NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - CHƯƠNG BA: ĐỜI MỚI (Phần 1)

( 01-01-2014 - 10:45 AM ) - Lượt xem: 609

Nhà em nay được chia ruộng cấy/ Nhà em lại có trâu cày/ Bóng em chạy nhảy trên đường thênh thang/ Em lại chăn trâu trên đồi/ Em hát em cười tươi như con sáo/ Nắng vàng, nắng vàng cả chiếc áo màu hoa…

1. Khi tôi bắt đầu đi học

 

Ngay sau ngày quân ta tiến về giải phóng thủ đô Hà Nội, ba tôi lại đạp xe về ấp thăm gia đình. Vừa đi qua miếu Sơn Thần, ông kinh ngạc trông thấy vợ mình đang ngồi đơn độc dưới chân núi hoang vắng. Dựng xe chạy đến bên vợ, ông rụng rời chân tay khi bà đứng dậy ôm lấy mình mà òa lên khóc, rồi chỉ vào nấm đất nhỏ kề bên mà bảo “Tuấn đấy anh!”. Cắn chặt răng, hít thở thật sâu và không nói một lời, ông khuân thêm mấy tảng đá đắp vào mộ cho con, rồi lặng lẽ ngồi bên mộ nghe bà kể rõ sự tình. Một lúc lâu sau, ông dìu vợ ra đường, lên xe đèo bà về nhà.

 Thấy ba má cùng về một lúc, tôi và em Hùng vui sướng chạy ra đón. Ba mở túi chia quà cho hai đứa, rồi rút ra mấy hộp sữa đặt lên bàn và nói với má: “ Anh có ngờ đâu, mua được sữa định đem về cho con, thì con đã…”. Chưa nói xong, ba đã bật khóc. Đó là lần đầu tiên tôi được thấy ba khóc. Ba lấy tay che mặt, khóc to đến mức rung cả hai vai, rồi còn thổn thức mãi. Tôi cũng chảy nước mắt vì thương ba và nhớ em Tuấn.

 Khi ấy, lần lượt dì Quỳ rồi đến gia đình dì Dung đã trở về Hà Nội, chỉ còn lại mấy má con tôi trong ngôi nhà trống vắng. Nay có thêm ba về khiến cho không khí gia đình trở nên ấm áp hơn. Ba bàn với má về việc đưa cả nhà lên thị xã sinh sống. Má lên huyện xin chuyển công tác về thị xã theo chồng, sau đó  bán nhà và giải quyết những công việc còn lại. Vào một ngày mùa thu sương mù phủ kín cánh đồng, gia đình chúng tôi rời khỏi ấp Hà Thanh, nơi đã lưu giữ biết bao kỷ niệm vui buồn trong gần 3 năm sinh sống. Ba buộc mọi thứ đồ đạc vào xe đạp, rồi chở em Hùng và tôi đi trước còn má sẽ từ từ đi bộ theo sau. Đến bên mộ em Tuấn, ba dừng xe đợi má . Lát sau, má đến cùng với một người đàn ông gánh đồ nặng trĩu trên vai. Người ấy chính là chú Xia được má thuê gánh chiếc giường đã được tháo rời để đưa nó lên thị xã cùng với mình. Chú Xia vẫn đội mũ lá và đeo túi dết, nhưng lại chào hỏi ba lễ phép, không hống hách như khi đang làm “cán bộ đội”. Cả gia đình tôi nhặt đá đắp thêm vào mộ của Tuấn, rồi đứng lặng im không nói một lời. Má lại khóc và cả nhà cùng trào nước mắt vĩnh biệt nấm mồ em Tuấn tội nghiệp để lên đường về nơi ở mới.

 Sau chiến tranh, thị xã Thanh Hóa hết sức điêu tàn. Hầu hết các công trình xây dựng kiên cố đã bị san bằng. Đường nhựa lỗ chỗ đầy ổ trâu ổ gà, đường sắt bị bóc hết, nhà ga không còn nữa. Phố xá toàn nhà tranh vách đất, chỉ thỉnh thoảng mới có những ngôi nhà gạch chen vào. Ba má tôi không tìm được một di tích nào trong số những ngôi nhà từng chứng kiến lễ cưới của hai người gần 8 năm về trước. Thị xã không có điện cũng chẳng có nước máy, nên dân “thành thị” vẫn phải dùng đèn dầu và nước giếng như ở nông thôn.

 

 

Trường Lam Sơn đã được dời về đây, trú đóng tại tòa nhà của một trường đạo cũ, thường được gọi là “trường Mission” thuộc Nhà Thờ Thanh Hóa. Cách trường một khoảnh sân không rộng có ngôi nhà lớn một tầng kiên cố, với tường gạch mái ngói và những cánh cửa bằng gỗ lim màu cánh gián lên nước bóng loáng, được gọi là “nhà Dòng”. Ngôi nhà này có lẽ là nơi ở cũ của các cha cố, nay các vị đã bỏ đi nên được dùng làm chỗ ở của các gia đình giáo viên nhà trường. Từ cửa chính mở bên hông tòa nhà bước vào sẽ thấy hai bên là hai dãy phòng ở của các gia đình. Một bên là hai phòng của thầy Phạm Việt Thường và của thầy Vũ Ngọc Khánh; bên kia là hai phòng của thầy Trần Lê Chức và của cô Phạm Thị Hải Đường-một chiến sĩ thi đua toàn quốc mới ở Trung Quốc về trường nhận công tác. Khi ấy ba tôi đã trở thành Hiệu trưởng (thay cho bác Đoàn Nồng về Hà Nội nhận công tác khác), nên gia đình được bố trí ở phòng lớn phía trong cùng của ngôi nhà. Được về nơi ở mới, tôi thấy rất vui vì có thêm nhiều bạn mới: bạn Khôi con thầy Khánh, bạn Quán con thầy Chức, bạn Dũng con cô Hải Đường, bạn Chương và bạn Quang con thầy Thường. Tôi ít chơi với Dũng vì nó có vẻ hãnh diện về sự khác biệt của mẹ: cô Hải Đường cắt tóc ngắn ngang vai, luôn mặc bộ quần áo ka ki xám và đi giày vải giống như người Trung Quốc, khác hẳn với các phụ nữ ở đây thường để tóc dài, mặc quần đen với áo cánh và đi guốc gỗ hay dép cao su. Hai anh em tôi thân nhất với anh em Chương-Quang, mặc dù Chương hơn tôi còn Quang hơn Hùng một tuổi. Nhà thầy Thường rất đông vui, ngoài hai đứa bạn tôi còn có anh Bằng, chị Oanh và chị Băng Tâm đang học ngay tại trường Lam Sơn, nghe nói còn có anh Việt Hải là một họa sĩ đang công tác trong quân đội.

 Tất cả các hộ sống trong nhà này cùng với toàn thể thầy trò trường Lam Sơn sử dụng chung nhau chỉ một nhà vệ sinh công cộng có 4 ngăn cũ kỹ trong một khu vườn chuối. Người sử dụng ngồi xổm, đặt chân trên 2 hòn gạch gắn bên miệng hố xí và thả phân qua hố xuống thẳng nền đất ở dưới mà không có thùng hứng. Mỗi cục phân và cả giấy chùi rơi xuống lập tức bị tràn ngập bởi một một đám giòi trắng lúc nhúc hàng nghìn con. Tôi luôn cảm thấy rợn người khi nhìn đám giòi kinh khủng ấy qua hố xí, nhưng có lẽ nhờ chúng mà phân được dọn hết nên cũng ít bốc mùi hôi thối.

 Má tôi về dạy lớp 1 tại Trường Phổ thông cấp I xã Đông Hương ở ngoại ô thị xã. Khi ấy tôi vẫn chưa đủ tuổi để chính thức nhập học, nên má xin cho tôi được học dự thính trong lớp của má. Mặc dù chỉ dự thính, tôi vẫn học giống như các học sinh chính thức, và không gặp khó khăn gì về quốc văn và học tính. Ngoài giờ học, tôi vẫn cùng em Hùng đi chơi tha thẩn trên những con đường thị xã. Dọc bên đường thường có nhiều ngôi nhà bị phá hủy từ lâu,chỉ còn trơ lại những nền nhà bằng phẳng. Cỏ cây mọc um tùm ở những dải đất hẹp chen giữa những nền nhà, trong đó thường nổi bật lên những đám cây cứt lợn có những chùm hoa nhỏ bằng cái chén hạt mít nhưng sặc sỡ muôn màu, do hàng trăm cánh hoa nhỏ li ti hợp lại mà thành. Những chùm hoa ấy sẽ biến thành những chùm quả mà mỗi quả chỉ bằng một hạt ngô nhỏ màu xanh, khi chín chuyển thành màu đen ăn thấy ngọt nhưng phải nhổ hạt ra.

 Khi ấy, tôi đã biết nhóm lửa vo gạo nấu cơm thành thạo, và còn biết nấu một số món ăn nữa, nên cũng đỡ đần việc bếp núc cho má được ít nhiều. Buổi tối, má thường kể chuyện cổ tích hay đọc truyện cho chúng tôi nghe. Truyện đầu tiên mà tôi say mê nghe má đọc là cuốn “Mai Hoa đi học” kể về một bé gái là học sinh lớp 1 ở Liên Xô. Tiếp đó là cuốn “Vichia Malêep ở nhà và ở trường” kể những chuyện rất thú vị về một đôi bạn học sinh lớp 4 ở Liên Xô. Sau khi nghe má đọc, tôi mượn má cuốn sách để tự đọc lấy.Tôi còn được má cho xem cuốn sách giáo khoa lớp 1 của Liên Xô đóng bìa cứng rất đẹp. Sách viết bằng chữ Liên Xô nên tôi không biết đọc, nhưng những hình vẽ rất đẹp với nhiều màu sắc khiến tôi mê mẩn xem hết trang này đến trang khác. Nhờ đó, tôi biết học sinh Liên Xô ăn mặc như thế nào: nam sinh mặc bộ đồng phục màu xám, đội mũ kêpi, đi giày da, đeo thắt lưng ngang bụng trông rất oách; còn nữ sinh cũng mặc đồng phục với váy nâu có yếm trắng phủ ngoài, đi giày có tất cao và tóc thắt bím buộc nơ. Anh em Chương-Quang còn đem khoe một cuốn sách to của Liên Xô nhưng viết tiếng Việt Nam chứa đầy ắp tranh vẽ thiếu nhi và nhiều con vật trong những chuyện rất vui, lại còn hướng dẫn làm trò chơi trong đó, khiến anh em tôi sang nhà chúng nó xem sách mà quên về nhà. Tôi thích nhất bức tranh vẽ một nhóm thiếu nhi xem xinêma, trên màn ảnh trắng có hai đường rạch bằng dao để đút “phim” vào đó rồi dùng tay kéo, khiến các hình vẽ trong “phim” lần lượt hiện lên màn ảnh cho các bạn trong tranh xem. Qua những sách và truyện ấy, tôi hình dung một cuộc sống thần tiên ở đất nước Liên Xô, và thầm ước mai này mình cũng sẽ được sống như vậy. Cũng ở đây, tôi đã được đọc cuốn sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên, và được ngắm chân dung Bác Hồ vẽ bằng bút sắt rất đẹp trong cuốn “Hồ Chủ tịch-Hình ảnh của dân tộc” của Phạm Văn Đồng. Nhờ đó, tôi hình dung Bác Hồ như một nhân vật trong truyện thần thoại, và đã vẽ được hình Bác  giống hơn so với trước.

 

 

Khi ấy dân Thanh Hóa đang bị đói, nhưng gia đình tôi vẫn đủ ngày hai bữa cơm, buổi sáng còn được ăn khoai luộc hay cơm rang nữa. Một buổi sáng trời lạnh, hai anh em tôi thủ mấy củ khoai luộc nóng trong túi áo rồi chạy đi chơi. Bỗng nhiên thấy hai đứa bé ăn mặc rách rưới là  con bác Thanh lao công của trường cũng chạy theo. Khi chúng tôi lấy khoai ra ăn, hai đứa ấy chìa tay xin: “Cho tao một miếng!”. Tôi bẻ cho con chị nửa củ khoai, nhưng Hùng không cho thằng em: “Của tao chứ!”. Thằng bé năn nỉ: “Cho tao cái đuôi cũng được!”. Hùng đành bẻ cho nó cái đuôi củ khoai có dính ít bột. Thằng bé bỏ ngay vào mồm nhai nuốt cả vỏ. Về nhà, tôi kể chuyện này cho ba má nghe, ba bảo má đong mấy bơ gạo mang sang biếu bác lao công.

 Một hôm thấy ở trường Mission trưng bày rất nhiều tranh ảnh, tôi thích quá chạy vào xem. Trên cả 4 bức tường của căn phòng rất rộng, người ta treo rất nhiều tranh vẽ được tô màu đẹp, xen vào đó là những bức ảnh chụp rất to. Tất cả đều vẽ và viết về tội ác của địa chủ. Những tên địa chủ trông cực kỳ hung ác: mắt trắng dã trợn trừng, mồm đầy răng nhọn hoắt nhe ra như muốn ăn thịt người…Có bức tranh vẽ một bó nứa đã chẻ và đập giập treo một đầu trên cây cao, một anh nông dân cởi trần ôm bó nứa đó mà tuột từ trên cao xuống đất, máu me đầm đìa khắp người. Mảnh giấy dán dưới tranh viết chữ giải thích: vì không vâng lời, anh nông dân bị địa chủ trừng trị bằng cách đó. Một tranh khác vẽ tên địa chủ đứng trên chiếc chày giã gạo, trong chiếc cối đá dưới cái chày là một em bé nông dân thịt xương tung tóe máu bắn khắp nơi. Mảnh giấy dán dưới tranh viết: vì làm mất con bò, em bé này bị địa chủ cho vào cối giã nát. Cạnh đó lại có bày một bộ chày cối giã gạo thật, trên dán một tờ giấy viết: bộ chày cối này đã được địa chủ dùng để giết em bé nông dân. Một tranh khác vẽ một tên địa chủ trợn mắt vung chiếc cuốc lên sắp bổ vào đầu một anh nông dân đang bò dưới đất mà khóc lóc. Mảnh giấy ở tranh này viết: vì đói phải ăn trộm mấy bắp ngô, người nông dân này bị địa chủ lấy cuốc bổ chết. Lại có một tranh vẽ mụ địa chủ đứng chống nạnh, chỉ tay vào mặt chị nông dân đang quỳ lạy dưới đất bên cạnh một cái bát to đựng đầy những quả trứng, từ mồm mụ tuôn ra dòng chữ “ Mày không ăn hết cũng chết với bà!”. Bên cạnh bức tranh là một tờ giấy viết: vì đói phải ăn vụng một quả trứng vịt luộc, chị nông dân bị mụ địa chủ bắt ăn một lúc mười quả, đã chết vì đầy bụng tắc ruột. Cả gian phòng chất đầy tội ác địa chủ mà tôi không thể nhớ hết. Sợ quá, tôi không còn muốn xem tranh nữa, phải chạy ngay về nhà. Tôi hỏi: “ Ba ơi, sao địa chủ ác quá vậy ba?”; ba hỏi lại: “Ai bảo con thế?”.  Tôi kể lại các bức tranh vừa xem trong trường; ba nói: “Tranh là tranh, còn thật là thật, không phải những gì vẽ trong tranh đều là sự thật. Những tranh ấy để cho người lớn xem, trẻ con không nên xem”.

 Một buổi tối, mọi người trong nhà nao nức gọi nhau đi xem chiếu bóng ở sân vận động thị xã. Má dắt hai anh em tôi đi. Bọn trẻ con cùng nhà với chúng tôi cũng vui sướng đi theo người lớn. Mọi người cầm theo những chiếc ghế nhỏ hay những mảnh giấy dùng để lót chỗ ngồi. Chúng tôi ngồi giữa sân vận động đông nghịt người. Phía cuối sân treo cao một màn ảnh bằng vải trắng hình chữ nhật rất to được viền 4 xung quanh bằng vải đen. Tiếng máy nổ xình xịch làm sáng trưng mấy bóng đèn ở góc sân. Tiếng loa vang vang giới thiệu đoàn chiếu bóng lưu động về phục vụ bà con tỉnh nhà, kêu gọi mọi người giữ trật tự để buổi chiếu bắt đầu. Bỗng nhiên đèn vụt tắt, tất cả tối om. Một cỗ máy ở sau lưng chúng tôi phát ra tiếng sè sè, rồi từ đó một luồng ánh sáng cực mạnh xuyên màn đêm chiếu thẳng lên màn ảnh những dòng chữ Trung Quốc cùng âm nhạc réo rắt. Tiếng thuyết minh vang lên giới thiệu bộ phim nổi tiếng của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhan đề “Bạch Mao Nữ”. Mọi người trố mắt nhìn lên màn ảnh xem những người trên đó đi lại, nói năng, hoạt động trong nhà và ngoài đường giống y như thật. Tôi nhận ra câu chuyện đang được kể trên màn ảnh. Đến chỗ nào không hiểu phải hỏi, má lại giải thích cho. Thì ra tên địa chủ Hoàng Thế Nhân đã áp bức, bóc lột tàn bạo cô nông dân Hỷ Nhi. Đến lúc tên địa chủ hãm hiếp cô này, một số người đang ngồi xem bỗng đứng lên hô to mấy lần: “Đả đảo địa chủ cường hào gian ác!”. Nhiều người khác vung nắm tay hô theo: “Đả đảo! Đả đảo! Đả đảo!”. Gạch đá tới tấp bay lên màn ảnh nhằm vào tên địa chủ. Bỗng có tiếng súng nổ “Đùng!”. Những người ngồi xung quanh tôi đoán rằng có anh bộ đội nào đó, vì quá căm thù địa chủ, đã rút súng bắn Hoàng Thế Nhân trên màn ảnh. Đến khi Hỷ Nhi trốn được vào rừng, trở thành cô gái tóc trắng giống như một hồn ma, sự nhốn nháo trên sân mới chấm dứt. Hết phim, đèn bật sáng. Mọi người đứng dậy ra về và tiếp tục bàn tán về câu chuyện bạch mao nữ trở thành “Bạch Mao tiên cô”. Còn tôi thì biết rằng mình vừa được “xem xinêma” thật lần đầu tiên, hay hơn xinêma trước đây do cậu Bính vẽ.

 

 

Sau khi cho nhân dân xem những tội ác của địa chủ được vẽ trên tranh và chiếu trên màn ảnh, người ta đã lùng bắt những con người thật bị quy là địa chủ, đem ra đấu tố rầm rộ rồi trừng trị họ, cho thỏa lòng căm thù của những người bần cố đã được “bắt rễ xâu chuỗi”. Chẳng bao lâu sau, trên đường theo má đến trường Đông Hương, tôi trông thấy rất nhiều thẻ nhận ruộng được cắm trên những cánh đồng khô cạn và nứt nẻ vì hạn hán. Cùng lúc đó, tôi học được một bài hát khá hay về cải cách ruộng đất, trong đó thấy rõ cảnh khổ của một chú bé chăn trâu cho địa chủ:

 

Trên đồi cao, gió đông thổi rì rào

Mà sao em vẫn đứng chăn trâu

Sương chiều xuống dần mà sao chưa về hỡi em?

Áo em đâu, mà sao em đứng rét run?

                                 …….

Nên chiều nay, dù sương trắng buông xuống dần

Từng lằn roi còn tê buốt trên mình em…

 

Còn đây là cuộc sống vui tươi của em sau ngày cải cách:

 

Nhà em nay được chia ruộng cấy,

Nhà em lại có trâu cày

Bóng em chạy nhảy trên đường thênh thang.

Em lại chăn trâu trên đồi

Em hát em cười tươi như con sáo

Nắng vàng, nắng vàng cả chiếc áo màu hoa…

 

“Áo hoa” là hình ảnh được lặp đi lặp lại trong nhiều bài hát và bài thơ miêu tả cuộc đời mới của người Việt Nam. Nó hòa nhập với dân Liên Xô “vui hát trên đồng hoa” và dân Trung Hoa “hương sắc hoa muôn màu”, tạo thành một bức tranh rực rỡ toàn hoa là hoa trong tâm trí mọi người. Nhưng ở những nơi mà mình đã đi qua, rất hiếm khi tôi được nhìn thấy những người mặc áo hoa thật sự. Có một đêm, đang ngủ tôi chợt tỉnh giấc vì nghe có tiếng xì xào. Qua ánh đèn dầu leo lét trong phòng, tôi thấy má đang thì thẩm  với một người phụ nữ trùm khăn đen có một cậu con trai đứng bên. Má bảo: “Chúng em rất thương hoàn cảnh chị, nhưng cũng xin chị thông cảm cho hoàn cảnh chúng em”, rồi đưa cho người phụ nữ đó một cái túi, và mở cửa dẫn cả hai người ra khỏi phòng. Lúc trở vào, má nói một mình: “Tội nghiệp quá!”. Về sau, tôi được biết người phụ nữ đó là chị họ bên ngoại của má mà tôi phải gọi là bác Thựu. Là người có học, bác rất hiền, chỉ chăm lo dạy học và rất ham đọc sách, nhưng không hiểu vì sao lại bị quy là địa chủ, may mà chưa bị giết, nhưng bị tịch thu hết tài sản phải bỏ nhà đi tha phương cầu thực. Đêm đó, bác dẫn theo người con trai nhỏ mà tôi gọi là anh Tuấn đến xin tá túc ở nhà chúng tôi. Má không dám cho bác ở lại vì sợ bị tố cáo là có liên quan với địa chủ, đành giúp bác chút ít gạo tiền để hai mẹ con bác ra đi ngay trong đêm đông rét mướt.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác