NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - CHƯƠNG BA: ĐỜI MỚI (Phần 4)

( 17-01-2014 - 06:27 AM ) - Lượt xem: 537

Trong một giờ tập viết, thầy dạy chúng tôi viết chữ “N” hoa. Tôi đã được má dạy chữ này, nên nhận thấy thầy viết không đúng. Đáng lẽ cả hai nét đứng của chữ này đều uốn cong phía dưới rất đẹp, thầy lại viết nét thứ nhất đứng thẳng trên dòng kẻ mà không có đoạn cong ở dưới. Tôi thắc mắc và không muốn viết theo thầy, nhưng cũng không dám hỏi lại thầy, đành phải về nhà hỏi má. Má cũng không bảo rằng thầy đã viết sai, mà chỉ nói sẽ hỏi lại thầy

     4. Sai và đúng

 

Cuối năm 1955, trường Lam Sơn dời khỏi khu nhà của trường Mission để chuyển về một cơ sở mới (trên nền cũ của trường College Thanh Hóa thời Pháp thuộc) ở gần di tích một khu thành cổ. Gia đình ông Hiệu trưởng cùng gia đình các giáo viên cũng chuyển khỏi khu “nhà Dòng” về nơi ở mới trong cơ sở mới của trường. Toàn bộ nhà cửa ở đây được cất bằng tranh tre nứa lá nên chỉ có một tầng. Duy nhất có dãy nhà hành chính gắn với phòng thí nghiệm của trường được xây kiên cố bằng gạch ngói. Có hai dãy nhà lá dài và rộng song song với nhau được dành cho các phòng học, từ lớp 5 thấp nhất đến lớp 9 cao nhất. Hai bên mái nhà còn được ràng buộc và chốt chặn bằng từng cặp những cây luồng lớn chạy dài từ đỉnh nóc xuống mặt đất để chống bão. Ngăn cách hai dãy lớp học là một khoảng sân rộng dùng để chơi bóng chuyền. Trong khuôn viên trường có hai dãy nhà lá dài và hẹp hơn hai dãy kia, dùng làm chỗ ở của cán bộ, giáo viên và công nhân viên nhà trường. Một dãy ở xa cổng trường là nơi trú ngụ của các gia đình thầy Phạm Việt Thường, thầy Phan Tử Long và một số thầy cô khác. Dãy ở gần cổng dành một đầu hồi cho mấy thầy độc thân, mấy phòng giữa cho  các học sinh miền Nam, và đầu hồi kia chính là chỗ ở của gia đình ông Hiệu trưởng tức  ba tôi. Mặc dù chỉ là nhà tranh vách đất, hai dãy nhà này được làm rất khéo, có cả hành lang thẳng tắp với lan can bằng tre trước các gian phòng, nên chỗ ở của mọi người khá tươm tất. Đặc biệt hơn, mỗi dãy nhà ở này đều có một chiếc loa phát thanh bằng gỗ hình chữ nhật cỡ bằng một quyển sách dày, treo ở đầu hành lang, có đường dây nối với Đài truyền thanh Thanh Hóa để nghe tin tức, ca nhạc và các chương trình văn nghệ. Nhờ đó, đời sống văn hóa trong trường đã được cải thiện đáng kề.

 Về nhà mới được ít ngày, vào lúc ba ra Hà Nội họp, má con tôi ở nhà đã bị kẻ trộm đến thăm và lấy hết tiền bạc. Để có tiền ăn hàng ngày, má phải đi tìm việc làm thêm. Vừa may có một doanh nghiệp nhà nước thuê người bóc lạc, má liền nhận làm việc đó. Nhiều bao lạc củ được chở về nhà để má dùng kẹp tre bóc vỏ lấy lạc nhân đem nộp và được nhận tiền công. Hai anh em tôi chưa làm được nhiều nhưng cũng cố gắng giúp má. Hai học sinh miền Nam là anh Thùy và chị Thông thấy tội nghiệp má con tôi nên cũng đến “lột đậu phộng” giúp. Má vui vẻ nhận sự giúp đỡ đó, nhưng cũng chia tiền công cho anh chị ấy. Bóc lạc rất mệt nhưng có tiền tiêu, lại có vỏ lạc để nấu bếp và một số lạc nhân được thưởng để dùng trong bữa cơm hàng ngày, nên mọi người đều ra sức cố gắng. Ròng rã nhiều ngày, chúng tôi ăn cơm với một món duy nhất là lạc rang trộn nước mắm, thỉnh thoảng có thêm món bí xanh luộc chấm nước mắm dầm trứng vịt luộc. Giữa lúc đó ba trở về từ Hà Nội, mang theo nhiều quà do dì Quỳ vừa đi dự Liên hoan Thanh niên và Sinh viên thế giới ở Vacsava về gửi tặng. Má nhận được một bộ cặp lồng gồm 4 chiếc ca men nhôm xếp chồng lên nhau có quai xách, một cuốn sổ tay rất đẹp có những ảnh màu về danh lam thắng cảnh Trung Hoa và một bộ tranh “tứ bình” của Trung Quốc vẽ chim với hoa bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông màu sắc rực rỡ. Má lập tức treo bộ tranh ấy lên vách, khiến căn nhà trông sang đẹp hẳn lên. Hai anh em tôi được hai thứ đồ chơi rất thích: một chiếc ô tô vận tải bằng sắt của Liên Xô giống hệt ô tô thật lại chạy được bằng dây cót và một hình người dang tay chơi chũm chọe, được điều khiển bằng cách kéo một cái cần phía sau. Em Hùng còn được một chiếc mũ lông Liên Xô rất dày và đẹp, còn tôi được chiếc mũ dạ mỏng hơn. Nhưng món quà quý nhất mà ba mang về cho cả nhà là một bức thư của ông nội từ miền Nam gửi ra. Cho biết gia đình mình ở Bến Tre vẫn bình yên, ông nội hỏi thăm ba má và cả hai cháu Quốc-Hùng nữa. Kèm theo thư là một tấm ảnh chụp cả gia đình: ông bà ngồi ghế bành cạnh nhau ở giữa, các cô chú cùng con cháu đứng hai bên và phía sau. Ông viết thêm ở mặt sau tấm ảnh để chỉ rõ từng người trong đó: Cô và dượng Tư, chú Mười, chú Cao, cô Sáu với con cô là Phương Lan…Thế là sau hơn 10 năm đứt liên lạc vì binh lửa chiến tranh, ba tôi đã nhận được những thông tin quý báu từ ông nội. Với bức thư này, ông chính thức thừa nhận cuộc hôn nhân của ba má tôi cùng hai đứa cháu mà ông đã biết tên nhưng chưa hề biết mặt. Khi ấy, theo quy định của Hội nghị Giơnevơ, việc liên lạc giữa hai miền Nam-Bắc chỉ được phép thực hiện bằng những tấm “Bưu Thiếp” do chính quyền in mẫu. Không hiểu bằng con đường nào mà bức thư với tấm ảnh quý báu này đã được chuyển đến ba. Cũng theo hiệp định Giơnevơ, 2 năm sau ngày đình chiến sẽ tổ chức Tổng tuyển cử trên cả hai miền Nam-Bắc để thống nhất nước nhà. Không ngờ là cuộc Tổng tuyển cử ấy sẽ chẳng bao giờ được tổ chức, nên bức thư và tấm ảnh này đã trở thành di vật cuối cùng về sự trao đổi tình cảm giữa ông nội với ba tôi.

 

 

Vào một buổi chiều, anh Thùy rủ tôi với em Hùng ra sân vận động thị xã coi đá banh. Người xem đứng ngồi đông nghịt chung quanh sân. Anh Thùy chỉ vào 2 khung gỗ ở hai đầu sân (gọi là “gôn”) cùng những vạch vôi kẻ trên sân mà giải thích cho anh em tôi về trò chơi này. Vừa lúc đó tiếng hoan hô vang dậy. Từ hai đầu sân đối diện nhau, hai đội bóng chạy đến gặp nhau ở giữa sân rồi quay sang cúi chào khán giả. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được trông thấy cầu thủ bóng đá mặc quần đùi áo số đi giày. Những người mặc toàn quần áo trắng là đội “Thanh niên Hoàng Diệu”, những người mặc quần đen áo vàng là đội “Thanh niên Thanh Hóa”. Thủ môn hai đội và các trọng tài đều mặc quần áo đen. Khi trọng tài thổi còi cho trận đấu bắt đầu, tôi xem thật chăm chú, có gì chưa hiểu thì hỏi anh Thùy. Các cầu thủ đá bóng cho nhau, chạy rồi tranh cướp bóng. Khán giả hò reo ầm ĩ, gọi tên những người mà họ yêu thích. Tôi nhận ra bên đội Hoàng Diệu có anh Tòng “cháy” da đen mang áo số 4, anh Nghẽn số 2 người to như hộ pháp, anh Luyến số 5 đầu hói bị trọng tài phạt vì lấy hai tay ấn vào vai cầu thủ đội bạn để nhảy lên đánh đầu. Bên đội Thanh Hóa có anh Lạc mang số 7 người nhỏ nhưng chạy dẫn bóng rất nhanh luôn được khán giả hò reo cổ vũ. Khán giả có vẻ muốn cho đội Thanh Hóa thắng, nhưng tôi lại ủng hộ đội Hoàng Diệu vì biết rằng họ từ Hà Nội đến.

 Từ khi được xem trận đấu này, tôi bắt đầu thích chơi bóng đá. Tôi với Hùng cùng anh em Chương-Quang thường lấy giấy loại và lá chuối khô cuộn  với nhau tạo nên một cái bọc hình cầu, rồi dùng dây gai bện chặt bên ngoài làm thành quả “bóng”. Chúng tôi thi đấu rất hăng say, ra sức sút “bóng” này vào “gôn” là khoảng trống giữa 2 cục gạch vỡ. Mỗi khi mượn được một quả bóng thật bằng da của các anh học sinh Lam Sơn, thì trận đấu lại càng hào hứng. Có lúc các anh ấy cũng tham gia đá bóng cùng bọn trẻ con chúng tôi. Tôi thích được đá bằng quả bóng chuyền, còn quả bóng đá quá to rất nặng, nếu bị sút trúng người thì đau lắm. Vào những buổi chiều chủ nhật, mọi người thường tụ tập ở hành lang bên chiếc loa phát thanh để nghe tường thuật tại chỗ một trận bóng đá nào đó. Tôi cũng đến đó tham gia cùng người lớn. Mặc dù không nhìn thấy gì hết, nhưng lời tường thuật sôi nổi cùng tiếng reo hò phát ra từ chiếc loa cũng đủ cho chúng tôi vui sướng như đang được thực sự xem trận đấu, và còn bàn tán rôm rả về từng pha bóng hay hoặc dở. Khi ấy tôi rất thích vẽ tranh về bóng đá, nhất là hình thủ môn bay người bắt bóng trong khung thành.

 Một hôm má mang về cho tôi một quyển sách nhan đề “Dế mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài. Sách hay quá khiến tôi đọc mê mải quên cả ăn cơm. Trong khi đọc, tôi cảm thấy mình được sống trong một xứ sở kỳ lạ của những con vật nhỏ bé mà cũng có tình cảm, biết suy nghĩ và hành động như người. Tôi yêu thích và muốn tìm bắt dế mèn cùng những con khác được tả trong sách để chơi. Vừa may tôi gặp được một người rất thích chơi dế là anh Nhuần đang học lớp 5 và là em ruột thầy Đan, một thầy giáo trẻ dạy trường Lam Sơn. Căn nhà lá nơi anh sống cùng với anh mình ở ngay sau ngôi nhà hành chính của trường, và rất gần nhà tôi. Anh mang cho tôi và em Hùng xem một cái lồng tre trong đựng nhiều dế mèn trông thật thích mắt. Rồi anh mở một cái hộp sắt hình chữ nhật, bỏ 2 con dế vào đó cho chúng chọi nhau. Hai con cắn nhau kịch liệt rồi giương càng đá nhau; con thua bỏ chạy còn con thắng thì rung cánh gáy “rich rich” đầy kiêu hãnh. Hết đôi này anh cho tiếp đôi khác vào chọi. Anh cho biết ở đâu có nhiều dế, dạy chúng tôi phân biệt dế đực với dế cái, cách làm thế nào để cho chúng chọi nhau, cách bắt và nuôi dế. Khi đọc sách, tôi đã biết bắt dế bằng cách đổ nước vào tổ cho nó bị ngộp phải chạy ra, nhưng anh còn có cách bắt hay hơn mà không cần nước.

 Theo sự chỉ dẫn của anh Nhuần, tôi rủ em Hùng đi tìm bắt dế. Rời cổng trường Lam Sơn mang theo chiếc lồng tre do anh tặng, chúng tôi đi đến một hào nước nông có những tảng đá dưới đáy trồi lên khỏi mặt nước, xắn quần lội qua đó rồi trèo qua một bờ đất cao. Trước mặt chúng tôi là một khu đất rộng mênh mông cỏ mọc xanh rì, phía xa có nhiều dãy nhà lá dài. Người lớn bảo đây là khu thành cổ có các cơ quan lãnh đạo tỉnh trú đóng, nhưng tôi chỉ thấy nếu được đá bóng hay thả diều ở đây thì thích lắm, còn bây giờ thì phải bắt dế. Nghe tiếng dế kêu, chúng tôi rón rén đi về phía tổ của nó. Tiếng kêu im bặt, nhưng chỉ tìm một lúc là thấy một cái lỗ có nhiều mùn đất bên ngoài. Nhớ lời anh Nhuần, tôi bứt một cọng cỏ may đút sâu vào lỗ và ngoáy đi ngoáy lại. Quả nhiên một chú dế từ trong tổ nhảy vọt ra và chúng tôi chụp bắt lấy. Hôm ấy chúng tôi hoan hỷ chạy về với chiếc lồng đựng gần chục con dế mèn thật đẹp cùng vài con dế trũi và một nắm cỏ tươi làm thức ăn cho chúng. Khi ấy nhà tôi có một giàn bí, một bụi sả và nhiều cây rau thơm do má trồng. Tôi đặt lồng dế dưới bụi sả cho mát, đến đêm lại treo nó lên giàn bí để dế “uống sương” như trong sách đã viết. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại đem dế sang nhà anh Nhuần và say mê xem dế của mình chọi nhau với những con của anh ấy. Khi bắt được bọ ngựa, bọ muỗm hay châu chấu voi, tôi đều lấy chỉ buộc vào bụi sả hay giàn bí để chúng làm bạn với dế mèn. Những con này rất đẹp và to hơn dế mèn nhiều, nhưng chúng không biết chọi nhau và cũng không gây sự với dế mèn.

 

 

một điều lạ trong thời thơ ấu là tôi rất nhớ những ngày tết trung thu, những sự việc đặc biệt và những trò chơi thích thú, nhưng tuyệt nhiên không nhớ gì về những ngày tết nguyên đán. Sau tết Bính Thân, lớp tôi bước sang học kỳ II với việc đón tiếp một đoàn Giáo sinh Sư phạm về thực tập tại trường. Giáo sinh dạy thay cho má tôi là thầy Trúc rất vui tính. Khác với má, thầy không hay gõ thước trên bàn giáo viên khi học sinh mất trật tự, mà chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở. Thầy kể chuyện không hay bằng má, nhưng lại có những chuyện mới để kể. Trong một giờ tập viết, thầy dạy chúng tôi viết chữ “N” hoa. Tôi đã được má dạy chữ này, nên nhận thấy thầy viết không đúng. Đáng lẽ cả hai nét đứng của chữ này đều uốn cong phía dưới rất đẹp, thầy lại viết nét thứ nhất đứng thẳng trên dòng kẻ mà không có đoạn cong ở dưới. Tôi thắc mắc và không muốn viết theo thầy, nhưng cũng không dám hỏi lại thầy, đành phải về nhà hỏi má. Má cũng không bảo rằng thầy đã viết sai, mà chỉ nói sẽ hỏi lại thầy. Nhưng ngày hôm sau đến lớp, thầy Trúc đã bảo chúng tôi sửa lại chữ đó đúng theo cách viết của má. Tôi cảm thấy vui sướng vì thắc mắc của mình đã được giải đáp đúng, và cũng ngầm hãnh diện rằng nhờ có mình mà cả lớp đỡ phải viết sai.

 

 

Mùa hè 1956, má lại đi dự một lớp chỉnh huấn ở Sầm Sơn và cho hai anh em tôi đi theo. Lúc nào tôi cũng thích đi với má, nhưng nhớ lại những chuyện kể về cuộc chỉnh huấn trước đây, tôi cảm thấy không yên tâm, sợ nhất là mình sẽ phải bốc cơm ăn với ruồi như em Tuấn hồi đó. Nhưng khi ra đến Sầm Sơn, tôi chỉ thấy vui và hết lo lắng. Ba mẹ con tôi được ở trong một nhà dân làm nghề đánh cá, giống như mọi nhà khác ở đây. Nhà ở gần bãi biển, trên sân phơi đầy cá và lưới đánh cá nên không khí luôn phảng phất mùi cá biển. Chủ nhà có một chiếc mảng lớn do những cây luồng rất to ghép lại với nhau mà thành. Buổi sáng tinh mơ họ đưa mảng từ trên bãi cát xuống biển, nhảy lên đó rồi căng buồm ra khơi đánh cá đến tối mịt mới về. Nhờ đó, bữa cơm của chủ nhà cũng như của chúng tôi luôn có cá kho hay nướng. Chúng tôi thường được ăn cá dưa, một loại cá da trơn rất nạc, dài cỡ chiếc đòn gánh và to bằng bắp chân người lớn, được cắt thành từng khoanh tròn kho với nước mắm. Thỉnh thoảng lại được ăn cá thu rất ngon và mấy loại cá nhỏ khác. Ở đây còn có một món đặc biệt là trứng muối. Người ta lấy lòng trắng trứng để làm cho lưới đánh cá thêm bền chắc, còn lòng đỏ đem muối để ăn dần. Khi được hấp chín, trứng muối này hơi mặn nhưng rất bùi và béo ngậy, ăn với cơm thật ngon. Các bữa cơm ở đây đều được ăn no và ngon, chỉ bị khó chịu vì có nhiều chó ngồi chầu quanh mâm bốc mùi lông bẩn khiến tôi lợm giọng.

 Lần này,  hai anh em tôi mới thật sự trông thấy biển Sầm Sơn trong nắng sớm. Chỉ mặc quần đùi trong gió thổi lồng lộng, đứng nhìn biển xanh mênh mông vô tận đến chân trời thấp thoáng hàng trăm cánh buồm, rồi nhìn những làn sóng tung bọt trắng ào ào vỗ vào bờ, tôi cảm thấy choáng ngợp không dám tắm biển. Còn em Hùng co rúm người lại, nhất định không chịu xuống nước. Má phải xắn quần lội xuống trước, rồi lần lượt dắt hai anh em tôi xuống theo, thoạt đầu đến mép nước, sau đó ra xa dần cho nước ngập đến đầu gối. Khi đã quen với biển, chúng tôi được má dạy“nhảy sóng”, rồi mượn mấy “ống bương” là những khúc cây luồng được đẽo gọt của dân chài cho chúng tôi ôm làm phao tập bơi. Chỉ sau một buổi làm quen với biển, từ ngày hôm sau chúng tôi đã say mê tắm, lại còn biết vọc cát xây lâu đài trên bờ chờ sóng đánh tan, rồi lang thang tìm nhặt những vỏ ốc đẹp mang về nhà. Bải biển Sầm Sơn toàn cát trắng, không dốc và rất rộng, ở xa mép nước lại có loại “cỏ bồng” kỳ lạ gồm vô số những chiếc lá kim mọc từ một điểm ở thân gốc tỏa ra khắp chung quanh thành hình cầu, trông như con nhím cuộn tròn xù lông ra ngoài. Chúng tôi rất thích hái loại cỏ này mang xuống đặt ở mép nước, cho gió biển thổi chúng lăn tròn lên bờ, rồi chạy đuổi theo chúng như chạy đua với một đàn súc vật.

 Khi đi họp, má cũng cho chúng tôi theo đến hội trường. Trước giờ họp hoặc trong lúc giải lao, bên ngoài hội trường rất nhộn nhịp. Dưới bóng những cây phi lao râm mát, các cô chú giáo viên đàn hát hay chơi tú lơ khơ. Một chú luôn ngồi cạnh bàn cờ tướng để thách thức mọi người đấu với mình. Hình như mọi đối thủ đều thua nên chú ấy trở thành nhà vô địch. Có mấy cô giáo xúm quanh một bàn “cờ hòa bình” hình tròn, với quân cờ là những hòn bi ve rất đẹp. Nghe nói bàn cờ đặc biệt này mới được đem từ Trung Quốc về. Khi má cùng các thầy cô vào họp, hai anh em tôi tha hồ chạy nhảy và dòm ngó mọi thứ đồ chơi để lại ngoài hội trường.

 

 

Tôi không biết má và các cô chú ấy có phải “tố khổ” và viết “kiểm thảo” không, nhưng ngoài những giờ họp trong hội trường thì mọi người đều vui vẻ. Tôi thường nghe các cô chú và má hay nói “lập trường”, “ lập trường giai cấp”, “ phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nông”… mà chẳng hiểu điều đó có nghĩa gì. Khi tắm biển, nhiều cô chú cũng thích chơi trò thả “cỏ bồng” để chạy đuổi theo chúng mà cười như nắc nẻ. Trong một đêm liên hoan văn nghệ quanh đống lửa trại, tôi thấy mọi người đứng thành vòng tròn, rồi từng đôi bước vào vòng nhảy với nhau theo một bài hát vui nhộn được gọi là “ Mí-đồ-đồ-đồ-phá-mí-rê”:

 

Yêu hòa bình Tổ quốc chúng ta

Yêu ruộng vườn quê hương ngàn đời

Toàn dân đoàn kết

Bước hiên ngang lòng vang câu ca.

 

Tôi còn được nghe các cô hát mấy bài của Liên Xô. Những bài hát mượt mà êm ái đầy tình cảm này khiến tôi cảm thấy đất nước ấy thật là tươi đẹp. Tôi cũng biết rằng Liên Xô đã có một vị lãnh tụ mới tên là Khơrutsôp, nhưng chưa được xem ảnh Bác này nên không vẽ được. Trên đường đi thăm Đền “Độc Cước” và Hòn “Trống Mai”, mọi người vừa đi vừa hát. Chỉ thỉnh thoảng tôi mới nghe thấy các cô chú nói về chuyện “sửa sai” với vẻ mặt quan trọng. Tôi hỏi má “sửa sai cái gì hả má?”; nhưng má bảo “chuyện người lớn, con không cần biết!”; rồi kể cho chúng tôi sự tích ngôi đền gọi là Độc Cước và hai hòn đá mang tên Trống Mái. Thì ra khi còn bé má đã được ông bà ngoại cho đi nghỉ mát ở Sầm Sơn và đã đến thăm những nơi này. Tôi cảm thấy chuyến đi chỉnh huấn với má thật thích thú, cũng giống như được đi nghỉ mát vậy. Sau khi đã về nhà nghe ba má nói chuyện với nhau, tôi mới biết rằng người ta đang “sửa sai” những cuộc đấu tố trong cải cách ruộng đất. Ba nói “ Sai lầm lớn lắm, chính Bác Hồ đã phải khóc mà thừa nhận trước Quốc Hội!”.Theo lời má kể, khi mời vợ anh giáo Bằng đến cơ quan huyện, người ta nhận lỗi là đã quy sai thành phần và xử tử sai đối với anh ấy, rồi hỏi: “Bây giờ chị muốn chính quyền bồi thường những gì?”. Vẫn mang băng tang trắng trên đầu, chị ấy chậm rãi trả lời: “Tôi không cần bồi thường gì hết, chỉ yêu cầu các ông trả lại chồng cho tôi!”.

 Tôi đã biết rằng khi viết chữ sai, người ta có thể sửa thành đúng; nhưng không biết  khi đã giết người sai, thì sẽ sửa bằng cách nào? Hồi trước, tôi cứ tưởng người lớn nói gì và làm gì cũng đúng, chỉ có trẻ con mới hay sai, nên chúng tôi phải vâng lời người lớn. Giờ đây, tôi biết chắc rằng người lớn cũng có thể sai. Sau này, tôi sẽ được biết những sai lầm to lớn của Stalin ở Liên Xô, rồi cả những sai lầm khủng khiếp của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc nữa. Nhưng cái sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất “long trời lở đất” ở nước ta lớn đến thế nào?, do đâu mà có?, những ai phải chịu trách nhiệm về nó?, nó tác hại ra sao đối với Tổ quốc và đồng bào mình?...thì mãi đến khi tóc đã điểm bạc, tôi mới tạm hình dung được hết.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác