NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - CHƯƠNG BA: ĐỜI MỚI (Phần 5)

( 28-01-2014 - 11:33 AM ) - Lượt xem: 777

Trong đêm trước hôm rời tỉnh Thanh, tôi thả hết dế mèn ra vườn, đi tìm Chương-Quang nhưng không gặp tụi nó, rồi tha thẩn trở về. Dưới ánh trăng non mờ ảo, tôi vừa đi vừa ôn lại những kỷ niệm đã qua và cảm thấy lưu luyến biết bao với con người và cảnh vật nơi này. Tôi tìm nhặt một hòn đá ở sân trường để mang theo về Hải Phòng.

       5. Tốt xấu và buồn vui

 

Trở về với đàn dế thân yêu mà vẫn còn luyến tiếc những ngày vui ở Sầm Sơn, tôi giở cuốn sổ tay mới của má ra xem và mừng rỡ khi thấy hai bài hát của Liên Xô mà mình từng được nghe ở đó đã được chép vào đây: bài “Hoa Calina” và bài “Cachiusa”. Tôi lập tức học thuộc lòng cả hai bài ấy. Lấy bìa các tông tự làm một bộ cờ tướng, tôi bắt đầu học chơi môn này. Rồi anh Phú học sinh miền Nam lại dạy tôi chơi một môn khác gọi là “Cờ Trận” mà quân cờ được cắt và vẽ từ 2 tờ bìa khác màu nhau. Quân hai bên chỉ khác màu, nhưng cùng số lượng và cùng loại như nhau, được vẽ theo cấp hàm quân đội từ “hạ sĩ” đến “đại tướng”, ngoài ra còn có các quân “mìn”, “xe tăng”, “pháo”, “đạn”, “công binh” để bảo vệ cho quân “thành”. Khi xếp quân trên bàn cờ, mỗi bên sẽ quay mặt có hình vẽ về phía mình, để đối phương chỉ nhìn thấy cái lưng trống không của các quân cờ nên chẳng biết đó là những quân gì. Mỗi bên sẽ thay phiên nhau chọn và di chuyển từng quân cờ của mình đối đầu với quân địch. Quân bên nào có sức mạnh kém hay cấp hàm thấp hơn sẽ bị trọng tài loại khỏi bàn cờ. Hai bên cứ bí mật “chiến đấu” và loại dần quân của nhau, cho đến khi bên nào hạ được “thành” bên địch là chiến thắng.

 Sau một mùa hè đầy ấn tượng, tôi phấn khởi lên học lớp 3, còn má vẫn tiếp tục dạy lớp 2. Vì má dạy buổi sáng còn tôi học buổi chiều, nên tôi được tự mình đi học mà không cần má chở bằng xe đạp. Ăn cơm trưa xong, tôi khoác chiếc túi dết đựng sách vở qua vai, chào ba má rồi nhập bọn với Chương-Quang vừa đi vừa chạy đến trường. Thỉnh thoảng hai đứa ấy lại “phi ngựa” giống như “Đội kỵ binh nhân dân Tây Tạng”, khiến tôi cũng phải “phi” theo. Tôi không nhớ mình thường đi đến trường bằng loại dép gì, rất có thể là cả bọn đều đi chân đất. Khi đến trường thì chúng tôi chia tay nhau để ai vào lớp nấy.

 Giáo viên dạy lớp tôi là cô Thục, vợ một thầy giáo của trường Lam Sơn, hình như là thầy Cao Hữu Nhu. Cô có ánh  mắt hiền từ, luôn nói năng nhỏ nhẹ dịu dàng mà giảng dạy rất dễ hiểu, nên tôi hết sức quý mến cô và cố gắng học chăm để được cô khen. Nhưng các bạn trong lớp cũng quý mến cô và cố gắng rất nhiều, nên tôi vẫn không mấy khi thấy tên mình trên bảng danh dự. Tôi vẫn giỏi về chính tả cũng như tập đọc và học thuộc lòng, có tiến bộ về toán, nhưng những bài tập làm văn thường chỉ được cô phê “văn gọn, ý đủ” kèm theo một điểm 6.

 Cuối thu năm ấy, tôi nghe đài và nghe người lớn nói nhiều về Ixraen và Hunggary. Tôi lờ mờ hiểu rằng nước Ixraen được Anh và Pháp ủng hộ đã đánh chiếm kênh Xuy Ê; nhưng khi Liên Xô ủng hộ Ai Cập bảo vệ kênh này, thì Ixraen đành phải rút lui. Từ trước, tôi đã biết Hunggary là nước trong phe ta có đội tuyển bóng đá nổi tiếng thế giới; nhưng giờ đây hình như ở Hunggary đang có một vụ nổi dậy và bắn nhau ác liệt, khiến cho một số cầu thủ bóng đá danh tiếng cũng bị chết. Cho đến khi xe tăng Liên Xô tiến vào thì cuộc chiến đấu mới kết thúc. Kể từ đó, tôi bắt đầu biết chút ít về tình hình thế giới.

 

 

Thời gian trôi nhanh, chẳng mấy chốc mà năm hết, tết đến rồi chúng tôi đã bước sang học kỳ II trong năm mới 1957. Do ham thích quá nhiều trò chơi nên tôi hơi chểnh mảng trong việc học hành. Má thường khuyên tôi phải chăm học hơn nữa, và hay kể về Diên Hồng là một học sinh nam trong lớp của má để tôi noi gương. Bạn ấy nhà rất nghèo, bố lại mất sớm nên vừa đi học vừa phải làm việc giúp mẹ, vậy mà học rất giỏi, luôn đứng đầu lớp và vượt xa các bạn khác. Bỗng một hôm không thấy Diên Hồng đi học, má vội đến nhà hỏi thăm, thì được biết bạn ấy đang nằm bệnh viện. Thì ra Diên Hồng lội xuống sông vớt củi mang về cho mẹ, chẳng may dẫm phải mảnh chai dưới bùn nên chảy máu chân và bị sốt. Chỉ mấy ngày sau Diên Hồng đã chết vì bệnh sài uốn ván. Má ôm mẹ bạn ấy và cả hai người cùng khóc bên quan tài đứa con trai tội nghiệp vừa ngoan vừa giỏi nhưng lại xấu số ấy. Có lẽ Diên Hồng là cậu học trò được má yêu quý và thương tiếc nhất trong những năm dạy học ở tỉnh Thanh. Tấm gương của Diên Hồng cũng giúp tôi cố gắng hơn trong học tập.

 Một hôm, tôi thấy em Hùng mua một thứ đồ chơi mà nó rất thích, rồi lại mua thêm một số bánh kẹo nữa. Tôi hỏi em lấy tiền ở đâu? Nó bảo “mót” được trong một ruộng  khoai lang ở gần trường Lam Sơn. Tôi liền rủ anh em Chương-Quang đi theo Hùng đến đó. Chúng tôi bới kỹ tất cả các luống khoai mà tuyệt nhiên không thấy một tờ tiền nào! Hùng bảo: “Chắc người ta mót hết rồi!”. Sau bữa cơm tối, má bỗng hỏi: “Hai con có lấy tiền của má không?”, tôi thành thật: “Con không lấy ạ!”, còn Hùng im lặng rồi bỗng nhiên bật khóc. Má phì cười nhưng cố làm bộ nghiêm bảo nó:  “ Con muốn mua gì thì hỏi xin tiền má, chứ đừng lấy như thế xấu lắm đấy!”. Nó thổn thức: “Con sợ má không cho!”, má liền giải thích cho nó thế nào là tốt và thế nào là xấu. Kể từ đó, em Hùng không lấy bất cứ cái gì của ai mà không xin phép.

 Mùa hè ở Thanh Hóa trời rất nóng nực, mà chúng tôi lại học buổi chiều dưới ánh nắng chói chang nên luôn cảm thấy khó chịu. Vậy mà lại có thêm một mùi hôi không biết từ đâu bay đến, khiến cho bầu không khí trong trường càng trở nên nặng nề. Mùi hôi càng tăng thêm, thì khả năng chú ý càng giảm xuống, khiến tôi khó ngồi yên nghe cô giáo giảng hay làm bài, mà cứ phải bịt mũi rồi ngọ ngoạy quay lên quay xuống. Trong khi đó, những bạn giỏi trong lớp vẫn bình thản học tập như mọi khi, mặc dù chúng cũng phải lấy tay bịt mũi và thỉnh thoảng khạc nhổ. Sau một thời gian dài phải chịu đựng bầu không khí ấy, nhà trường mới phát hiện ra thủ phạm của mùi hôi  là một đống xương bò ngâm trong một cái ao nước đục ngầu ở gần trường. Rồi lại mất nhiều ngày nữa người ta mới chuyển được đống xương thối ấy đi chôn ở chỗ khác.  Xương đã chôn rồi mà mùi hôi vẫn còn phảng phất kéo dài. Chính vì vậy mà kết quả học tập của tôi giảm sút thấy rõ. Kết thúc năm học, tôi chỉ được xếp hạng trên trung bình chút ít, nhưng cũng rất mừng vì vẫn được lên lớp, lại khỏi phải đến trường để ngửi cái mùi kinh khủng ấy.

 Anh em tôi không được đi nghỉ mát, nhưng vẫn được vui chơi thỏa thích với lũ bạn trong trường Lam Sơn suốt mấy tháng hè. Chúng tôi còn được anh Nhuần cùng các anh học sinh miền Nam rủ vào khu thành cổ chơi, khi thì bắt dế hay thả diều, lúc lại đánh khăng hoặc đá bóng. Trong khi đó, ba tôi ra Hà Nội họp, rồi mang về nhà hai tin quan trọng. Thứ nhất là một tin buồn: ông ngoại tôi đã qua đời không phải vì bệnh đau dạ dày kinh niên, mà vì một bệnh mới đột xuất phát ra. Đến thăm một người bạn cũ, ông được biếu mấy cân củ sắn làm quà. Xách bị sắn khá nặng về nhà, ông bị đau bụng dữ dội, được mọi người đưa vào bệnh viện. Nhưng chỉ vài ngày sau ông mất vì bị sa ruột hoại tử. Tin này làm tôi ứa nước mắt vì thương ông ngoại. Còn tin thứ hai không biết là vui hay buồn: ba tôi được điều động về Hải Phòng nhận công tác mới, và cả nhà sẽ chuyển về đấy. Xưa nay tôi chỉ biết có Thanh Hóa với Hà Nội, nên đã phải hỏi: “ Hải Phòng giống Thanh Hóa hay Hà Nội hả ba?”, ba đáp: “Hải Phòng giống Hà Nội con à!”. Thế là tôi thấy vui. Nhưng khi biết là mình sắp phải rời xa Thanh Hóa, nơi rất thân thuộc với gia đình mình, tôi lại cảm thấy buồn.

 

 

Trong đêm trước hôm rời tỉnh Thanh, tôi thả hết dế mèn ra vườn, đi tìm Chương-Quang nhưng không gặp tụi nó, rồi tha thẩn trở về. Dưới ánh trăng non mờ ảo, tôi vừa đi vừa ôn lại những kỷ niệm đã qua và cảm thấy lưu luyến biết bao với con người và cảnh vật nơi này. Tôi tìm nhặt một hòn đá ở sân trường để mang theo về Hải Phòng.

 Sáng hôm sau, một chiếc ô tô hàng đến tận cổng trường để đón gia đình tôi. Có rất đông các thầy cô và học sinh Lam Sơn đến tiễn Hiệu trưởng của mình đi nhận công tác mới. Ngồi trên xe, tôi thấy thầy Phạm Việt Thường tóc bạc trắng, thầy Cao Hữu Nhu với tầm vóc cao lớn trong bộ đại cán 4 túi (người sẽ thay ba tôi làm Hiệu trưởng của trường); các thầy Lê Hải Châu, Vũ Ngọc Khánh, Võ Quý, Phan Tử Long, Nguyễn Kiên và mấy thầy cô khác đứng gần nhau. Thầy Võ Phi Hồng cùng vợ là cô Bảo Kim, thầy Doãn Châu Long cùng vợ là cô Tố Nga đứng bên nhau ở một góc. Đó là hai cặp vợ chồng mà ba tôi đã góp công tác thành và làm chủ hôn trong đám cưới của họ: chú rể là giáo viên, còn cô dâu là cựu học sinh Lam Sơn. Anh Trần Văn Nức, hiệu đoàn trưởng của trường, chạy đến ôm chầm lấy ba tôi và khóc. Anh ấy nhà nghèo nhưng rất cố gắng học tập, được ba tôi giúp đỡ và coi như con nuôi trong gia đình. Nhiều chị nữ sinh lấy khăn tay lau nước mắt. Khi ô tô chuyển bánh, ba má nhoài người ra cửa vẫy tay, để đáp lại hàng trăm cánh tay giơ cao vẫy mãi.

 Đúng như lời ba nói, Hải Phòng là một đô thị đông vui tấp nập chẳng kém gì Hà Nội. Khu vực trung tâm thành phố rộng rãi và đẹp đẽ với một loạt mấy công viên nối tiếp nhau, dẫn thẳng đến con sông Lấp mà hai bên bờ là những hàng cây và bãi cỏ cũng đẹp như công viên, lại có cây cầu sắt Ca Rông màu đỏ uốn mình bắc qua. Nhà hát Thành phố không đồ sộ bằng Nhà hát Lớn Hà Nội, nhưng có vẻ đẹp thanh thoát nhẹ nhàng. Tọa lạc tại một quảng trường rộng với những cột đèn chùm cổ kính, nó cũng được dân Hải Phòng quen gọi là Nhà hát Lớn và trở thành trọng điểm kiến trúc của thành phố. Bên cạnh quảng trường này là một dãy 5 chiếc quán bán hoa xinh xắn có kiểu dáng giống nhau với mái ngói cong và những cây cột gỗ đỏ thanh tú, gợi nhớ chùa Một Cột ở Hà Nội. Nối tiếp dãy này là khu vực Quảng cáo Chiếu bóng với hàng chục hình vẽ lồng trong những khung hình chữ nhật, miêu tả những bộ phim đang được chiếu ở các rạp trong thành phố. Hải Phòng cũng đầy đủ điện nước như Hà Nội, tuy nước máy ở đây không thật ngọt mà nhiễm mặn chút ít nên trở thành “nước ngang”. Tháp nước lớn dùng cho cả thành phố đứng sừng sững sau lưng Nhà hát Lớn; trên đỉnh tháp gắn hàng chục chiếc còi từ một trung tâm chĩa ra khắp xung quanh, gọi là “còi tầm” để báo giờ làm và giờ nghỉ chung cho toàn thành. Mỗi khi tiếng còi cất lên thì những ai ở gần đó phải bịt tai lại, vì âm thanh của nó cực kỳ dữ dội lan xa hàng chục km.

 So với Hà Nội về phương tiện giao thông, Hải Phòng thiếu vắng hệ thống tàu điện, nhưng lại nổi bật bằng một hải cảng (gọi là bến Sáu Kho) bên bờ sông Cửa Cấm (thường được gọi tắt là sông Cấm) với hàng chục con tàu biển lớn thường xuyên ra vào neo đậu. Những chiếc loa phát thanh công cộng có dáng vẻ như những cây nấm cao bằng sắt mọc lên ở các công viên cũng là một sự độc đáo của thành phố này. Nhưng những hàng phượng vĩ (mà dân ở đây thường gọi là cây “ba giăng”) trên các đường phố, với muôn vàn chùm hoa đỏ rực bừng nở trong mùa hè, mới chính là một nét đặc trưng cho phong cảnh tươi đẹp của Hải Phòng.

 

 

Tại thành phố này, ba tôi được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường Phổ thông cấp III Ngô Quyền, tọa lạc ngay đầu phố Mê Linh, một phố nhỏ nhưng đông vui nối với phố Trần Phú, một đại lộ của thành phố. Còn má tôi về làm giáo viên trường nữ học  phổ thông cấp I Minh Khai ở cạnh đền Nghè trên phố Lê Chân, một phố rất nhỏ vốn có tên là “Ngõ Nghè” nối vào phố Mê Linh tại một ngã ba ngay xế cổng trường Ngô Quyền. Thế tức là trường ba và trường má chỉ cách nhau mấy chục mét qua ngã ba đó.

 Nếu so với trường Lam Sơn giản dị bằng tranh tre nứa lá, thì trường Ngô Quyền kiến trúc theo kiểu Pháp đồ sộ và kiên cố hơn hẳn. Trường được bao quanh bằng một bức tường gạch cao quá tầm với người lớn, còn sân trường thì rợp mát dưới bóng những cây bàng cổ thụ, xen vào đó là mấy cây phượng vĩ vẫn còn những chùm hoa đỏ, mặc dù tiết trời đã chuyển sang thu. Từ chiếc cổng bề thế đi thẳng qua sân sẽ đến tòa nhà chính hai tầng, với tường gạch quét vôi vàng nhạt, mái ngói đỏ và hệ thống cửa chớp cửa kính sáng choang. Hai bên có hai dãy nhà phụ một tầng cùng kiểu và nằm thẳng góc với tòa nhà chính. Phòng đầu dãy nhà phụ bên trái nhìn từ cổng vào được dành làm chỗ ở cho gia đình vị Hiệu trưởng mới, kế bên là văn phòng hành chính của trường, và phòng cuối dãy là chỗ ở của cô giáo Lâm Thị Ngọc Hoàn cùng người em gái cô. Ngoại trừ phòng đầu dãy nhà phụ bên phải là phòng họp Hội đồng Giáo viên, toàn bộ tòa nhà chính và những phòng còn lại của hai dãy nhà phụ đều là các lớp học. Năm học mới đã khai giảng ngay sau ngày ba tôi đến nhận nhiệm vụ tại trường. Nếu so với học sinh Lam Sơn thường giản dị và có phần nghèo khổ, các anh chị học sinh ở đây rất chững chạc trong những bộ trang phục đẹp được là cẩn thận, nhất là nhiều chị học  lớp 9, lớp 10 còn mặc quần trắng hoặc đen với áo dài các màu và để tóc dài với một chiếc kẹp sau lưng như những tiểu thư khuê các.

 Sau khi ổn định chỗ ở của gia đình, ba dắt tôi đến thăm thầy Nguyễn Văn Hòa, người đã về trường trước đó và nay được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng. Gia đình thầy Hòa (mà tôi sẽ gọi bằng bác) cư trú tại phòng đầu thuộc khu nhà ở của cán bộ giáo viên phía sau dãy nhà phụ bên phải. Hai người lớn nói chuyện thân mật với nhau, bác Hòa xoa đầu tôi rồi gọi con cả của bác ra giới thiệu. Đó là Nguyễn Văn Hưng, một cậu bạn khá trắng trẻo đẹp trai, hơn tôi 2 tuổi nhưng cũng sắp được lên lớp 4 như tôi và nay trở thành người bạn đầu tiên của tôi ở Hải Phòng. Hưng không có em trai mà chỉ toàn em gái là cái Hải, cái Hằng và cái Hà. (Ở đây người ta gọi con gái là “cái”, khác với dân Thanh Hóa thường gọi là “con”). Tối hôm sau, ba má và hai anh em tôi được thầy Phúc mời đến dùng bữa cơm thân mật với gia đình tại nhà riêng của thầy ở ngoài phố. Nhà thầy có nhiều đồ dùng rất sang, còn mâm cơm cũng có nhiều thức ăn đặc biệt ngon. Má bảo rằng những thức ăn đó khiến má nhớ lại các món ăn ở nhà ông bà ngoại thời má còn con gái ở Hà Nội. Ba cho biết thầy Phúc là một nhà giáo dạy Việt văn và lịch sử lâu năm ở trường này từ thời Pháp, nay vẫn được “lưu dụng” dưới chế độ mới.  Gia đình tôi không nấu ăn ở nhà mà “báo cơm” tại bếp ăn tập thể gần khu nhà ở tập thể của trường. Đến giờ ăn, má hoặc tôi xách cặp lồng đến đó lãnh cơm và thức ăn mang về. Gần nhà tôi còn có một căn nhà nhỏ ở góc tường của trường, là nơi trú ngụ của gia đình bác Quý lao công có hai đứa con gái là cái Uy và cái Xuân cùng trạc tuổi em gái Hưng. Nhà bác rất nghèo nên phải bán bánh rán và mấy thứ lặt vặt khác cho học sinh. Thỉnh thoảng muốn làm thêm thức ăn cho gia đình, má tôi lại đến căn bếp lụp xụp của bác Quý xin nấu nhờ.

 

 

Tôi nhanh chóng quên đi sự lưu luyến với xứ Thanh yêu dấu, vì ở Hải Phòng rất vui và có quá nhiều điều mới lạ. Đối diện với nhà tôi trong trường Ngô Quyền, ở vỉa hè bên kia phố Mê Linh, là rạp cinema Cathay khá sang trọng với những hàng ghế bọc vải trắng tinh. Ngay đêm đầu tiên vừa đến Hải Phòng, má đã dắt hai anh em tôi qua đó xem phim. Chỉ mua một vé nhưng cả hai đứa vẫn được vào rạp, vì má nói với người soát vé rằng chúng tôi còn nhỏ chỉ ngồi chung nhau một ghế. Đó là lần đầu tiên tôi được xem chiếu bóng trong một rạp đàng hoàng, với bộ phim chiến đấu nhan đề “Vượt sông trinh sát” và phim hoạt họa “Ba anh em họ Lưu” đều của Trung Quốc. Vài hôm sau má lại đưa hai anh em tôi đi chợ “Thống Nhất”, một ngôi chợ rất đông vui trên phố Trần Phú gần cầu Carông. Cả ba mẹ con ngồi vào một hàng tiết canh lòng lợn trong chợ ăn một bữa thỏa thích. Trên vỉa hè cạnh cổng trường Ngô Quyền có chiếc xe bán một món phở có hương vị hết sức đặc biệt của một ông Tàu già, mà chúng tôi thường mang cặp lồng ra mua về ăn, và gọi đó là “phở Tàu”. Rời cổng trường ra đường Trần Phú là đến ngay công viên trung tâm, băng qua đó  sẽ đến khu phố rất đông người Hoa kiều, trong đó có phố Lãn Ông bán nhiều món ăn ngon của họ. Thỉnh thoảng, tôi lại được má sai đến một cửa hàng thịt ở đây mua “ một lạng thịt nạc mông” để chế biến thức ăn. Vào những buổi tối rảnh rỗi, ba lại đưa cả gia đình đến đây thưởng thức các món xôi lạp xường, mì vằn thắn hay chè bánh chay bánh trôi. Khi được xem phim trong rạp Vĩnh Lợi ở phố Hoàng Văn Thụ, hai anh em tôi thường ghé qua hiệu kem “Tam Hoàn” ở gần đó để thưởng thức loại kem que ngon không kém kem Cẩm Bình ở Hà Nội. Ngoài các rạp chiếu phim, khi ấy còn có chiếc xe “chiếu bóng lưu động” thường đậu ở vườn hoa gần nhà hát thành phố, nơi luôn có một nhóm “Sơn Đông mãi võ” bán thuốc cao và thu hút khách bằng những màn võ đạo và tiết mục xiếc khỉ. Xe chiếu bóng là một chiếc hòm tối đặt trên những bánh xe, bên trong có màn ảnh nhỏ ở một đầu hòm, còn đầu kia gắn một máy chiếu phim bé tí cho người chủ xe dùng tay quay phim chiếu lên màn ảnh, vừa chiếu vừa thuyết minh bằng miệng nghe rất hấp dẫn. Muốn được xem phim, mỗi khán giả đưa cho người chủ xe năm chục đồng để được ngồi vào hai băng ghế dài ở hai bên xe ( mỗi bên 4 người), rồi dán mắt vào một trong 8 chiếc ống nhòm gắn sẵn ở hai bên hòm mà nhìn vào màn ảnh. Hai anh em tôi đã được xem nhiều phim hề Saclô và cả phim “Công phá Bá Linh” ở chiếc xe ấy.

 Sân trường Ngô Quyền rất rộng, nên ngoài giờ học chúng tôi thường chơi bóng đá ở đó bằng những quả “bóng” tự chế, hay những quả tennis đã tróc hết lớp dạ bên ngoài. Bạn Hưng bày cho anh em tôi ăn quả bàng và cách đập hột nó lấy nhân ăn tiếp, rồi cách tách quả “ba giăng” xanh lấy hạt non ăn, còn quả già đã khô thì lấy hạt chơi và vỏ làm củi đun. Hưng còn bày ra mấy trò  mà xưa nay tôi chưa từng biết. Khi thì trèo lên cây bàng hái lá mang ra phố bán cho các bà hàng xôi; có lúc lại ra những bãi đất trống sau các dãy nhà của trường để đào bới tìm các mảnh thủy tinh và dây đồng, đem bán cho những người mua “đồng nát”. Nhiều khi chúng tôi đi “xét lớp” sau giờ học, tức là vào các lớp học để lục ngăn bàn học sinh mà tìm những vật bị bỏ quên trong đó. Tôi  không mấy thích thú với việc lục soát ấy, mà thường chăm chú xem những tờ bích báo của các lớp dán trên tường. Phải công nhận rằng bích báo của học sinh hồi ấy rất hay, cả về văn, thơ, nhạc…và được trang trí bằng những hình vẽ và tranh ảnh rất đẹp. Hầu hết chủ đề các bài báo do tác giả tự nghĩ ra mà không theo một sự định hướng nào. Có hôm tôi say mê xem đến mức Hưng và Hùng đã bỏ về từ bao giờ mà mình  không biết. Tối đến, từ rạp Cathay sáng trưng ánh đèn nê ông luôn vang lên những bài hát quen thuộc để mời gọi khán giả vào mua vé xem phim. Trong những bữa cơm tối, gia đình tôi thường được thưởng thức miễn phí các ca khúc từ rạp ấy vọng sang: “Ngựa phi đường xa” và “Bộ đội về làng” của Lê Yên, “Làng tôi” của Chung Quân, “Trầu cau” của Phan Huỳnh Điểu, “Ngày mùa” của Văn Cao… và cả trường ca “Du kích sông Thao” của Đỗ Nhuận. Có hai bài mới được du nhập về từ các cuộn Liên hoan Thanh niên và Sinh viên Thế giới ở Vacsava và Matxcơva mà tôi đã thuộc nhờ được nghe theo cách đó: “Hành khúc Thanh niên Dân chủ Thế giới” và “Bài ca Sinh viên Quốc tế”. Những ca khúc ấy thôi thúc mọi người đấu tranh bảo vệ hòa bình hướng đến một tương lai tươi sáng. Đây là hành khúc của thanh niên:

 

Khắp thế giới chung niềm tin

Ta cùng liên kết cùng tranh đấu cho ngày mai

Chí sắt đá tim bừng sôi

Vì chiến thắng cùng chung sức xây hòa bình…

 

Và đây là bài ca của sinh viên quốc tế:

 

Hoàn cầu vang lên lời thân ái khúc yêu thương

Đoàn ta chung ý chí thề tranh đấu cho hòa bình

Mặt trời tươi sáng càng thêm sáng tươi huy hoàng

Vì mây đen chinh chiến rồi đây sẽ không che mờ…

 

Là một đứa trẻ chưa đầy mười tuổi sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, tôi cũng cảm nhận được niềm hạnh phúc lớn lao khi được sống trong hòa bình. Nhưng các ca khúc ấy  không chỉ nói lên ước vọng của tuổi trẻ, mà còn là thông điệp phát ra từ Liên Xô, thành trì của cách mạng thế giới nhằm tiêu diệt chủ nghĩa tư bản. Đó là điều mà mãi về sau tôi mới biết, và còn biết do đâu mà lúc ấy người ta kêu gọi đấu tranh cho hòa bình chứ không phải là đấu tranh giai cấp.

Các Bài viết khác