NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 9, PHẦN 6

( 06-04-2016 - 05:39 AM ) - Lượt xem: 658

“Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”

 6. Bạo động và cải lương

 

 Chỉ cách một ngày chủ nhật sau lễ kết nạp trên, toàn khối Sử 2 chúng tôi lại lên đường tham gia một chuyến đi “Thực tế đời sống” trong nửa tháng trời. Lần này lớp chia thành mấy nhóm, mỗi nhóm về một xã thuộc một huyện nào đó của tỉnh Hưng Yên để kết hợp với các nhóm tương tự của khoa Văn và khoa Địa thành một đoàn sinh viên ĐHSP đi thực tế tại nơi đó. Khoa trích xuất tiêu chuẩn gạo, phiếu thực phẩm và tiền ăn cho các nhóm mang theo đủ dùng suốt đợt.

 Sau một cuộc hành trình bằng cách đèo nhau trên xe đạp, nhóm của tôi gồm 8 người cùng nhóm khoa Địa cũng 8 người và nhóm khoa Văn đông gần bằng hai nhóm Sử - Địa cộng lại đã họp mặt tại sân đình của một thôn thuộc một xã ở huyện Kim Động.

 Mặc dù là sinh viên cùng khóa của cùng một trường, nhưng mỗi nhóm thuộc mỗi khoa đều có sắc thái riêng. Nhóm khoa Văn hơi có vẻ kênh kiệu, lại nổi bật với một chàng trai đỏm dáng thường mặc sơ mi trắng đeo cravat (một vật vô cùng hiếm mà không mấy ai dám dùng vì sợ mang tiếng là tạch-tạch-sè ), bên ngoài luôn khoác chiếc áo bông có cổ lông đặc sắc . Nhóm Địa có vẻ bình dân hơn nên chỉ nổi lên một chàng trai mang theo cây sáo trúc. Nhóm Sử chúng tôi cũng rất khiêm nhường và chỉ trình làng một cây đàn guitar. Ba nhóm như vậy hợp thành đoàn do thầy Thành Thế Thái Bình (cán bộ giảng dạy khoa Văn) làm trưởng đoàn. Là người vui tính và rất hòa đồng với sinh viên, thầy cho trộn lẫn sinh viên 3 khoa với nhau rồi chia lại thành từng nhóm nhỏ (chỉ 3-4 người một nhóm) để bố trí vào ở nhà dân. Thầy căn dặn chúng tôi phải giữ kỷ luật dân vận cho tốt để “ba cùng” với dân mà tìm hiểu thực tế đời sống nông thôn. Trong khi các nhóm rủ nhau đi tìm nhà ở theo tên chủ nhà đã được phổ biến, thầy ngồi lại dưới mái đình chơi cờ tướng với một sinh viên khoa Văn được cử làm phó đoàn, rồi đạp xe trở về Khoa mà không ở lại “ba cùng” với chúng tôi.    

 Tôi ở chung nhóm với hai sinh viên khoa Địa là Hùng-chàng trai thổi sáo và Mai-cô gái  mặt tròn trán cao người Mường mặc quần đen với áo cánh trắng, đội khăn trắng và đeo vòng cổ bằng bạc đúng kiểu trang phục dân tộc mình. Hùng với tôi cùng ở một nhà và chúng tôi nhanh chóng thân nhau do cùng chung sở thích về âm nhạc. Mai ở trọ một mình và nhận nhiệm vụ nấu ăn chung cho cả nhóm. Nhận được số gạo và tiền do chúng tôi mang đến, chủ nhà rất hài lòng nên đã cho Mai được toàn quyền sử dụng mọi thứ để nấu ăn, kể cả vại cà, chĩnh tương và hũ mắm phơi ngoài sân. Chúng tôi còn được dùng “gạo quê” rất ngon của chủ nhà thay cho “gạo mậu dịch” mà mình đã trao cho họ, rồi được dùng cả su hào bắp cải tươi mới trong vườn nhà chủ. Những nguyên liệu tốt tươi như vậy cùng với tôm cá mua ở chợ làng, qua tài củi lửa khéo léo của Mai ( cách nấu ăn của người Mường cũng chẳng khác gì người Kinh) đã biến thành những bữa cơm no và ngon hơn cơm tập thể mà mình đã quen dùng; ngoài ra lại còn có khoai lang hoặc khoai sọ luộc ăn sáng nữa.

 Thỉnh thoảng ghé qua trụ sở Ủy ban Hành chính xã, chúng tôi còn được nghe đài và đọc báo. Nhờ đó, chúng tôi biết rằng cuộc phản công chiến lược mùa khô của Mỹ đang diễn ra rất ác liệt với chiến dịch lớn mang tên “Gian-xơn Xi-ti” (Junction City) điều động 45.000 quân tinh nhuệ với rất nhiều máy bay, xe tăng , trọng pháo đánh vào khu căn cứ Dương Minh Châu của quân ta ở tỉnh Tây Ninh. Rồi chúng tôi được nghe và nhanh chóng học thuộc ca khúc mới đặc sắc của Vũ Trọng Hối và Đăng Thục nhan đề “Bước chân trên dải Trường Sơn”:

 

                              Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn

                              Đá mòn mà đôi gót không mòn.

                              Ta đi nhằm phương xa gió ngàn đưa chân ta về quê hương

                              Quân về trong gió đang dâng triều lên.

                              Máu thắm đường ta đi lẫn mồ hôi rơi tình quê tha thiết

                              Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình…

 

 Chắc chắn ca khúc hào hùng mà tha thiết này (cùng những nhạc phẩm tương tự khác) đã và đang góp phần thôi thúc các đoàn quân ta băng qua dải Trường Sơn đầy máu lửa tiến vào Nam đương đầu với quân Mỹ-Ngụy.

 Tôi và Hùng thường hay đàn sáo ca hát với nhau trong những ngày vui sống ở đây; nhưng vẫn còn một nỗi băn khoăn: bọn chúng tôi đi thực tế ở đây để làm gì? Nếu để ba cùng  với dân thì chỉ đạt một là “cùng ở”, chưa được “cùng ăn” vì chủ nhà vẫn để chúng tôi ăn riêng; “cùng làm” lại càng không, vì chúng tôi chỉ ăn không ngồi rồi mà không ai cần sinh viên ra đồng làm việc với các xã viên hợp tác xã. Nếu đến đây để tìm hiểu đời sống nông dân thì quả là thừa, bởi vì sau hơn năm trời sơ tán ở Hưng Yên, chúng tôi đã hiểu từng chân tơ kẽ tóc đời sống nông dân. Tiếc cho thời gian uổng phí, tôi lại da diết nhớ Thiên Hương (lúc này nàng cũng đang thâm nhập thực tế ở một đoàn khác).

 Mãi về sau, tôi mới tìm được lời giải đáp cho nỗi băn khoăn này: đó là đường lối đào tạo cán bộ của Đảng ta. Vì sợ trí thức (với cả sinh viên) hiểu nhiều biết rộng sẽ trở nên tạch-tạch-sè mà xa rời lập trường chính trị của công-nông, Đảng yêu cầu họ phải thường xuyên đi thực tế đời sống nông thôn để tiếp nhận lối sống của những người bần nông ít học luôn sẵn sàng tôn thờ và tuân phục sự dẫn dắt của Đảng. (Đường lối này do Bác Mao khởi xướng ở Trung Quốc, được Đảng ta nghiêm túc thực hiện). Kế hoạch đi thực tế đời sống đã được Trường vạch ra từ trước khi đi sơ tán, nay vẫn cứ theo đó mà thực hiện, cho dù cuộc sống nơi sơ tán đã quá đủ để sinh viên hiểu rõ thực tế đời sống của người nông dân là như thế nào. Chúng tôi đã thuộc lòng câu nói cửa miệng của bà con nông dân: “Ơn Đảng-Bác” hoặc “Ơn Đảng-ơn Chính phủ!”. Học được phong tục ở nông thôn (khác với  thành phố), khi gặp dân địa phương trên đường làng tôi luôn chào hỏi thân mật (thí dụ: “Chị đi chợ đấy ạ!” hoặc “Chào cụ đi chơi ạ!”). Chỉ có điều không sao học được là thói quen đi chân đất và phương pháp “hai xoa-một đập” của bà con trước lúc đi ngủ: họ ít khi rửa chân mà chỉ cần ngồi lên giường xoa hai gan bàn chân vào nhau (hai cú) cho đất cát rơi xuống, rồi đập hai bàn chân vào nhau (một cú) cho sạch bụi là yên tâm co chân lên giường đắp chăn!

 Khoảng giữa đợt, thầy trưởng đoàn lại đến thăm chúng tôi. Sau khi nghe các nhóm báo cáo tình hình ăn ở và sinh hoạt, thầy chúc mọi người vui khỏe rồi lại chơi cờ tướng với các sinh viên khoa Văn; và tôi cũng nhập bọn để xem. Trong một ván đấu với anh chàng thắt cravat, khi tàn cuộc thầy hơn quân với một “xe” một “pháo”, trong khi đối thủ chỉ còn duy nhất một “xe”, nhưng thầy loay hoay mãi mà không bắt được “tướng” địch. Biết rõ thế cờ này chỉ có thể giành thắng lợi bằng nước “Thủy Để” mà mình đã học được của cụ Thọ, tôi liền mách cho thầy. Thế là chỉ sau 5 nước đi, thầy đã buộc anh chàng “cravat” phải đầu hàng giữa tiếng vỗ tay của khán giả. Kết thúc cuộc cờ, thầy  chuyện trò với tôi rất thân mật, rồi hẹn cuối đợt thực tế sẽ đến để tỷ thí cùng tôi. Nhân tiện, tôi hỏi: “Cuối đợt chúng em có phải viết thu hoạch để nộp cho thầy chấm không ạ?”. Thầy xua tay: “Chẳng cần! Các bạn cứ ăn no ngủ khỏe vui vẻ hết đợt là thu hoạch tốt rồi!”. Nói xong, thầy  lên xe đạp về khoa.

 

 Vào cuối đợt, trong khi chờ thầy Bình trở lại đoàn, chúng tôi bỗng được gặp một nhân vật nổi tiếng được nhiều người mến mộ: nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Khi ấy, nhạc sĩ này đã đi thực tế đời sống mấy năm liền ở Hưng Yên, nay nghe tin có đoàn thực tế của sinh viên ĐHSP về huyện Kim Động, ông liền đề nghị chính quyền địa phương giúp tổ chức một cuộc gặp gỡ đoàn tại phòng họp trong trụ sở Ủy ban Hành chính huyện. Đã từng ham thích nhiều ca khúc của ông như “Dư âm”, “Vượt trùng dương”, “Dôia-Bùi Thị Cúc”, “Mẹ yêu con”…, nay tôi hết sức vui mừng khi được tiếp kiến tại nơi đây chính tác giả của chúng-một người đàn ông trung niên tầm thước đẹp trai với mái tóc lượn sóng và giọng nói dịu dàng cuốn hút. Ông giới thiệu với chúng tôi mấy ca khúc mới sáng tác là thành quả của cuộc đi thực tế này: “Tiễn anh lên đường” (phục vụ các phong trào Ba Sẵn sàngBa Đảm đang), “Múa hát mừng chiến công” ( chiến công bắn rơi máy bay Mỹ và phát triển sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc), “Bài ca Năm tấn” (phục vụ chủ trương xây dựng các cánh đồng “Năm tấn thóc để góp phần đánh Mỹ” của Đảng ta)…Rồi ông dành nhiều thời gian dạy chúng tôi hát bài “Chim hót trên đồng đay” (phục vụ chủ trương của Đảng về việc đẩy mạnh trồng đay phục vụ quân sự). Vốn có năng khiếu học hát rất nhanh, nhưng tôi học mãi vẫn không thuộc bài này, mặc dù tác giả đã giải thích kỹ lưỡng về tiết tấu, giai điệu và ca từ của nó trên nền đệm đàn guitar. Tôi chỉ mong nhạc sĩ nói về âm- một bản tình ca tuyệt vời, nhưng mãi vẫn không thấy ông đả động gì đến nó. Quá sốt ruột, tôi giơ tay xin phát biểu: “ Cháu xin chú nói vài lời về ca khúc Dư âm có được không ạ?”. Nguyễn Văn Tý hơi giật mình, ngước nhìn cờ đỏ và ảnh Bác treo cao trên tường rồi mới trả lời: “ Cảm ơn anh bạn trẻ đã nhắc tôi. Nhưng bài ấy sáng tác đã lâu nên tôi quên nó rồi, mong bạn thông cảm!”.

 Thất vọng với sự “quên” kỳ lạ của người nhạc sĩ tài hoa ấy, tôi trở về nhà trọ mang theo cây đàn guitar cùng với một nỗi buồn. Vẫn biết Dư âm bị coi là “nhạc vàng” nên không được phép hát, nhưng tôi vẫn hy vọng tác giả của nó có thể cho biết những chi tiết thú vị về kiệt tác này. Không ngờ Nguyễn Văn Tý lại chẳng còn muốn nhớ đến đứa con tinh thần của mình nữa, trong khi bản thân tôi vẫn thuộc lòng và say mê nó. Lúc này, chính Dư âm làm tôi thêm nhớ Thiên Hương; mà nhớ nàng thì mình lại muốn hát Dư âm! Thế là tôi vừa đệm đàn vừa hát:

 

                              Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ

                              Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ.

                              Mái tóc nhẹ rung, trăng vờn làn gió

                              Yêu em anh nắn cung đàn đầy vơi đôi mắt xa xôi…

 

Cả gan hát “nhạc vàng”, tôi quả là điếc không sợ súng! Trong những năm sau, tôi sẽ được biết Đặng Đình Mai-bạn học cũ của mình tại trường Ngô Quyền trở thành cầu thủ của đội bóng đá Công an Hải Phòng- chỉ vì can tội nghe và hát nhạc vàng, lại thêm “hủ hóa” với vợ cán bộ nên đã bị chính quyền bắt đi tù 9 năm, rồi lưu đày ở Nghệ An cho đến khi chết vì đột quỵ. Cũng về sau, tôi mới biết nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý từ lâu đã bị kiểm thảo về bài hát Dư âm ủy mị trụy lạc theo lập trường lãng mạn tiểu tư sản và buộc phải tuyên bố từ bỏ nó, để chuyển sang sáng tác những nhạc phẩm theo đường lối cách mạng của Đảng ta.

 

Ngay khi vừa kết thúc đợt đi thực tế vui buồn lẫn lộn để trở về nơi sơ tán, tôi phát hiện ra là mình đã bị mất sạch tiền bạc với tem phiếu, và đáng tiếc nhất là những bức ảnh kỷ niệm quý báu đã không cánh mà bay theo chúng! Chẳng thể nào tìm được thủ phạm của vụ trộm, lại thêm thái độ của Thiên Hương bỗng nhiên lại trở nên dè dặt xa cách mình, một lần nữa tôi chìm vào tâm trạng buồn chán ê chề về sự phức tạp và nhơ nhớp của cuộc đời, để hồi nhớ khôn nguôi những năm tháng tươi đẹp đã trôi qua ở thành phố Hải Phòng thân yêu trái ngược với thực tại nặng một màu ảm đạm. Ngay cả khi có Đoàn chiếu bóng lưu động về phục vụ tại sân kho HTX Phí Xá, bạn bè trong lớp náo nức rủ nhau đi xem phim cùng dân chúng địa phương, tôi cũng chẳng đoái hoài mà cứ ngồi lì ở nhà chong đèn chép nhạc và viết nhật ký giải sầu. Chẳng hiểu từ đâu mà mấy câu thơ này của Chế Lan Viên rơi vào tâm trí mình, để rồi cứ nỉ non da diết như tiếng lòng của chính mình vậy:

 

                              “Với tôi tất cả như vô nghĩa

                               Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”

 

 Cũng may, khi ấy thầy Kiệm mới trở về sau chuyến đi điền dã ở vùng núi rừng Yên Thế (Bắc Giang) đã cuốn hút tôi vào một loạt thông tin khoa học do thầy mới phát hiện về cuộc khởi nghĩa của cụ Hoàng Hoa Thám. Thầy rủ anh Xương và tôi cùng tham gia nghiên cứu để cho xuất bản một cuốn chuyên khảo về khởi nghĩa Yên Thế; rồi còn dự định sau này sẽ đề nghị Khoa giữ cả hai chúng tôi làm cán bộ giảng dạy cùng tổ bộ môn với thầy. Thế là tôi tạm gạt bỏ  nỗi buồn để lấy lại hứng thú học tập, và còn hứa sẽ vẽ bìa cho cuốn sách sắp xuất bản của thầy. (Sau đó nhiều năm thầy Kiệm sẽ xuất bản được công trình nghiên cứu của mình, nhưng dự định của thầy về sự cộng tác của tôi và anh Xương ở Khoa đã không thành).

 

 Trong học kỳ hai, thầy Phạm Gia Hải tiếp tục giảng về LSTG Cận đại từ 1870 đến năm 1918. Qua chương “Chiến tranh Pháp-Phổ và Công xã Pa-ri (1870-1871)”, chúng tôi hiểu rõ Thủ tướng Bismarck của Hoàng đế Wilhelm I đã thống nhất nước Đức bằng đường lối “sắt và máu” của chủ nghĩa quân phiệt Phổ, đồng thời hiểu rõ Công xã Paris là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới mà chính Marx.đã chứng kiến. Cuộc cách mạng này thất bại vì nó nổ ra khi CNTB còn mạnh; nhưng các chiến sĩ Công xã đã nêu gương anh dũng  “tấn công lên trời” và đã để lại cho phong trào cộng sản mai sau bài “Quốc tế ca” (L’Internationale) sục sôi nhiệt huyết chiến đấu để “phá sạch tan tành” chế độ xưa.

 Qua chương “Sự phát triển của kinh tế và khoa học-kỹ thuật  cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX”, chúng tôi hiểu rõ rằng, dựa trên sự phát triển cực kỳ mạnh mẽ của khoa học-kỹ thuật, nền kinh tế các nước Âu-Mỹ đã phát triển vô cùng mãnh liệt (như chính Marx đã thừa nhận: của cải vật chất do CNTB tạo ra đã vượt xa tất cả các thời đại trước đó cộng lại). Trong bối cảnh này, phong trào cách mạng vô sản quốc tế đã bước sang một chương mới: “Quốc tế II và chủ nghĩa xét lại”. Kế thừa di sản của Quốc tế I, các nhà marxists đã thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở các cường quốc Âu-Mỹ (Đảng Công nhân Xã hội-Dân chủ Đức, Đảng Công nhân Anh, Đảng Xã hội Pháp, Đảng Xã hội Mỹ…) để từ đó lập nên Quốc tế II vào năm 1889 với sự hiện diện của Engels. Các nhà lãnh đạo tổ chức này (như Eduard Bernstein, Karl Kautsky…) vẫn dựa trên sự giải thích của Marx về CNTB, nhưng không  đi theo con đường cải tạo thế giới bằng “sự phê phán của vũ khí” dẫn đến “trận cuối cùng” phá sạch và chôn vùi CNTB, mà chủ trương dùng “vũ khí phê phán” đòi quyền lợi cho giai cấp công nhân để cải biến CNTB theo khẩu hiệu “Phong trào là tất cả, mục đích cuối cùng chẳng là gì”. Đảng Công nhân Xã hội-Dân chủ Nga do G.V. Plêkhanốp sáng lập cũng theo đường lối này, nhưng một bộ phận trong đó do V.I. Lênin đứng đầu (được gọi là “Bônsêvích”- những người “Đa số”) nhất quyết trung thành với đường lối bạo lực cách mạng của Marx. Lênin còn phát triển chủ nghĩa Mác khi ông phát hiện ra rằng CNTB đã bước sang giai đoạn tột cùng của nó là chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ), một giai đoạn được coi là “đêm trước” của cuộc cách mạng vô sản (tức cách mạng XHCN) sẽ bùng nổ. Lên án các lãnh tụ Quốc tế II theo “chủ nghĩa xét lại” (tức là xét lại chủ nghĩa Mác), Lênin thành lập “đảng kiểu mới” có tổ chức chặt chẽ và kỷ luật nghiêm minh (theo nguyên tắc tập trung-dân chủ) để tiến hành cách mạng vô sản, rồi sau đó sẽ thành lập Quốc tế III tức Quốc tế Cộng sản để đẩy mạnh phong trào cách mạng này.

 Thầy trò chúng tôi dạy và học theo chủ nghĩa Mác-Lênin, nên dĩ nhiên phải xem xét các nhân vật và sự kiện theo quan điểm của chính Lênin. Theo đó, chúng tôi phê phán chủ nghĩa xét lại của Quốc tế II là sai lầm và hèn nhát, đồng thời ca ngợi sự trung thành và phát triển học thuyết Mác của Lênin là vô cùng sáng suốt và dũng cảm. Chúng tôi còn phải đọc kỹ các tác phẩm “kinh điển” của Lênin là cuốn “Chủ nghĩa Đế quốc-giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” (để quán triệt 5 đặc điểm cùng với 3 mâu thuẫn của CNĐQ sẽ dẫn tới chiến tranh và cách mạng vô sản) và cuốn “Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau-xki” (để hiểu rõ bộ mặt đen tối của bọn “cơ hội” theo chủ nghĩa xét lại).  

 Dường như để chứng minh cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Lênin, cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất (1914-1918) đã bùng nổ giữa hai phe đế quốc để báo hiệu sự diệt vong của CNTB bằng sự thành công của cuộc Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga do chính Lênin lãnh đạo.

 Phải đến nhiều thập kỷ sau, khi các sự kiện thực tiễn dần dần cho thấy CNTB cứ tồn tại và phát triển mãi mà không có “giai đoạn tột cùng” nào hết, trong khi CNXH đã sụp đổ hoàn toàn ngay tại chính nơi mà nó đã phát sinh, người ta mới nhận ra rằng: chân lý không ở phía những người trung thành và phát triển chủ nghĩa Mác, mà lại thuộc về những người lãnh đạo Quốc tế II xét lại chủ nghĩa đó. Karl Marx có một danh ngôn vô cùng chính xác: “Bản chất của con người là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”. Nói vậy có nghĩa là mỗi con người dù được sinh ra và lớn lên trong bất cứ hoàn cảnh xã hội nào đều có quyền được sống theo cách của mình cùng tất cả những người khác. Ấy vậy mà chính Marx lại cứ khăng khăng đòi giai cấp vô sản phải tiêu diệt giai cấp tư sản là cớ làm sao? Rõ ràng đó là một sai lầm kinh khủng của Marx mà các lãnh tụ Quốc tế II đã vạch rõ.

 

 Trong phần LSVN Cận đại, thầy Hồ Song giảng dạy tiếp về “Chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX”. Chúng tôi được nghe giảng rằng thực dân Pháp du nhập phương thức sản xuất TBCN vào Đông Dương chỉ là để ra sức bóc lột thuộc địa làm giàu cho chính quốc, còn nhân dân ta thì chẳng được gì ngoài cảnh sưu cao thuế nặng thuốc phiện rượu cồn phu phen tạp dịch, đến nỗi phải bỏ mạng trên các đồn điền cao su ở Nam Kỳ hoặc tha phương cầu thực ở tận Tân Thế Giới ( Nouvelle Caledonie thuộc Pháp). Nhưng những biến chuyển to lớn về kinh tế-xã hội đương thời cùng với các “tân thư” thuộc hệ tư tưởng Khai Sáng của Lư Thoa (Rousseau), Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi), Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu…đã giúp các sĩ phu nho học nước ta nhận rõ con đường cứu nước dựa trên giá trị của nền văn minh mới du nhập từ các nước Âu-Mỹ. Các phong trào Đông Du và Việt Nam Quang Phục Hội (do Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Hàm…lãnh đạo), Đông Kinh Nghĩa Thục (của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí…), phong trào Duy Tân và chống sưu thuế (do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp khởi xướng) đều diễn ra theo con đường xóa bỏ di sản phong kiến Nho giáo hủ lậu, phát huy các giá trị văn minh mới để dân tộc trở nên cường thịnh mà giành lại độc lập. Trong các phong trào trên, nổi bật lên hai cụ Phan tiêu biểu cho hai khuynh hướng hoạt động khác nhau: Phan Bội Châu ( chủ trương cầu viện Nhật Bản đồng thời chuẩn bị lực lượng để tiến hành bạo động đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp) và Phan Châu Trinh (đấu tranh cho sự hợp tác Pháp-Việt nhằm khai sáng theo mục tiêu “Khai dân trí-Chấn dân khí-Hậu dân sinh” để dân tộc ta vươn lên). Thầy Hồ Song đã tóm gọn hai khuynh hướng đó bằng hai từ là “bạo động” (của Phan Bội Châu) và “cải lương” (của Phan Châu Trinh); rồi cho chúng tôi thảo luận xem khuynh hướng của cụ nào đúng đắn và có hiệu quả hơn?

Muốn giải quyết vấn đề này, chúng tôi phải tìm hiểu tư tưởng của hai cụ thể hiện qua sự nghiệp của mỗi người trong những tài liệu gốc như các cuốn “Phan Bội Châu niên biểu”“Văn thơ yêu nước của Phan Bội Châu”, toàn văn “Thư gửi Toàn quyền Paul Beau”“Thư Thất điều” của Phan Châu Trinh, cuốn “Văn minh Tân học sách” của Đông kinh Nghĩa thục…Bộ sách “Tài liệu tham khảo Cách mạng Cận đại Việt Nam” của Viện Sử học (Trần Huy Liệu chủ biên) cũng giúp ích chúng tôi rất nhiều. Qua đó, chúng tôi nhận thấy mọi hình thức hoạt động của mỗi phong trào đều có tác dụng tích cực trong từng lĩnh vực. Tuy nhiên, quán triệt quan điểm của Đảng ta về “bạo lực cách mạng” và “cách mạng triệt để”, chúng tôi thống nhất nhận định rằng khuynh hướng “bạo động” của Phan Bội Châu là đúng đắn và có hiệu quả hơn (ngoại trừ việc cầu viện Nhật Bản “đồng chủng đồng văn” giúp ta đánh Pháp là ngây thơ về chính trị), còn khuynh hướng “cải lương” của Phan Châu Trinh là sai lầm vì nó trông chờ ở thiện chí của thực dân Pháp đối với dân ta, là điều không thể có.

 Thầy tán thành lập luận và nhận định của chúng tôi, nhưng đã giảng thêm rằng: các phong trào yêu nước do giới sĩ phu lãnh đạo, dù theo khuynh hướng bạo động hay cải lương, đều thuộc về đường lối giải phóng dân tộc theo lập trường tư sản đã lạc hậu nên sẽ không có triển vọng tươi sáng; còn tương lai thuộc về đường lối giải phóng dân tộc theo lập trường vô sản do đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tìm được nơi chủ nghĩa Lênin. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thàng Quốc tế III của Lênin tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp ở Tour (12-1920) đã mở đầu cho đường lối giải phóng dân tộc theo lập trường vô sản ở Việt Nam.

 Quả nhiên về sau, đường lối này sẽ giải phóng được đất nước ta thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, nhưng nó lại mang đến cho dân tộc ta những thảm họa còn khủng khiếp hơn nhiều so với chủ nghĩa thực dân Pháp. Khi ấy người ta mới nhận ra rằng nước Pháp không chỉ áp bức bóc lột ghê gớm, mà còn thực sự “khai hóa” cho dân ta theo nền văn minh hiện đại; nên mới hiểu mục tiêu khai sáng của Phan Châu Trinh có ý nghĩa to lớn đến thế nào.

Các Bài viết khác