NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - CHƯƠNG BỐN: MÌNH VÌ MỌI NGƯỜI (Phần 1)

( 31-01-2014 - 09:39 PM ) - Lượt xem: 600

“Em là con thầy Hiệu trưởng, nên phải chăm học hơn nữa để làm gương cho các bạn khác!”. Nghe lời anh, tôi cũng nhủ thầm là mình sẽ cố gắng học giỏi để xứng đáng là con của ba má. Nhưng các trò chơi vẫn lôi cuốn tôi rất nhiều, mỗi khi có bạn rủ đi chơi thì tôi khó ngồi yên mà học được.

1. Con thầy Hiệu Trưởng

 

Ngay mấy ngày đầu mới đến Hải Phòng, má đã dắt hai anh em tôi đi mua sắm đồ dùng để chuẩn bị cho năm học mới. Tại cửa hàng bán văn phòng phẩm, chúng tôi thấy có hai loại vở học sinh khác nhau: một loại đóng bằng giấy trắng tinh (được gọi là “giấy Mỹ”) và một loại bằng giấy hơi ngả màu vàng (gọi là “giấy Hoàng Văn Thụ”). Má hỏi tôi chọn loại nào? Thấy loại “giấy Mỹ” đắt tiền hơn, tôi sợ má phải chịu tốn nhiều, nên đã chỉ vào loại kia. Má hỏi sao không chọn loại này, tôi đáp gọn: “Con thích loại kia!”. Em Hùng cũng không phản đối, nên má mua cho chúng tôi những cuốn vở bằng giấy Hoàng Văn Thụ. Tại cửa hàng giày dép, má quyết định mua cho chúng tôi mỗi đứa một đôi giày vải “Bata”. Nhưng đa số giày ở đây có cỡ dành cho người lớn, đôi nhỏ nhất thì chật so với chân tôi, nhưng lại rộng với chân em Hùng. Thấy má ngần ngừ, bà bán hàng thuyết phục: “ Phải mua ‘phòng lớn’ bà ạ. Cứ mua giày rộng rồi nhét bông vào mũi giày là các cháu sẽ đi được. Ít lâu nữa lớn lên, chân các cháu sẽ dài ra là vừa khít!”. Nghe có lý, má liền mua hai đôi giày cỡ lớn hơn chân để “phòng lớn”cho hai anh em tôi. Từ tấm bé đến giờ mới có đôi giày đầu tiên của mình, chúng tôi mừng rỡ mang về ngắm nghía mãi mới mang ra dùng. Nhưng chỉ đi được một đoạn là gót chân đã tụt khỏi giày, phải cúi xuống sửa lại mấy lần. Sau đó, tôi nhét thêm rất nhiều bông vào mũi giày, mang hai đôi tất cùng một lúc và xiết chặt dây buộc hết mức, nhưng giày vẫn không chịu bám chắc, lại còn bay ra khỏi chân khi sút bóng. Chúng tôi đành cất giày đi để chờ khi nào mình lớn hơn sẽ dùng nó. Tôi chẳng nhớ là sau đó khi đi học mình đã dùng loại giày dép gì, rất có thể là chân không giày dép và đầu cũng không mũ nón, vì có lúc tôi đi học chỉ với bộ quần đùi và áo may ô.

 

Tôi và em Hùng được vào học tại Trường Phổ thông Cấp I Hưng Đạo trên phố Ngô Quyền (trước kia gọi là Trại Cau), cách nhà khoảng 20 phút đi bộ. Tôi lên lớp 4 học buổi sáng, còn Hùng vào lớp 1  buổi chiều nên hai anh em không cùng đi đến trường với nhau. Tôi với Hưng trở thành đôi bạn học cùng lớp cùng trường, nên luôn đi về cùng nhau. Mỗi buổi sáng, được má cho năm chục đồng để ăn lót dạ, tôi đeo túi sách ra phố và gặp Hưng trên vỉa hè cạnh rạp Cathay. Ở đây có nhiều hàng rong bán thức ăn ngon cho chúng tôi lựa chọn: xôi lạc, bánh cuốn, bánh gối, bánh đúc Tàu…Ăn sáng xong, hai chúng tôi tung tăng đi học. Đi hết phố Mê Linh, băng qua một đường tàu hỏa , rồi qua một xóm dân cư đông đúc, rẽ vào phố Ngô Quyền là chúng tôi đã đến trường. Hưng Đạo là một trường nhỏ, ngang với trường cũ của tôi ở Thanh Hóa. Điều đặc biệt ở trường này là chỉ có toàn học sinh nam mà không có nữ. Lớp 4 của chúng tôi cũng nhỏ, chỉ có một dãy chính gồm 6 bộ bàn ghế học sinh với 4 chỗ ngồi một bộ, thêm 2 bộ bàn ghế phụ kê vào chỗ trống vuông góc với dãy chính để đủ chỗ cho 32 học sinh cả lớp. Tôi ít tuổi nhất và cũng thấp nhỏ nên được xếp ngồi ngay bàn đầu dãy chính. Tuy nhiên, người bé nhất lớp lại không phải tôi, mà là Lã Thanh Hải, một bạn vui tính, rất thông minh nhưng vóc dáng lùn tịt. Hưng tương đối cao lớn nên ngồi sau tôi vài bàn. Dạy lớp tôi là thầy Phạm Huy Tăng đã già, tóc bạc gần hết, rất hiền và gọi học sinh là con. Thầy nói năng nhẹ nhàng nhưng giảng dạy dễ hiểu, không bao giờ quát mắng. Các bạn trong lớp đối xử với nhau rất hòa nhã, không thấy ai bắt nạt ai, kể cả tôi là một học sinh nhỏ mới nhập học. Các bạn cũng ít khi xưng hô “mày-tao” với nhau, mà thường tự xưng là “tớ” và gọi người đối thoại với mình là  “đằng ấy”, hoặc đơn giản hơn là “đằng”. Từ trước đến giờ tôi chưa hề biết cách xưng hô như vậy, nay mới được nghe và cảm thấy thích, nhưng chưa quen nói như các bạn. Tôi tự tin sẽ được phô diễn trước lớp về điểm số đầu tiên của mình trong một bài chính tả. Nhưng lúc thầy phát lại bài đã chấm, tôi kinh ngạc thấy mình chỉ được điểm trung bình vì mắc hàng chục lỗi. Khi học ở Thanh Hóa, tôi luôn đứng hàng đầu về chính tả với các điểm 9-10, bài nào tệ nhất cũng chỉ mắc đến 2 lỗi là cùng, sao bây giờ lại kém như thế? Sau đó, tôi đã nhận ra rằng thầy Tăng đọc bài theo giọng Hải Phòng, không phân biệt các âm “tr” với “ch” khiến tôi viết nhầm; trong khi má và cô Thục luôn uốn lưỡi rõ ràng âm “tr” để phân biệt với “ch” không uốn lưỡi. Thế là trong các bài sau, tôi không viết theo giọng đọc của thầy nữa, mà theo nghĩa của từ, nên đã đạt điểm cao và được thầy khen là “tiến bộ nhanh”!

 Có lần thầy ra bài tập cho học sinh về nhà làm: vẽ một bông hoa hồng. Tôi dùng bút chì phác thảo theo trí tưởng tượng, rồi chăm chú tô màu cho bông hoa thật đẹp. Hưng loay hoay mãi mà chẳng vẽ được gì, phải nhờ tôi vẽ hộ. Tôi lấy ngay cái mẫu của mình vẽ sơ cho bạn, rồi bảo cậu ấy tô màu kỹ hơn nữa. Hưng chỉ tô vẽ qua loa nên tôi thấy bông hoa của cậu ta không đẹp bằng của mình. Vậy mà khi thầy trả bài đã chấm, Hưng mừng rỡ thấy mình được 8 điểm (môn vẽ không có điểm 9-10), còn tôi chỉ được 7! Tôi ấm ức vì cảm thấy thầy chấm không chính xác. Có lẽ khi thấy hai bông hoa giống nhau, thầy cho rằng tôi bắt chước Hưng nên đã cho điểm thấp hơn. Rất may là ngay sau đó tôi đã có dịp chứng tỏ tài vẽ của mình. Nhân dịp nhận được quà của thiếu nhi Cộng hòa Dân chủ Đức (tức Đông Đức thuộc phe XHCN, đối diện với Tây Đức trong phe tư bản) gửi tặng thiếu nhi Việt Nam, trường tôi tổ chức cuộc thi vẽ tranh để tặng các bạn Đông Đức. Tôi liền vẽ bức tranh về phong cảnh vịnh Hạ Long để dự thi. Chưa hề được đến vịnh này, nhưng tôi biết rằng đó là thắng cảnh đẹp nhất nước ta, và cũng đã được nghe miêu tả về nó, nên đã dùng trí tưởng tượng để vẽ. Trong tranh có biển với những chiếc thuyền buồm, có núi và những hòn đảo  hình thù kỳ lạ, có mặt trời trên đỉnh núi với một đàn chim bay trên bầu trời. Lớp tôi chỉ có 5 bức tranh dự thi và thầy Tăng cho treo chúng trên tường cho mọi người xem. Các bạn xúm vào bình phẩm tranh của tôi và một bức do bạn Hạo vẽ cảnh đồng quê, có cậu bé cưỡi trâu thổi sáo cạnh bụi tre bên cánh đồng lúa chín vàng. Khi thầy hỏi: “Tranh của ai đoạt giải nhất?”, một số bạn nêu tên Hạo, số khác ủng hộ Quốc. Một bạn nói: “Tranh của Quốc cũng đẹp, nhưng hình thù các hòn đảo là do nó bịa ra!”. Một bạn khác cãi lại: “Bịa mà như thật mới là tài!”. Tôi cũng thầm nghĩ tranh của Hạo đẹp không kém của mình, nhất là con trâu được vẽ rất giống. Nghe học trò tranh cãi xong, thầy tuyên bố: “Hai bức tranh đẹp ngang nhau, nhưng Quốc nhỏ tuổi hơn nên ưu tiên được giải nhất, còn Hạo giải nhì!”. Cả lớp vỗ tay tán thành, thầy trao cho tôi một cuốn vở tập vẽ dầy được đóng bằng loại giấy crôki rất tốt và một hộp bút chì màu,  rồi tặng Hạo một hộp màu nước rất đẹp. Những giải thưởng mà chúng tôi nhận được đều là quà gửi từ nước Đức sang. Trong những ngày ấy,  mọi người xôn xao bàn tán về việc Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất. Ảnh quả vệ tinh hình cầu có 4 cái râu được trưng bày ở nhiều nơi khiến ai cũng thán phục Liên Xô. Tôi liền vẽ hình vệ tinh bay trên bầu trời có mặt trăng và các vì sao lấp lánh vào trang đầu tiên của quyển vở mới được tặng.

 

 

Một hôm, lớp tôi đang ngồi học bình thường thì bỗng nhiên  tấm bảng đen to tướng đổ ập xuống. Tôi cảm thấy mình bị nổ đom đóm mắt, rồi xung quanh tối sầm không còn biết gì nữa. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trên giường trong một căn phòng lạ có các thầy vây quanh. Thầy Tăng cầm tay tôi nói: “Quốc tỉnh rồi hả con, may quá! Không ngờ cái bảng lại đập trúng đầu con!...”. Tôi sờ tay lên trán thì thấy ngay một cục u nổi trên đó. Thầy Hiệu trưởng lấy một con dao hơ trên ngọn lửa đèn dầu, rồi dí vào cục u của tôi. Tôi cảm thấy vừa đau vừa nóng, nhưng cố chịu để cho thầy điều trị như vậy nhiều lần. Sau đó, thầy Hiệu trưởng cho uống một cốc nước chè đường và bảo tôi nằm nghỉ, đến hết giờ học thầy Tăng sẽ đưa về.

 Rất may là sau vụ tai nạn đó tôi vẫn đi học và sinh hoạt bình thường, không thấy có điều gì lạ và vẫn hăng hái vui chơi. Trên đường đi học, các bạn cùng trường với tôi thường tụ tập ở một hàng bán mía cuối phố Mê Linh để chơi trò “chém mía”. Chỉ một tay cầm một con dao to rất sắc, bạn phải giữ sao cho cây mía đứng thẳng, rồi vung dao sả xuống để vạt ra một đoạn vỏ mía càng dài càng tốt. Bạn sẽ được cắt một khúc mía dài đúng bằng đoạn vỏ vừa được vạt ra đó. Ai “chém” được nhiều khúc mía dài sẽ thắng. Dĩ nhiên người thắng được ăn nhiều mía mà khỏi phải trả tiền, và người thua phải trả. Chỉ chém mía thôi vẫn chưa đủ, khi đi qua đường tầu hỏa chúng tôi còn hay đặt mấy chiếc đinh lớn trên hai thanh ray, để lúc tan học về thì đinh đã được tầu hỏa nghiền bẹt ra, thành những con dao khá đẹp. Ở ngay cổng trường cũng có nhiều trò chơi mà tôi thích nhất là những bàn đá bóng bằng cách quay tay.

 

 

Ngoài giờ học, anh em tôi còn chơi với một số bạn khác. Tôi hay trao đổi sách truyện với chị Ngọc Loan, một nữ sinh Ngô Quyền là em gái cô Lâm Thị Ngọc Hoàn. Sau đó, anh em tôi lại quen với anh em Lê Minh và Lê Thị Dung là con thầy Lê Phương với vợ thầy là cô Kim Chi mới chuyển đến ở căn phòng mà chị em cô Hoàn vừa rời khỏi để ra ở ngoài trường. Bạn Công là con trai của một cô giáo trường Minh Khai thường qua trường Ngô Quyền chơi với chúng tôi. Cậu ta ít tuổi hơn tôi mà chơi bi rất giỏi, nên hay rủ tôi chơi trò này. Ban đầu, tôi bắn bi còn kém nên liên tiếp bị thua. Sau đó, tôi luyện tập thêm rất nhiều nên đã ngang tài ngang sức với Công. Chúng tôi còn hay chơi với Đặng Văn Loan, con trai một gia đình có đạo, nhà ở gần rạp Cathay. Quen Hưng từ trước nhưng cùng tuổi với tôi, Loan thông minh nhanh nhẹn và rất nhiệt tình với bạn bè. Cậu ta rất thích sưu tầm “pô gam”  và đã truyền cả sở thích ấy sang cho tôi. Hồi đó, các rạp chiếu bóng thường in và phát hành những tờ chương trình (programme- đọc theo tiếng Tây bồi là “pô gam”) giới thiệu bộ phim đang chiếu ở rạp, trong đó kể tóm tắt truyện phim có kèm ảnh minh họa, để công chúng biết mà mua vé vào xem. Bọn trẻ con chúng tôi rất thích xem những tờ chương trình ấy, nên đã nghĩ ra trò chơi sưu tầm chúng. Chúng tôi cố gắng sao cho mình có đủ pô gam các phim đã chiếu trong thành phố. Nếu một phim lại có hơn một tờ, thì sẽ dùng những tờ dư ra đó để đổi lấy những tờ còn thiếu. Chúng tôi còn đánh đáo hoặc “oẳn tù tì” để được “ăn” pô gam của kẻ bị thua. Kết quả là tôi đã có hầu như đủ pô gam của các phim đã chiếu, nhưng bộ sưu tập của Loan còn phong phú hơn nhiều, vì nó có cả pô gam của những phim rất cũ, chiếu từ thời người Pháp còn cai trị Hải Phòng. Nhờ trò chơi này, chúng tôi theo dõi lịch chiếu phim của các rạp trong thành phố không sót một buổi nào, hễ thấy phim hay là lập tức xin tiền mua vé đi xem. Các phim chiến đấu của Trung Quốc luôn là lựa chọn hàng đầu của chúng tôi khi ấy:  “Nam chinh-Bắc chiến”, “Dùng mưu chiếm Hoa Sơn”, “Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn”, “Cờ hồng trên núi Thúy”, “Ngôi sao đỏ Đổng Tồn Thụy”…Bên cạnh đó là các phim Liên Xô: “ Xắccô đi tìm hạnh phúc”, “Đêm Giao thừa”, “Đêm thứ Mười hai”, “Ôtenlô”…Tôi mê chiếu bóng đến mức tự mình chế ra một chiếc “máy chiếu phim” làm đồ chơi. Lấy một hộp phấn đã dùng hết, tôi cắt một lỗ thủng hình chữ nhật ở đáy nó để làm “màn ảnh”; rồi xuyên 2 chiếc đũa qua hai cạnh hộp làm trục quay. “Phim” là một băng giấy mỏng, với một loạt các khuôn hình có kích thước khớp với “màn ảnh”, do tôi vẽ theo một câu chuyện tự nghĩ ra. Dán 2 đầu “phim” vào 2 trục rồi cuộn lại ở một trục. Một chiếc đèn dầu đặt trong hộp được dùng làm đèn chiếu, giúp cho các hình vẽ sáng lên. Người chiếu phim sẽ quay trục để các hình vẽ được chiếu sáng lần lượt hiện lên trong màn ảnh, vừa quay vừa thuyết minh câu chuyện. Tôi lại mua được một chiếc kèn harmonica và nhanh chóng biết thổi kèn này theo những ca khúc đã thuộc để tạo thành âm nhạc cho phim. Nhìn vào màn ảnh, khán giả quả nhiên được thưởng thức chuyện phim bằng cả mắt và tai, giống như xem phim thật! Mặc dù các nhân vật trong “phim” không cử động được, nhưng bạn bè vẫn tỏ ra thích thú.

 

Ba tôi bế em Dũng, em Hùng cùng các chú cán bộ Sở Giáo Dục đứng trong vườn bên chiếc hầm trú ẩn trong khuôn viên nhà 27 Lữ Gia (Hồ Xuân Hương), Hải Phòng.

 Vì mải chơi, nên kết quả học tập của tôi lại giảm sút, nhất là về môn toán. Ở lớp 4 có những bài tính đố rất khó, nên thỉnh thoảng tôi vẫn bị điểm kém. Tôi và Hưng không thể giúp nhau về môn này, nên cha mẹ đã phải tìm người dạy kèm cho chúng tôi. Người dạy kèm đó là anh Lã Mạnh Đoàn, học sinh cấp III đang làm Hiệu đoàn trưởng của trường Ngô Quyền. Hôm đến nhà anh Đoàn để học, chúng tôi ngạc nhiên thấy có cả cậu bạn cùng lớp là Lã Thanh Hải. Thì ra Hải chính là em ruột anh ấy. Đối với mỗi bài tập mà anh Đoàn giao cho, Hải bao giờ cũng làm xong trước, còn tôi và Hưng cần có thêm những sự giảng giải ít nhiều thì mới tìm ra đáp số. Anh Đoàn kèm cặp chúng tôi rất tận tình, nhờ đó mà tôi đã đuổi kịp các bạn trong lớp. Anh nói riêng với tôi rằng: “Em là con thầy Hiệu trưởng, nên phải chăm học hơn nữa để làm gương cho các bạn khác!”. Nghe lời anh, tôi cũng nhủ thầm là mình sẽ cố gắng học giỏi để xứng đáng là con của ba má. Nhưng các trò chơi vẫn lôi cuốn tôi rất nhiều, mỗi khi có bạn rủ đi chơi thì tôi khó ngồi yên mà học được.

 Vào đêm Nô en, Loan rủ Hưng và tôi đến nhà thờ xem lễ. Cậu ấy dạy chúng tôi cách làm dấu thánh và dặn rằng phải chú ý làm theo những gì mà cậu ta làm thì mới được vào. Nhà thờ Hải Phòng không đồ sộ bằng nhà thờ lớn Hà Nội, nhưng có dáng vẻ riêng rất uy nghi với một cây thông Nô en rực rỡ ánh đèn màu ở trước sân. Loan đi trước, hai chúng tôi theo sau và qua cửa dễ dàng vì có đông người cùng vào một lúc. Thấy Loan quỳ gối bên một dãy ghế dài, chúng tôi cũng bắt chước quỳ theo, rồi vào ngồi ngay ghế đó. Lần đầu tiên được vào một nhà thờ, tôi thấy cái gì cũng lạ. Ngạc nhiên và thích thú nhất là được xem chiếc hang đá có máng cỏ với các hình tượng Chúa Giêsu hài đồng cùng Đức mẹ Maria, Tổ phụ Giuse và các thiên thần có cánh. Khi vị Cố đạo (Loan gọi là Đức Cha) mặc áo chùng thâm tiến đến bàn thờ, tất cả mọi người đều đứng dậy và chúng tôi cũng đứng theo. Đức Cha kể về sự tích Lễ mừng Thiên Chúa Giáng Sinh, tôi nghe và cũng hiểu lõm bõm. Cha còn đọc kinh rất dài và rất khó hiểu, cứ sau một đoạn mọi người lại đồng thanh đáp: “Amen!”. Tôi khẽ hỏi: “Amen là gì?”, Loan đáp: “Cứ phải nói thế mới được!”. Khi việc đọc kinh kết thúc, tôi vui mừng thấy một dàn đồng ca rất đông người xuất hiện phía sau bàn thờ. Mặc đồng phục đều tăm tắp, mỗi người cầm trong tay một cuốn sách nhạc, đứng cạnh nhau thành hàng và hát vang những bài ca ngợi Thiên Chúa, trên nền nhạc đệm trầm hùng của một chiếc đàn rất lạ mà Loan gọi là đại phong cầm. Lần đầu tiên được nghe những bản thánh ca trong nhà thờ, tôi cảm thấy lâng lâng xúc động. Buổi lễ Nô en ấy đã để lại trong tôi những dấu ấn đầu tiên về tôn giáo trong xã hội loài người.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác