NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - CHƯƠNG BỐN: MÌNH VÌ MỌI NGƯỜI (Phần 4))

( 14-02-2014 - 07:46 PM ) - Lượt xem: 598

Trong một giờ sinh hoạt tập thể, thầy chủ nhiệm phổ biến rằng lớp ta phải làm “Kế hoạch nhỏ” để góp phần xây dựng đất nước. Theo sự chỉ dẫn của thầy, chúng tôi đua nhau đi tìm nhặt báo cũ và giấy loại bỏ, chai lọ thủy tinh và ống bơ sữa bò… mang đến lớp gom vào một đống để nộp lên trường. Nghe nói rằng các thứ này sẽ được tận dụng hoặc bán lấy tiền để xây dựng một nhà máy sản xuất đồ chơi và đồ dùng cho thiếu nhi

 4. Kế hoạch nhỏ

 

Học cấp II phải cố gắng rất nhiều, nhưng tôi lại cảm thấy thú vị hơn so với cấp I. Tôi rất thích khi được học Nga văn với một cuốn sách giáo khoa do Liên Xô biên soạn cho học sinh Việt Nam có rất nhiều tranh ảnh và được đóng bìa cứng màu nâu. Ngay cả cách chấm điểm các môn học theo 5 bậc như nhà trường Liên Xô (điểm 5 là giỏi, 4- khá, 3- trung bình, 2-yếu và 1 là kém) tôi cũng thấy hay. Lớp tôi có 12 bộ bàn ghế (mỗi bộ cho 4 người ngồi) xếp thành hai dãy song song nhìn lên bảng. Thầy chủ nhiệm chia lớp thành 6 tổ, mỗi tổ gồm các học sinh thuộc hai bàn kế tiếp nhau. Tôi ngồi ngay bàn đầu của dãy phía trong phòng học, nên thuộc về tổ 6 do Đỗ Văn Hoan làm tổ trưởng. Thầy làm những lá cờ nhỏ hình tam giác có cán để phát động thi đua học tập giữa các tổ với nhau: tổ nào học tốt được cắm cờ đỏ ở đầu bàn, tổ trung bình cắm cờ xanh và cờ trắng cho tổ yếu kém. Ra sức thi đua  “bỏ cờ trắng, thắng cờ xanh, giành cờ đỏ”, chúng tôi cảm thấy vui như một trò chơi mà chưa hiểu rằng đó là sáng kiến của thầy chủ nhiệm để giáo dục “tinh thần tập thể” cho học sinh cố gắng học tấp. Lớp học có những lá cờ màu sắc như vậy cắm ở đầu bàn trông cũng vui mắt, khiến các giáo viên bộ môn ngạc nhiên. Một hôm, thầy Đoan-một giáo viên “lưu dụng” vào lớp giảng bài trong giờ thời sự. Thầy trố mắt ngạc nhiên nhìn những lá cờ và hỏi về sự tích của chúng. Sau khi được nghe lớp trưởng giải thích, thầy gật gù: “ Hay quá nhỉ, thật là một sự việc mà tôi chưa từng thấy!”. Hôm ấy thầy treo một tấm bản đồ Trung Quốc trên bảng để giảng về tình hình căng thẳng ở eo biển Đài Loan: quân đội Trung Quốc dùng trọng pháo bắn phá dữ dội các đảo Kim Môn, Mã Tổ và Bành Hồ do quân đội Đài loan trú đóng, không quân hai bên cũng giao chiến trên trời và Hạm đội 7 của Mỹ tiến vào eo biển để bảo vệ Đài Loan chống Trung Quốc. Thầy hỏi : “Các con đoán xem bên nào sẽ thắng?”, cả lớp đồng thanh đáp: “Trung Quốc!”. Thầy bảo: “Đúng rồi, cứ nhìn bản đồ cũng biết, Trung Quốc to thế này, còn Đài Loan bé bằng cái móng tay thế kia thì chẳng mấy nỗi mà bị thổi bay!”. Nhưng mãi về sau chúng tôi chưa bao giờ được nghe nói đến việc Trung Quốc của Bác Mao “thổi bay” hòn đảo Đài Loan bé tí của “bè lũ Tưởng Giới Thạch”.

 Tổ trưởng Hoan rất chăm chỉ học nên luôn đạt điểm cao, nhưng đầu bàn cậu ấy lại hay bị cắm cờ trắng, vì trong tổ có nhiều người học yếu lại hay nói chuyện trong giờ học, khiến cho tổ không thể thắng trong thi đua học tập. Tuy nhiên, tổ tôi lại nổi trội ở  một hoạt động khác. Do có học “thực vật” trong chương trình môn sinh vật, học sinh lớp 5 được giao đất trồng trọt trong vườn trường ở phía sau dãy nhà phụ bên phải, gần khu nhà xí và vòi nước máy công cộng. Hai lớp 5A và 5B được chia mỗi lớp một mảnh vườn rộng ngang nhau, lớp lại chia cho mỗi tổ một luống đất, để tổ tự quyết định chọn cây gì để trồng. Có tổ trồng cà chua, có tổ trồng rau cải, rau xà lách hoặc một loại rau khác, riêng tổ tôi quyết định trồng su hào. Không biết các tổ khác chăm sóc luống rau của chúng như thế nào, còn tổ tôi thì gieo trồng, vun xới, tưới nước và bón phân cho luống su hào của mình rất chu đáo theo sự phân công của Hoan. Chúng tôi còn lấy nước tiểu trong khu nhà xí, hòa lẫn với nước máy để tưới cho cây. Kết quả là luống su hào của chúng tôi luôn xanh tốt và ra củ rất đẹp, ở đầu luống còn có một củ to khác thường khiến ai cũng phải trầm trồ. Không một luống rau nào ở cả hai lớp sánh được với luống su hào của tổ 6 lớp 5A!

 

 

Một hôm, cô Ngọc Hoàn ra cho chúng tôi một đề luận: “Em hãy kể về một kỷ niệm sâu sắc trong tuổi thiếu niên của mình”. Có rất nhiều kỷ niệm trong tuổi thiếu niên, nhưng không rõ sự việc nào là sâu sắc, tôi liền kể câu chuyện mới diễn ra chưa lâu mà mình có ấn tượng mạnh mẽ: tôi bất ngờ được gặp lại anh Thùy và chị Thông vừa từ Thanh Hóa ra thăm ba má ngay tại trường Ngô Quyền. Sau một thời gian xa cách rất lâu, tưởng chừng như không bao giờ còn được gặp lại hai người mà tôi rất quý mến ấy nữa, nay bỗng nhiên được gặp lại cả anh và chị, tôi vui mừng khôn xiết và coi đó là một kỷ niệm không thể quên. Tôi hào hứng kể lại tỉ mỉ cuộc gặp gỡ này trong bài làm, nhưng chỉ nhận được điểm 3 khi cô giáo trả bài với lời phê khá dài: “ Văn viết trôi chảy, nhưng câu chuyện không có nhiều ý nghĩa. Nên chọn kể một kỷ niệm có ý nghĩa sâu sắc, thí dụ: được kết nạp Đội…”. Tôi nghĩ đúng là chuyện tình cảm bạn bè của mình không có ý nghĩa sâu sắc bằng chuyện kết nạp Đội, nhưng mình chưa được vào Đội thì kể làm sao được? Ngay khi vừa được vào học lớp 5, tôi đã nhận thấy một số bạn trong lớp được quàng khăn đỏ và tham gia sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong, còn mình và một số bạn khác lại không được như thế. Khi quan sát các đội viên của trường với cả bạn Lê trong đó xếp hàng tập giơ tay lên đầu chào, tập đánh trống thổi kèn…tôi cũng muốn vào Đội để cùng được sinh hoạt với họ, nhưng không có ai chỉ cho mình cách làm như thế nào để được vào.

 Trong một giờ sinh hoạt tập thể, thầy chủ nhiệm phổ biến rằng lớp ta phải làm “Kế hoạch nhỏ” để góp phần xây dựng đất nước. Theo sự chỉ dẫn của thầy, chúng tôi đua nhau đi tìm nhặt báo cũ và giấy loại bỏ, chai lọ thủy tinh và ống bơ sữa bò… mang đến lớp gom vào một đống để nộp lên trường. Nghe nói rằng các thứ này sẽ được tận dụng hoặc bán lấy tiền để xây dựng một nhà máy sản xuất đồ chơi và đồ dùng cho thiếu nhi. Quả nhiên, chỉ ít ngày sau, các học sinh cấp II của trường Ngô Quyền được đưa đi lao động lần lượt mỗi lớp một buổi, để góp phần xây dựng Nhà máy Nhựa Thiếu niên Tiền phong ở ngã tư phố An Đà giao cắt với phố Lạch Tray. Khi đến nơi, tôi thấy đó là một công trường ngổn ngang gạch đá và tre gỗ, có khá đông công nhân đang đào đất để làm móng xây nhà. Nhiệm vụ của chúng tôi là đưa tre gỗ và gạch đá đến những nơi cần thiết để công nhân sử dụng. Nhìn các bạn đeo khăn quàng đỏ xuất hiện trên công trường, tôi nghĩ việc các đội viên thiếu niên tiền phong (TNTP) tham gia lao động để xây dựng nhà máy nhựa mang tên “Thiếu niên Tiền phong” có ý nghĩa thật hay. Là người chưa được quàng khăn đỏ, tôi cảm thấy mình rất vinh dự khi được cùng lao động với các đội viên. Theo sự phân công của thầy chủ nhiệm, các bạn lớn được giao những việc nặng hơn như khiêng vác tre gỗ, còn loại bé như tôi thì đứng thành hàng để chuyền tay nhau từng viên gạch hay hòn đá. Chúng tôi vừa làm vừa đùa nghịch như là một trò chơi, khiến thầy phải luôn luôn nhắc nhở. Tôi sung sướng được đứng tiếp theo Lê trong hàng để nhận gạch đá từ tay bạn ấy và thỉnh thoảng lại nói với nhau vài câu đùa vui. Khi Lê bảo: “Quốc đứng xích lại đây để Lê chuyền cho dễ!”, tôi cảm thấy câu nói ấy chứa chan tình cảm. Kết thúc buổi lao động, chúng tôi đã hiểu rằng, bằng “Kế hoạch nhỏ” và bằng công sức lao động của chính mình, chúng tôi đã góp phần xây dựng đất nước. Khi chúng tôi đi lao động ở bên ngoài thì trong trường cũng có một công trường nhỏ, xây nên ngôi nhà thí nghiệm với tường gạch mái ngói khang trang ngay phía bên phải cổng trường, trong đó có 3 phòng thí nghiệm dành cho 3 môn vật lý, hóa học và sinh vật.

 

 

Khi mùa đông đến với mưa phùn gió bấc mang không khí lạnh tràn về, tại một khoảnh đất ở góc trường ngay gần khu nhà ở giáo viên bỗng xuất hiện một cái lò luyện thép to bằng chiếc thùng phuy đựng xăng và cao bằng bốn thùng đó xếp chồng lên nhau. Chiếc lò này do các anh học sinh cấp III xây dựng và vận hành cho nó đỏ lửa suốt ngày để chế tạo gang thép cho đất nước. Thế rồi lại có một phong trào “Kế hoạch nhỏ” nữa vận động học sinh đi tìm nhặt sắt vụn nộp cho trường để làm nguyên liệu cho lò luyện thép. Nhờ có kinh nghiệm khi tìm kiếm mảnh thủy tinh và giây đồng để bán, tôi đã đóng góp được khá nhiều sắt vụn. Ngoài giờ học, chúng tôi thường đến xem lò này để thỏa trí tò mò mà lại được sưởi ấm. Trông các anh học sinh lớn mặc quần áo xanh, đi ủng cao su, đội mũ có gắn kính che mắt, đeo bao tay để cầm chiếc gậy sắt thông lò, tôi cảm thấy họ giống những người công nhân nước ngoài thường được thấy trong phim. Không ai biết do đâu mà trong trường lại có một lò luyện thép như vậy, nhưng qua báo chí và đài phát thanh, tôi biết rằng ở bên Trung Quốc đang dấy lên một phong trào “Toàn dân làm gang thép” rất rầm rộ. Khắp nông thôn thành thị, trong cơ quan trường học mọi người đua nhau xây dựng các lò luyện thép, để làm cho sản lượng gang thép của nước này vượt qua nước Anh trong khoảng thời gian 15 năm. Chắc rằng Việt Nam cũng muốn tham gia phong trào đó của nước bạn, nên trường tôi mới xuất hiện cái lò ấy.

 Ngoài phong trào “Toàn dân làm gang thép”, bên Trung Quốc còn phát động nhiều phong trào khác hết sức sôi nổi. Sau này tôi mới biết rằng tất cả các phong trào đó đều phục vụ cho kế hoạch “Đại Nhảy Vọt” của Bác Mao để đưa nước Trung Hoa đói nghèo tiến lên thành một cường quốc chỉ trong một thời gian ngắn. Chẳng bao lâu sau, báo chí và đài phát thanh loan tin rằng nhân dân Trung Quốc đang gặt hái những vụ mùa bội thu, nhờ có loại  “lúa vệ tinh” được tạo ra bằng kỹ thuật cấy dầy. Trên các ruộng “lúa vệ tinh”, những cây lúa đeo bông nặng trĩu hạt chín vàng đứng sát vào nhau, đến mức trẻ con chạy nhảy trên cánh đồng lúa chín mà chân không chạm đất và cây vẫn đứng thẳng. Trong một tờ họa báo Trung Quốc in tiếng Việt có bức tranh cổ động vẽ một đồng lúa chin vàng không còn kẽ hở giữa các thân cây, nhiều bó lúa vàng được buộc chặt bằng những dải lụa đỏ bay vút lên bầu trời xanh tựa như vệ tinh nhân tạo của Liên Xô vậy. Từ đó, các cấp lãnh đạo nước ta chỉ dẫn bà con nông dân áp dụng phương pháp cấy dầy tiên tiến của nước bạn để tăng thu hoạch mùa màng. Chương trình ca nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi phát lại bài hát ca ngợi kỹ thuật tân kỳ này, đến mức ai ai cũng thuộc:

 

Nếu ai bảo rằng cấy thưa thì thừa thóc, cấy dầy thì cóc ăn

Chúng tôi bảo rằng cấy thưa thì thừa đất, cấy dầy thì thóc chất đầy kho.

Này chị em ơi, lại đây xem chúng tôi cấy dầy

Cấy dầy thì thóc chất đầy kho…

 

Trong sách Văn Tuyển lớp 5, chúng tôi đã được học câu tục ngữ “cấy thưa thừa thóc, cấy dầy cóc được ăn” mà cô giáo bảo rằng đó là kinh nghiệm quý báu lâu đời của ông cha ta. Nay hóa ra ông cha ta sai bét cả, đời mới phải làm theo kỹ thuật mới thì mới tốt.

 Cùng với phương pháp cấy dầy, một phong trào “ Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật” được phát động trên toàn miền Bắc. Các cấp lãnh đạo vận động nông dân lấy lá cây chôn xuống đất làm “phân xanh” bón ruộng cho tốt lúa. Trẻ chăn bò được chỉ đạo tham gia phong trào “ đi bò vàng về với bò xanh”, nghĩa là khi đi chăn bò (có bộ lông màu vàng) thì nhớ hái thật nhiều lá cây, chất lên lưng bò chở về để làm phân xanh. Phân xanh được dùng kết hợp với “phân chuồng” (tức phân gia súc) thì sẽ tăng chất lượng rất nhiều, nên các trẻ chăn bò còn phải hót phân bò mang về cùng với cây lá. Buổi sáng ra đường mà trông thấy một bãi phân bò (hoặc trâu), dân làng liền bẻ một cành cây cắm ngay vào nó để đánh dấu quyền sở hữu bãi phân, rồi tức tốc chạy về nhà mang dụng cụ ra hót. Lãnh đạo còn vận động nông dân thả nhiều bèo hoa dâu vào ruộng lúa, vì loại bèo này khi chết đi sẽ biến thành phân bón ruộng rất tốt. Việc đó gọi là “bón bèo”, nên đã có cả một bài hát về “ Chị em đi bón bèo” được phát đi phát lại trên đài:

 

Nắng xuân vờn trên nón trên đôi vai

Mấy cô nàng, mấy cô nàng đi bón bèo.

Những cánh bèo xanh thắm dường như khoe tươi với người

Gánh cho đến bên bờ lúa…

 

Thay cho chiếc cày cổ điển được gọi một cách mỉa mai là “cày chìa vôi” theo hình dáng nhỏ gọn của nó, người ta chế ra những chiếc cày cải tiến to hơn và có thể cày sâu hơn, gọi là “cày 51” và “cày 58”. Rồi chiếc guồng đạp nước bằng gỗ được chế tạo để thay cho những chiếc gầu tát nước đan bằng tre mà tổ tiên ta đã dạy rằng “ ruộng cao tát một gầu dai, ruộng thấp thì phải tát hai gầu sòng”. Chính Bác Hồ đã xắn quần ngồi đạp nước trên một chiếc guồng cải tiến như vậy, để lại cho nhân dân ta một bức ảnh đầy ý nghĩa lịch sử.

 Cuối năm 1958, một công trường vĩ đại được mở ra để xây dựng hệ thống Đại thủy nông Bắc-Hưng-Hải. Hàng vạn dân công, công nhân công trường và nhiều đơn vị bộ đội suốt ngày đêm lao động trên công trường này để dẫn nước vào những cánh đồng mênh mông thuộc 3 tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên , Hải Dương và ngoại thành Hà Nội. Sau đó ít lâu, tôi đã được xem cảnh lao động hăng say bằng cuốc xẻng quang gánh với những băng cờ khẩu hiệu cắm trên khắp công trường và thành quả rực rỡ của công trường đó, qua bộ phim thời sự “Nước về Bắc-Hưng-Hải” được tặng huy chương vàng tại Liên hoan phim Matxcơva.

 

 

Khi ấy Đảng và Chính phủ còn vận động nông dân thành lập các “Tổ đổi công” để làm ăn tập thể cho có hiệu quả cao. Vì vậy, bài hát vui nhộn sau đây thường phát trên đài cho nông dân nghe nhưng tôi cũng thuộc:

 

Trên đồi cao có ba cái cây (này!)

Gió (ó o) điên cuồng (là cuồng) gió lay

Vậy mới có câu rằng: một cây (một cây) làm chẳng nên non

Thế mà ba cây (ba cây) chụm lại nó mới nên hòn núi cảo cào cao!

Này (ố ý a) tha hồ cho gió lay.

Vậy nên nhắc dân mình

Rủ nhau (rủ nhau) vào tổ đi thôi

Thế là đổi công , vừa vui vừa lợi

Thôn xóm nghĩa tình tính tỉnh tình tinh!...

 

Thì ra câu tục ngữ “ Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” của ông cha ta lại có tác dụng thuyết phục nông dân làm ăn tập thể theo con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) của Đảng ta. Sau này tôi mới biết rằng “tổ đổi công” là hình thức sơ khai của tập thể hóa nông nghiệp: một số gia đình trong thôn xóm hợp thành một tổ để cùng nhau cày, cấy, găt ,hái…luân phiên trên ruộng đất của từng gia đình. Từ tổ đổi công, người ta phát triển thành các “hợp tác xã” có quy mô toàn thôn rồi lên đến toàn xã, tức là một hình thức tập thể hóa cao hơn: mọi gia đình trong thôn (hoặc xã) góp ruộng đất của mình vào hợp tác xã để làm ăn chung dưới sự lãnh đạo của ban chủ nhiệm do Đảng thành lập. Mọi xã viên không hưởng hoa lợi theo ruộng đất cũ của mình nữa, mà hưởng theo công lao động do ban chủ nhiệm chấm. Khi góp ruộng đất trâu bò vào hợp tác xã, bà con nông dân cảm thấy những gì mà họ được chia trong cải cách ruộng đất thì nay lại bị lấy mất, còn mình thì lại trở thành người làm thuê cho ban chủ nhiệm, nên nhiều người do dự. Đảng kêu gọi họ “suy nghĩ trên luống cày của mình” để lựa chọn giữa hai con đường làm ăn “cá thể” hay “tập thể”. Nhưng những chính sách phân biệt đối xử giữa “nông dân cá thể” với “nông dân tập thể” được Đảng áp dụng đã giúp mọi người nhanh chóng kết thúc sự suy nghĩ để nộp đơn xin vào hợp tác xã. Nhờ đó, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đã thành công rực rỡ.

 Trong khi đó, công cuộc tập thể hóa ở nước bạn Trung Hoa do Bác Mao lãnh đạo còn tiến nhanh hơn nhiều:  nông dân ở đây đã bỏ qua các hợp tác xã mà ồ ạt gia nhập các “Công xã Nhândân”có quy mô hàng vạn dân, trong đó toàn bộ ruộng đất, tài sản, nông cụ…đều là của chung; mọi người cùng lao động theo kế hoạch và hiệu lệnh của cán bộ chỉ huy Công xã do Đảng lãnh đạo, rồi vào bếp tập thể cùng ăn bằng bát sắt theo định lượng bình đẳng, không ai được có phần hơn. Bác Mao còn phát động phong trào “Toàn dân diệt chim sẻ” vì loài chim này ăn hại nhiều thóc lúa. Nông dân Trung Quốc hăng hái tuân lệnh Bác, nên chim sẻ bay đến đâu cũng bị họ xua đuổi và tìm diệt đến tuyệt giống. Rồi phong trào còn được mở rộng để tiêu diệt thêm 3 loài vật có hại nữa là ruồi, muỗi và chuột.  Chẳng biết nước ta có hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Mao  hay không, mà cũng phát động phong trào “Toàn dân diệt ruồi” rất là rầm rộ. Ở trong lớp, chúng tôi được học bài thơ “Vo ve” nói về sự bẩn thỉu và tác hại của loài ruồi:

 

Vo ve trong tiếng vo ve

Của bầy ruồi nhặng ta nghe thấy gì?

Vo ve chúng rủ nhau đi

Tìm ăn những chỗ cực kỳ tanh hôi:

Đống phân thổ tả giữa trời,

Xác con chó thối nằm phơi giữa đồng,

Thây mèo giòi đục bên sông,

Máu người sâu quảng ròng ròng chảy ra…

 

Bài thơ còn dẫn chứng thêm những chỗ ăn bẩn khác của loài ruồi, như “chân người hủi cụt”, “đờm người lao phổi”,  “rãnh bùn, khe cống”, “chuồng tiêu, hố rác”… Tôi không nhớ cô giáo đã phân tích về nghệ thuật của bài này như thế nào, nhưng nó quả thật đã gây ấn tượng rất mạnh, khiến cho người đọc vô cùng ghê tởm và căm ghét loài ruồi. Thế rồi lại có cả một “Bài ca diệt ruồi” vang lên khắp nơi:

 

Loài ruồi kia mang bao chứng bệnh cho ta

Con ruồi nó đây này, ô leo ôi

Kìa chân con ruồi đậu trên cơm canh chúng mình lại ăn!

Diệt trừ cho hết, chúng bay trốn đi đàng nào (này!).

 

Thêm vào đó, các tranh cổ động vẽ những con ruồi chết queo kèm theo khẩu hiệu “Thấy ruồi là đập, tìm ruồi mà diệt!” được dán trên khắp các phố phường. Tích cực hưởng ứng phong trào, học sinh trường tôi phải mang theo vỉ ruồi đi học. Khi thầy chủ nhiệm kiểm tra vỉ ruồi, tổ 6 chúng tôi được khen là mang đầy đủ nhất. Trong một cuộc diệt ruồi ở nơi công cộng, học sinh lớp tôi còn được chụp ảnh đăng trên báo “Hải Phòng Kiến Thiết”.

 Tham gia đập ruồi xong trở về nhà, tôi thấy má đang ngồi trên giường ngắm nghía chiếc áo cộc tay màu cỏ úa của tôi, bên cạnh là hai cái tay dài của nó. Má bảo: “ Má định ráp hai cái tay dài này vào áo để con mặc cho đỡ lạnh. Con xem có được không?”. Tôi thấy chiếc áo vốn màu cỏ úa, do mặc qua mấy tháng trời mà trở nên bạc trắng, trong khi hai cái tay dài vẫn mới nguyên nên màu rất đậm. Nếu tháo tay cụt ra để ráp tay dài vào thì sẽ thành một chiếc áo hai màu. Chưa thấy ai mặc áo hai màu như vậy, tôi cũng không dám mặc nên đành bảo má thôi đừng ráp nữa.  Má cười bảo: “ Không ngờ cái áo của con bạc màu nhanh thế! Để má dùng hai cái tay áo này vào việc khác vậy.”

Các Bài viết khác