu ấy tờ giấy khác để vẽ lại. Nhưng tôi không có sẵn giấy cho cậu ấy, thế là Khánh có vẻ giận. Buổi chiều đến lớp, Khánh liên tục trêu tôi. Vào giờ chơi, khi thầy vừa ra khỏi lớp, Khánh đột nhiên véo tai tôi rồi chạy ra hành lang, áp mặt vào ô cửa kính từ bên ngoài nhìn tôi khiêu khích. Đang ngồi trong lớp, tôi tức quá chạy đến đấm ngay vào ô cửa kính ấy từ bên trong, không ngờ kính bị vỡ. Vào giờ học, thầy chủ nhiệm nghiêm nghị hỏi: “Ai làm vỡ kính?”. Tôi im lặng đứng dậy cúi đầu nhận lỗi. Thầy hỏi tiếp: “Tại sao?”, tôi kể lại chính xác sự việc. Thầy hỏi Khánh: “ Bạn Quốc nói có đúng không?”. Khánh đứng dậy xác nhận: “Dạ, đúng!”. Thầy liền phân xử: “ Khánh trêu bạn là sai, lần sau không được làm như vậy nữa. Quốc làm vỡ kính của trường thì phải bồi thường và rút kinh nghiệm”. Thầy viết một bức thư cho vào phong bì ghi tên người nhận là ba tôi, rồi trao cho tôi mang về gửi ba. Trong thư, thầy kể lại sự việc và đề nghị “ông Lê Văn Nguơn” giúp con trai bồi thường tấm kính cho trường. Khi ấy, thầy biết rõ ba tôi nguyên là hiệu trưởng, hiện là phó giám đốc sở, tức là cấp trên đầy quyền lực của mình. Nhưng thầy vẫn giải quyết sự việc với ba tôi như với bất cứ một phụ huynh học sinh nào khác. Đọc thư xong, ba bảo tôi: “ Con phải nhớ rằng hành động thiếu suy nghĩ bao giờ cũng gây ra những hậu quả không tốt!”, rồi ba lập tức viết thư xin lỗi thầy và nhà trường về trường hợp vi phạm của “cháu Lê Vinh Quốc”, hứa sẽ giáo dục cháu và bồi thường đầy đủ cho trường. Hôm sau, khi tôi vừa trao bức thư của ba gửi thầy chủ nhiệm, thì có một người thợ đến lớp lắp một tấm kính mới thay cho tấm bị vỡ. Người thợ cho biết rằng ba tôi đã trả đủ tiền cho ông ấy. “Cú đấm lịch sử” làm vỡ kính đã cho tôi một bài học không thể quên, và tôi nhớ mãi thầy chủ nhiệm Trần Quang Khiết đáng kính.

 

 

Từ học kỳ II, môn Việt văn ở lớp tôi do thầy Đoan giảng dạy thay cho cô Ngọc Hoàn lên Hà Nội học nâng cao trình độ chuyên môn. Khi thầy yêu cầu lớp đặt một câu có hai từ đồng âm khác nghĩa, Nguyễn Trần Yến nhanh nhảu giơ tay phát biểu:  “Chết một cách hy sinh”. Cả lớp cười ồ vì đó là một câu vô nghĩa mà trái với yêu cầu của thầy, thế là câu ấy trở thành biệt danh của Yến. Khi dạy bài “Ông giáo già” viết về một ông thầy dạy lịch sử và học trò cũ của ông ở Liên Xô trong thời gian chiến tranh chống phát xít Đức, thầy Đoan cho học sinh đóng các vai trong bài đó. Thịnh được chọn đóng vai ông giáo, còn tôi là viên phi công đến tìm gặp ông vào một buổi chiều đông tuyết rơi trắng xóa. Tôi hắng giọng:

 

 -Thưa cụ, cụ có phải là cụ Ivan Ivanôvích, giáo sư sử học không ạ?

 

Thịnh lấy giọng ồm ồm của người già:

 

-Vâng, chính tôi đây. Đồng chí cần gặp tôi có việc gì?

 

- Tôi là Ooclốp, phi công chiến đấu, là bạn thân của phi công Vaxia, học trò cũ của cụ…

 

 - Vâng, tôi vẫn nhớ Vaxia, chắc hẳn anh ấy vẫn mạnh khỏe?

 

 - Thưa cụ, Vaxia đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu. Trước lúc qua đời, Vaxia đã nhờ tôi gửi tặng cụ chiếc đồng hồ của anh ấy, để cảm ơn thầy đã dạy cho mình tình yêu Tổ quốc và lòng dũng cảm chiến đấu chống quân xâm lược.

 

 Nói xong, tôi lục ngăn bàn lấy ra một cục tẩy để giả làm chiếc đồng hồ trao cho Thịnh, khiến cả lớp cười ồ! Thầy nhận xét: hai em đã trình diễn khá, nhưng động tác cuối cùng của Quốc đã biến một câu chuyện cảm động thành ra hài hước. Rồi thầy giảng cho chúng tôi về ý nghĩa sâu sắc của câu chuyện và sứ mệnh vẻ vang của người thầy dạy lịch sử. Từ đó, các bạn trong lớp gọi tôi là “Ooc Lốp”; và tôi cũng nghĩ rất có thể sau này mình sẽ trở thành một phi công lái máy bay. Không ai ngờ được rằng trong tương lai tôi sẽ trở thành một giáo viên dạy lịch sử.

 Khi hoa phượng nở đỏ rực sân trường cùng tiếng ve sầu kêu điếc cả tai, chúng tôi kết thúc năm học bằng một tối liên hoan văn nghệ ngay tại phòng học của lớp 5A. Tấm phông vải màu xanh đậm căng trên tường trang trí cho buổi trình diễn, có hình trái đất, mặt trời và một quả vệ tinh nhân tạo bay giữa các vì tinh tú, do chính tôi thiết kế. Trong số các tiết mục được trình bày, tôi đặc biệt chú ý 2 bài hát Liên Xô do Lũng Hà và Thanh Lê song ca với nhan đề “Chiều Hải cảng” và “Có một thiếu niên thành Lêningrat”. Hai bạn hát bè thật hay và tôi dán mắt vào Lê như để nuốt từng lời ca của cô bạn xinh đẹp đáng yêu ấy. Buổi liên hoan kết thúc bằng bản hợp ca “ Mùa gặt bên sông Cubăng”, một ca khúc nồng nhiệt sôi nổi cũng của Liên Xô miêu tả cảnh thi đua lao động hăng say của các thành viên nông trang tập thể trong ngày mùa, do thầy Kim dạy và trực tiếp chỉ huy.

 Tôi thật say sưa với buổi liên hoan văn nghệ ấy, và rất phấn khởi khi nghe các bạn trầm trồ về những họa tiết của mình trên tấm phông trang trí. Nhưng khi giở học bạ ra xem điểm tổng kết các môn, tôi mới thấy kết quả học tập của mình chỉ ở hạng trung bình khá: Việt văn: 4, lịch sử: 4, địa lý: 4, Nga văn: 4, toán: 3, vật lý: 3, sinh vật: 3, nhạc: 4, vẽ: 5. Nếu so với các bạn đứng đầu lớp như Phạm Đình Thịnh hay Phạm Lũng Hà thì tôi còn kém khá xa: họ chỉ kém tôi về vẽ, còn những môn mà tôi được 3 thì họ toàn điểm 5.

 

 

Những ngày nghỉ hè thoải mái đến với chúng tôi cùng với tin vui: gia đình bác Khâm và anh Tín từ Hà Nội chuyển về Hải Phòng sinh sống. Sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động tại Yên Bái, anh Tín về Hà Nội ở với mẹ cùng vợ con nhưng không có việc làm, phải kiếm sống bằng nghề đánh máy thuê. Hoàn cảnh kinh tế gia đình eo hẹp, lại thêm quan hệ giữa mẹ chồng với nàng dâu ngày càng căng thẳng, khiến chị Phi Nga quyết định ly dị chồng và dứt áo ra đi. Ba tôi thương gia đình anh Tín nên đã xin cho anh được về Hải Phòng dạy học tại trường phổ thông cấp II Trần Phú ở đường phố cùng tên. Rất may là anh đã kiếm được một chỗ ở xinh xắn tại phố Trần Phú, vốn là một ki ốt bán hàng bên bờ sông Lấp được đánh số là “Lô 25”, để đưa mẹ và cậu con trai mới 2 tuổi về ở đó. Thế là gia đình tôi có thêm những người bà con họ hàng tại thành phố này. Chẳng bao lâu sau, anh Tín cưới vợ mới là chị Dung, một phụ nữ góa chồng còn khá trẻ đẹp, rất đảm đang và đã có cậu con riêng tên là Minh cùng tuổi với Lục Đình Thi con anh Tín. Hai anh chị coi con riêng như con chung, cho cháu Minh lấy họ của anh và gia đình sống rất hòa thuận.

 Sau ngày anh Tín cưới chị Dung thì gia đình tôi cũng được rời khỏi trường Ngô Quyền để về nơi ở mới của Sở Giáo Dục tại nhà số 27 phố Lữ Gia, một phố nhỏ khá yên tĩnh thuộc khu Hồng Bàng. Trong lúc chúng tôi đang khiêng vác đồ đạc lên ô tô để chuyển về nhà mới, bạn Loan đến thăm và lập tức xắn tay áo lên phụ giúp mọi việc. Loan còn theo xe đến nhà mới để cùng chúng tôi sắp xếp đồ đạc tại đây. Lúc chia tay, Loan bảo tôi rằng “Hai đứa mình vẫn chơi với nhau nhé!”; tôi đáp: “Nhất định rồi!”. Vậy mà từ đó tôi không còn được gặp lại Loan nữa, mặc dù vẫn nhớ mãi người bạn tốt bụng và hiền hậu ấy.

 Nhà mới của chúng tôi ở trong một biệt thự hai tầng xinh xắn hướng nam, xây theo kiểu Pháp có mái ngói dốc, tọa lạc tại góc một ngã ba đường nơi tận cùng của phố Lữ Gia nối vào phố Trần Thành Ngọ. Khuôn viên nhà có tường gạch bao quanh tạo thành một hình vuông khá rộng, mở ra đường bằng một cổng chính và một cổng phụ với những cánh cổng được ghép giản dị bằng những thanh gỗ để có thể nhìn từ trong ra ngoài. Từ hè đường phố Lữ Gia  đi qua cổng chính sẽ bước ngay vào một cái sân rộng tráng xi măng. Ngôi nhà nằm bên trái sân này và gia đình ông Phó Giám Đốc Sở tức ba tôi ở tầng dưới của nó, gồm có 2 phòng lớn được dùng làm phòng ngủ và phòng khách thông với nhau qua một gian tiền sảnh, tất cả đều lát gạch hoa. Phòng ngủ rộng 25 mét vuông có chiếc lò sưởi kiểu châu Âu ở vách tường. Bên trong phòng này phía gầm cầu thang có một buồng nhỏ nền tráng xi măng vốn là phòng tắm có chậu xí máy, nhưng nay không dùng được nữa vì không còn đường dẫn nước vào (và chậu xí  đã được thay bằng một nhà vệ sinh với hố xí thùng được xây ở một góc khuôn viên), nên tôi kê chiếc giường nhỏ làm chỗ ở cho riêng mình. Phòng khách rộng tương đương phòng ngủ, chỉ kê một bộ salon cũ bằng gỗ tạp rẻ tiền và một tủ sách của ba. Thỉnh thoảng phòng này lại biến thành nhà kho chứa áo bông và quần áo may sẵn để Sở Giáo Dục cấp phát cho học sinh miền Nam. Một cầu thang gỗ dẫn lên tầng trên của ngôi nhà có sàn cũng được lát gỗ. Căn phòng lớn ở tầng này kê nhiều giường cá nhân để làm nhà khách tập thể của Sở. Hai bên phòng lớn đó có 2 phòng nhỏ, một là chỗ ở của bác Ngô Văn Chương- một cán bộ miền Nam tập kết đồng hương Bến Tre của ba tôi hiện giữ chức trưởng phòng Giáo dục Phổ thông, và một là của bác Nguyễn Năng- cũng là cán bộ miền Nam tập kết từ quê hương Quảng Nam  hiện giữ chức trưởng phòng Quản trị cùng ở với chị Hương là con gái bác. Bác Chương nhận một nữ học sinh miền Nam là chị Nhĩ làm con nuôi, chủ nhật nào chị ấy cũng đến thăm và ăn cơm cùng bác. (Quan hệ giữa bác Chương với chị Nhĩ có những sự bí ẩn mà rất nhiều năm sau chúng tôi mới biết). Phía sau ngôi nhà có một căn nhà phụ với  bức tường lửng ngăn thành hai gian, một gian bếp và một gian là nhà tắm có chiếc vòi hoa sen và một vòi nước máy; khoảng giữa gian bếp với ngôi nhà chính còn có một bể nước lớn hình chữ nhật cũng gắn vòi nước máy. Cả bếp, nhà tắm và bể nước đều được dùng chung cho tất cả mọi người trong nhà. Bên phải sân là một mảnh vườn nhiều cây cỏ mọc, mà nổi bật là một cây xoan mảnh khảnh với những chùm hoa tím nhạt và một cây phượng còn non nhưng đã nở mấy chùm hoa đỏ ở sát chân bức tường phía sau khuôn viên. Kế tiếp mảnh vườn là một gò đất cao áp sát bức tường phía phố Trần Thành Ngọ. Gò này được hình thành do rất nhiều đất phủ lên nóc một chiếc hầm trú ẩn cũ kỹ và ẩm mốc nhưng rộng như một căn phòng hình chữ nhật, được xây bằng gạch và bê tông từ rất lâu, có 2 cửa ra vào ở hai đầu và 2 lỗ thông hơi trên đỉnh. Cây cỏ cũng mọc nhiều trên gò đất, nhưng thú vị nhất là một cây nhãn cổ thụ rất sai quả đứng bên cạnh miệng hầm gần bức tường phía phố Lữ Gia, tỏa bóng mát trên cả một góc khuôn viên.

 Cửa chính vào nhà tôi hướng thẳng ra chiếc cổng phụ và cách cổng đó khoảng 2m. Ở các đoạn tường hai bên cổng phụ có hai bồn cây chạy dài trồng hoa nhài và một số cây cảnh khác. Đoạn vỉa hè ngay trước cổng này có một cây được gọi là “bồ kết dại” thường nở từng chùm hoa màu trắng phơn phớt tím, với những cánh hoa mảnh như sợi chỉ trông khá đẹp nhưng mùi hương tỏa ra rất hắc lan tỏa cả vào nhà.

Các Bài viết khác