NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 9, PHẦN 5

( 26-03-2016 - 10:06 PM ) - Lượt xem: 653

Phải thú nhận là mình đã yêu Thiên Hương thắm thiết đến mức tưởng chừng như không thể nào từ bỏ được người ấy. Vậy mà giờ đây chắc đã đến lúc phải chia tay rồi! Có lẽ nào một cô gái đẹp dịu dàng với tính cách hồn nhiên mộc mạc như vậy mà lại ẩn chứa trong lòng những sự toan tính nhỏ nhen trong tình bạn và tình yêu?

 5. Yêu là chết trong lòng một ít!

 

Học kỳ 2 của chúng tôi được mở đầu bằng một đợt kiến tập sư phạm tại các trường phổ thông cấp I hoặc cấp II trong xã. Nhiệm vụ được thực hiện một cách dễ dàng: lớp chia thành từng nhóm sinh viên, mỗi nhóm theo thời khóa biểu đến dự giờ dạy của các giáo viên trường sở tại, dự cả giờ sinh hoạt chủ nhiệm, rồi thảo luận rút kinh nghiệm và viết bài thu hoạch. Với nhiệm vụ như vậy, chúng tôi được làm quen với môi trường giáo dục ở nông thôn thời chiến, mà vẫn còn nhiều thời gian rảnh rỗi để tận hưởng “tháng giêng là tháng ăn chơi”. Nhưng chính trong thời gian này tôi lại bị chế ngự trong tâm trạng u uất xuất phát từ sức khỏe yếu kém và thái độ của Thiên Hương đối với mình. Theo sự sắp xếp của ban cán sự lớp, Hương không ở cùng một nhóm kiến tập với mình, nên tôi cũng chẳng phiền trách ai trong việc này. Điều khiến tôi rất buồn chính là cách giao tiếp và nói năng của cô ấy đối với tôi bỗng nhiên có vẻ xa lánh giữ kẽ, khác hẳn với sự nồng ấm trước đây. Có gì đó đã xảy ra khiến cô ấy thay đổi thái độ với mình chỉ sau mươi ngày nghỉ Tết mỗi đứa một nơi? Tôi luôn tự hỏi như vậy, rồi mở cuốn sổ tay mới được ba cho để giãi bày tâm trạng và suy nghĩ của mình vào trong đó:

 

           Thứ hai13-2-1967,

            Lại mở đầu một cuốn nhật ký mới-một người bạn chân thành mà tôi có thể tâm sự đủ  điều trong chuỗi ngày mang nặng một màu ảm đạm.

            Tôi là ai? Tôi là cái gì hỡi cái tôi “ti tiện và hèn đớn”? Phải chăng tôi ngày nay đã trở nên hèn kém, vô dụng và vô giá trị đến mức “người ta” phải xa lánh mình? Cũng phải thôi với một cơ thể gày còm chứa hết bệnh nọ đến tật kia để sống ngập chìm trong thuốc men và đơn khám bệnh! Chắc là mình đã trở thành một sản phẩm thừa của xã hội mất rồi!...

             Nhưng có lẽ nào đời mình đã tàn tạ khi vừa mới bước qua tuổi 19? “Hãy giữ vững sợi dây cương trước những dốc đứng của cuộc đời!”- một câu nói hay, có lẽ của Đoàn Giỏi. Và ba đã dặn mình phải hết sức bình tĩnh kia mà!

 

           Thứ ba 14-2,

            Gió bấc tràn về từ đêm mang theo cái lạnh khủng khiếp, lạnh từ trong đến ngoài. Suốt buổi sáng tôi vùi đầu vào việc “cờ bạc” nhưng cũng chẳng thấy niềm vui. Buổi chiều nghe nói chuyện về giáo dục ở địa phương và họp giáo viên chủ nhiệm, nhưng tôi cũng chẳng biết người ta nói gì.

            Thời gian và không gian xa cách đã cướp đi của tôi mối tình đầu, để bây giờ phải lao vào đọc một cuốn “tiểu thuyết” mới đầy khó khăn, phức tạp và thất vọng. Phải thú nhận là mình đã yêu Thiên Hương thắm thiết đến mức tưởng chừng như không thể nào từ bỏ được người ấy. Vậy mà giờ đây chắc đã đến lúc phải chia tay rồi! Có lẽ nào một cô gái đẹp dịu dàng với tính cách hồn nhiên mộc mạc như vậy mà lại ẩn chứa trong lòng những sự toan tính nhỏ nhen trong tình bạn và tình yêu?

 

            Thứ tư 15-2,

             Không ít lần tôi đã chạm mặt Trọng Khang khi đến gặp Thiên Hương ở nhà bác Tương; nhưng lần này rất khác. Vừa mở chiếc mành cửa bước vào, tôi thấy Hương và Khang cùng ngồi trên giường mà đung đưa chân trên mặt đất. Dĩ nhiên giữa họ vẫn có một khoảng cách để chứng minh sự “trong sáng” của mình; nhưng sao lại cùng ngồi nói chuyện với nhau trên giường? Tôi sôi máu quay ra đi thẳng.

             Làm sao mình có thể tin yêu một cô gái đang có người yêu ở chiến trường mà vẫn thân thiết với mình, rồi bỗng nhiên lại xa lánh mình để cặp kè với một bạn trai khác? Không một người thông minh nào lại yêu một cô gái mơn trớn với mọi chàng trai và dám ngồi trong phòng suốt ngày với một gã trai nào đó.  Tôi bỗng nhớ lại một danh ngôn (không biết là của ai): “Người con gái nếu như cái cây, cứ reo lên với bất cứ cơn gió nào thì người con gái ấy không đáng một đồng xu”.

 

            Thứ năm 16-2,

             Lạ thật, mình có quyền gì mà bỗng nổi cơn ghen với Thiên Hương? Tôi cố tự nhủ mình không nên quá đau khổ vì ghen, nhưng rồi đã nhận ra rằng ghen không đau khổ bằng sự nghi ngờ về phẩm hạnh của con người có cái tên tuyệt vời là “hương trời” mà mình đã hết lòng tin yêu. Tôi chợt nhớ đến truyện ngắn “Đại lộ Nepxki” của Gôgôn: một chàng trai đã tự tử khi phát hiện ra rằng cô gái đẹp tuyệt trần có bề ngoài cao quý mà mình yêu say đắm lại hiện nguyên hình là một con điếm cực kỳ khả ố. Trong tâm trạng hiện nay của mình, tôi mới hiểu vì sao chàng trai ấy lại tuyệt vọng đến như vậy! Xuân Diệu nói thật chí lý: “Yêu là chết trong lòng một ít!”.

             Nhưng bây giờ tôi sẽ xử sự với “hương trời” như thế nào đây? Có lẽ mình chưa    thể  tự tử như anh chàng kia, mà cũng không thể hạ mình để cầu xin tình yêu của cô ấy. Thôi thì, như người ta thường nói, im lặng là cách tốt nhất để bày tỏ lòng khinh bỉ. Mình sẽ nuốt đau khổ mà im lặng rời xa, để xem cô ấy suy nghĩ thế nào!

 

Quyết chọn cách đó để thể hiện thái độ của mình, tôi làm như không thèm nhìn đến cô ta nữa. Chấm dứt việc đến nhà bác Tương, tôi sang tán gẫu với Cường nhiều hơn, đến ăn cơm với chị Thoa nhiều hơn và thường giết thời gian trong các ván cờ với cụ Thọ (cụ thường phải chấp tôi một quân “pháo” hoặc”mã”). Vị lão nông này hóa ra vẫn còn khao khát phụ nữ nên thường ngâm ngợi một cách thích thú bài thơ “Đánh cờ người” của Hồ Xuân Hương, rồi thành thật thổ lộ với tôi là muốn cưới một bà góa trong thôn để có thể đưa lên giường mà bảo rằng: “Bà dạng ra, cho tôi đút cái của quỷ này vào!”. Cụ cũng hay kể lại chuyện địa chủ phải nhận tội hiếp dâm người nữ bần cố tố khổ trong cải cách ruộng đất, giống như chuyện tôi từng được nghe trong thời thơ ấu ở tỉnh Thanh.

 Một hôm sang nhà chị Thục để chơi với Cường, tôi ngạc nhiên thấy xuất hiện một anh bộ đội trong bộ quân phục mới tinh mà không đeo cấp hiệu, nhưng mang theo cả ba lô quân trang với đủ võng, tăng ni lông và mền vải dù. Chị Thục bảo đó là cậu em trai tranh thủ ghé thăm chị trước ngày hành quân vào chiến trường miền Nam. Tôi cảm thấy thương anh bộ đội sắp bước vào cuộc chiến sinh tử “không xanh cỏ thì đỏ ngực”. Nhưng khi thấy anh ấy không dám bước ra khỏi nhà mà có vẻ ngại giao tiếp với người ngoài, anh Hạnh (một đảng viên ở cùng nhà với Cường) thì thầm với tôi: “Có lẽ cậu này đi ‘B quay’!”. Biết rằng “B quay”, tức hành quân vào Nam nhưng lại trốn để “quay” ra Bắc là một trọng tội trong quân đội (chính xác là tội đào ngũ); nhưng chúng tôi vẫn không ghét anh ấy, và không kể với ai về sự xuất hiện của nhân vật này. Vài hôm sau thì anh ấy biến đâu mất, chỉ để lại cho tôi cảm tưởng rằng: chẳng phải ai cũng sẵn sàng đi chiến đấu để mong “đỏ ngực” với cái giá phải trả có thể là một nấm mồ “xanh cỏ”. Mới năm ngoái, hai bạn học cũ của tôi từng hăng hái nhập ngũ đi chiến đấu là Đỗ Văn Hoan và Ngô Như Thân chưa kịp đỏ ngực thì đã xanh cỏ (mà nghe nói là không tìm được thi hài của cả hai người).

 Một  buổi trưa tôi đến nhà trọ của chị Kim Thoa thì đột nhiên thấy Dương Thu Nga xuất hiện ở cửa nên cũng vén mành cho cô ấy bước vào. Nga thản nhiên hỏi: “Quốc trọ ở đây à?”. Khi nghe tôi giải thích đây là nhà trọ của ai, Nga tiếp: “Mình tưởng Quốc ở đây nên định vào hỏi mấy việc!”. Tôi mời Nga ngồi bên bàn nước và lắng nghe. Cô ấy không hỏi về kiến thức lịch sử, về tiếng Nga hay chuyện kiến tập, mà hỏi về hoàn cảnh gia đình, về  cuộc sống và quá trình học tập của tôi ở Hải Phòng. Sau khi nghe tôi kể ngọn ngành, Nga nhận xét: “Học sinh Hải Phòng giỏi quá, mình phục đấy!”. Tôi thành thật đáp: “Ở trường cũ Ngô Quyền thì mình chỉ thuộc loại bình thường; còn nhiều đứa rất giỏi!”. Nga đứng dậy bước ra nhưng dừng lại ở bậc cửa, tôi cũng đứng phía bên kia bậc cửa và tiếp tục trò chuyện khá lâu. Được dịp ngắm kỹ cô ấy, tôi phát hiện một hàng lông tơ mịn màng tạo nên một vệt phơn phớt xanh phía trên đôi môi đỏ thắm khiến dung nhan nàng tăng thêm vẻ kiều diễm (có lẽ giống với một giai nhân trong tiểu thuyết “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tolstoy?). Nhìn qua mành cửa thấy chị Thoa ở sân sắp vào nhà, Thu Nga ra dấu chào tôi rồi vén mành bước ra.

 Cuộc gặp bất ngờ này khiến tôi hiểu rằng mình đã được Thu Nga để ý và muốn làm quen. Nhờ đó tôi lấy lại được sự tự tin thêm chút kiêu hãnh về giá trị của mình. Nếu so với Thiên Hương, nhan sắc của Thu Nga rực rỡ hơn. Tuy nhiên, tôi vẫn say mê vẻ đẹp dịu dàng kín đáo của Hương mà không bị Nga cuốn hút. (Sau này Thu Nga sẽ trở thành con dâu cưng của thầy Chiêm Tế).

 

 Kết thúc đợt kiến tập buồn tẻ để trở lại với các buổi học bình thường, tôi tìm một chỗ ngồi mới ở một hàng ghế phía sau phòng học. Ở chỗ này, tôi có thể quan sát Thiên Hương. vẫn ngồi chỗ cũ ở hàng trước. Thỉnh thoảng Hương cũng kín đáo ngoái lại phía sau nhìn vội về phía tôi. Cứ như vậy, hai chúng tôi không đến gần để nói với nhau một câu suốt mấy ngày liền. Làm ra vẻ không quan tâm đến Thiên Hương nữa, nhưng lòng tôi xao xuyến lắm rồi, nhất là khi nhận ra vẻ đau buồn trên nét mặt cô ấy thì bao nhiêu điều nghi kỵ về phẩm hạnh của nàng sắp bay đi hết.

 Thế rồi trong giờ giải lao của một buổi học, Hương bỗng đến bên và rủ tôi ngày mai qua nhà cô ấy cùng dịch một bài Nga văn. Biết rằng nàng đã thấm thía về sự lạnh lùng giữa hai đứa nên buộc phải tìm cách dàn hòa, tôi như mở cờ trong bụng nhưng vẫn còn cố ra vẻ phớt lạnh, chỉ gật đầu mà không nói một lời. Tôi quyết định tự dịch riêng bài ấy mà không thèm gặp nhau để cùng làm như trước đây vẫn vậy. Xong, tôi đến nhà bác Tương để đưa bản dịch cho Hương, rồi quay về ngay trước cặp mắt sững sờ của cô ấy. Như vậy, tôi vẫn kéo dài sự lạnh nhạt để cô ấy phải nghĩ kỹ hơn về những gì đã diễn ra với tôi. Nhưng sự lạnh nhạt ấy cũng chỉ kéo dài thêm chưa đầy một tuần, cho đến khi tôi phải chứng kiến những giọt nước mắt của nàng:

 

        Thứ năm 23-2,

         Sáng nay Thiên Hương rất vui khi nhận được thư từ chiến trường gửi về (chắc chắn là của Chu Tác Nhân). Thấy thế, tôi càng tỏ ra lạnh lùng để tôn trọng mối tình riêng của nàng. Nhưng thật đáng ngạc nhiên khi thái độ ấy của tôi lại khiến Hương buồn khổ thực sự. Phải chăng Hương đang đứng trước sự lựa chọn giữa tôi và Nhân? Nhưng còn có nguyên nhân nào khác thì sao? Mình chẳng hiểu được khi không biết bức thư ấy viết gì! Sau bữa cơm chiều, tôi đang đứng chờ Cường rửa bát thì Hương đến ngay bên cạnh và nói nhỏ: “Hương lạnh quá!”. Khi ấy Hương mặc đủ áo ấm và cổ còn quấn khăn len nên không thể bị lạnh vì thời tiết, mà chỉ muốn bộc lộ sự lạnh lẽo trong lòng. Quay sang nhìn Hương, tôi thấy cặp mắt đẹp long lanh nước như sắp sửa trào ra! Thú thật là tôi không thể cầm lòng trước những giọt nước mắt ấy…

 

        Thứ ba 28-2,

         Hai chúng tôi đã làm lành với nhau, chẳng thể nào khác được. Chỉ có Thiên Hương là người hiểu tôi sâu sắc nhất; do đó tôi không thể nào xa lánh được đóa hoa “hương trời” ấy. Thật đau khổ khi phải đặt những câu hỏi về phẩm hạnh của nàng; nhưng mặc kệ tất cả, tôi vẫn cứ yêu nàng. Tâm hồn Thiên Hương vẫn còn nhiều bí ẩn, nhưng mình sẽ tìm hiểu sau.

 

Trải qua hơn nửa tháng đau khổ đến khó ngủ vì nghi kỵ với Thiên Hương, bệnh đau đầu quay trở lại khiến tôi phải hỏi xin anh Thiều mấy viên thuốc giảm đau. Nhưng đau đầu giảm thì đau bụng lại tăng lên. Tối hôm đó thức khuya chuẩn bị đi ngủ, tôi bỗng thấy đau bụng nên phải xách chiếc đèn bão và mang giấy đi ra cầu tiêu ở kế bên chuồng lợn. Treo đèn lên chiếc đinh đóng trên cột, tôi vội vàng bài tiết và nhận thấy phân mình có một màu đen kỳ lạ. Vừa mới chùi và mặc lại quần xong để bước ra sân, tôi bỗng thấy chóng mặt liền chạy nhanh vào nhà. Nhưng hóa ra mình đã vượt rào mà chạy thẳng xuống ao gần bên chiếc cổng. Chỉ nghe một tiếng “ùm”, tôi đã thấy nước ngập đến bụng. Cụ Quyết, chị Oanh và cả anh Thiều ở trong nhà chạy ra kéo lên bờ trong khi tôi cảm thấy rét run với hai hàm răng đánh lập cập. Mọi người dìu vào nhà, giúp thay quần áo, xoa dầu nóng, mặc áo bông và đắp chăn thật ấm cho tôi. Chị Oanh cho tôi uống một bát nước gừng, còn cụ Quyết bảo: “Nghe tiếng người rơi xuống ao, tôi cứ tưởng có thằng trộm nào đột nhập bị mắc bẫy, định ra cho nó một trận!”.

 Sáng hôm sau tôi vẫn chưa thể đến lớp, phải nhờ anh Thiều xin phép vắng mặt. Các bạn nghe tin tôi bị ốm kéo đến thăm rất đông. Thiên Hương vào bếp nhà cụ Quyết nấu cho tôi một nồi cháo hành có trứng. Thế là hai chúng tôi có thêm một kỷ niệm theo kiểu “Thị Nở-Chí Phèo”! Nhìn tôi ăn cháo, Hương nói nhỏ: “Muốn hỏi Quốc một việc, nhưng khó nói quá!...”; rồi bỏ lửng chẳng nói gì thêm. Tôi biết nàng đang có những tâm sự thầm kín, nhưng không nói ra được thì mình biết trả lời thế nào? Con người Thiên Hương vẫn đầy bí ẩn.

 Hôm sau nữa bớt mệt, tôi lại cố gằng đi học bình thường.

 Nhưng thực ra tôi đã bị bệnh gì? Phải ít lâu sau, khi bác sĩ Bình chồng cô Kim Dung từ Hải Phòng đến thăm vợ và tiện thể ghé thăm con trai ông bà Nguơn, tôi mới được biết mình vừa bị một ca tai biến “xuất huyết tiêu hóa” tức chảy máu dạ dày do dùng thuốc không đúng cách. Đáng lẽ tôi phải được cấp cứu trong bệnh viện, nhưng cũng may là đã tự nhiên qua khỏi, thật hú vía! Bác sĩ dặn tôi phải giữ gìn cẩn thận, và tuyệt đối không được uống aspirine! Cuộc thăm khám bất ngờ của bác sĩ Bình đã giúp tôi  giảm bớt ác cảm với cô Kim Dung.

 

 Chỉ sau vụ tai biến đó vài hôm, tôi bỗng được kết nạp vào Đoàn. Đúng vào lúc tôi không còn ý thức về việc “phấn đấu vươn lên Đoàn” nữa, và cũng chẳng quan tâm gì đến việc phải gần gũi đoàn viên với đảng viên theo lời khuyên của phó bí thư Thưởng, thì Đoàn lại ra quyết định kết nạp mình, thật đáng ngạc nhiên! Có lẽ việc này diễn ra cũng là do cái số của tôi, một kẻ sinh ra trong giờ lợn được cho ăn nên mình luôn được ngồi không ăn sẵn! Nhưng cùng được kết nạp một đợt với tôi còn có cả Thiên Hương với Trọng Cường và vài bạn nữa, nên chắc phải có một lý do nào khác.

 Lễ kết nạp được tổ chức vào buổi tối dưới ánh đèn măng sông ngay tại giảng đường quen thuộc với đủ mặt các đoàn viên trong chi đoàn Sử 2 và đại biểu cấp trên, đủ cờ ảnh treo trên bảng đen cùng câu khẩu hiệu “Thêm một đoàn viên là thêm sức mạnh cho Đoàn” kẻ bằng phấn trắng. Sau nghi thức chào cờ, Bí thư chi đoàn Huỳnh Thanh Trúc nêu danh sách những người được kết nạp, để các bạn có tên trong đó cùng tôi lần lượt lên xếp hàng ngang ngay dưới bảng đen, rồi lần lượt từng người đọc Đơn xin gia nhập Đoàn của mình (đã được viết và nộp cho chi đoàn từ trước, nay được đưa lại để đọc). Rồi Bí thư đọc Quyết định của BCH Đoàn TNLĐVN Trường ĐHSP Hà Nội v/v chuẩn y kết nạp đoàn viên. Tiếp đó, Phó Bí thư Nguyễn Văn Thưởng đọc Giấy giới thiệu của 2 đoàn viên cho mỗi thanh niên gia nhập Đoàn (khi ấy tôi mới biết 2 đoàn viên giới thiệu mình là Nguyễn Văn Tú và Ra Lan Nhe); rồi trao Quyết định kết nạp, đồng thời gắn huy hiệu Đoàn vào ngực áo mỗi người. Thưởng cài nhầm huy hiệu vào ngực áo bên phải, khiến tôi phải vỗ vai cậu ấy mà chỉ vào ngực bên trái để gắn lại cho đúng. Xong, một đoàn viên mới được kết nạp (tôi cũng không nhớ là ai) thay mặt cả bọn đọc lời Tuyên thệ trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng-Bác, hăng hái tham gia phong trào Ba Sẵn sàng (tôi không nhớ toàn văn câu chữ tuyên thệ như thế nào).

 Trở về nhà, tôi ghi lại cảm nhận của mình về buổi lễ đó:

 

Thứ bảy 4-3-1967,

             Tối nay đánh dấu một sự thay đổi: được kết nạp vào Đoàn. Dù mình không còn háo hức như năm xưa khi được quàng khăn đỏ, và cũng chẳng hề mong được vào Đoàn để cùng Thiên Hương chiến đấu bên nhau như Paven với Rita thuở nào, nhưng đó cũng vẫn là một sự thay đổi. Mai phải viết thư về nhà báo cho ba má biết; dù sao cũng phải làm vui lòng các cụ. Còn đối với bản thân mình, việc đó chẳng có gì quan trọng. Người ta muốn cho mình vào Đoàn, thì mình cũng thuận theo cho cuộc sống được bình yên. Còn Đoàn sẽ đòi hỏi gì ở mình, và mình sẽ được những gì ở Đoàn, thì mình không cần biết. Cái chính là mình cứ sống theo cách sống của mình.

 

 Tuy chưa hiểu vì sao họ lại kết nạp mình vào Đoàn; nhưng ít lâu sau, khi được đọc lời “nhận xét ưu khuyết điểm” trong cuốn “Lý lịch Đoàn viên” của mình, tôi đã biết các cán bộ Đoàn nghĩ gì về mình khi ấy:

 

            Có ý thức rèn luyện và tu dưỡng, tích cực trong công tác, có nhiều cố gắng trong hoạt động văn nghệ, thực hiện tốt các nghị quyết Đoàn, Đảng. Học tập tốt. Đoàn viên 4 tốt năm học 1967-1968.

            Chưa có biện pháp trong tu dưỡng, tác phong còn chậm, cần quan hệ rộng rãi   hơn trong tập thể. Học tập khá nhưng chưa tận dụng hết khả năng.

                                                                          T/m BCH Chi Đoàn

                                                             Phó Bí thư (đã ký): Nguyễn Văn Thưởng

            

                                                                           T/m BCH Đoàn Trường

                                                          Phó Bí thư (ký tên và đóng dấu): Lê Thị Vinh Thi

 

Qua những lời lẽ như trên, có thể thấy Thưởng nêu hơi quá lời về những ưu điểm của tôi, vì có như vậy thì tôi mới đáng được kết nạp. Nhưng trong phần khuyết điểm, Thưởng đã viết đúng những gì mà cậu ta nghĩ về tôi, nhất là “chưa có biện pháp trong tu dưỡng” và “cần có quan hệ rộng rãi hơn trong tập thể”. Đó chính là còn thiếu phương pháp “điếu đóm” mà cậu ta đã thật thà chỉ dẫn cho tôi.

 Cuốn Lý lịch Đoàn viên với lời nhận xét của Thưởng sẽ theo tôi đi suốt thời thanh niên để trình nó cho tổ chức Đoàn ở bất cứ nơi đâu mà mình sẽ nhận công tác. Qua đó mới thấy quyền lực của cán bộ Đoàn, dù ở cấp thấp nhất, vẫn không thể xem thường. Chẳng trách vì sao người ta thường phải “điếu đóm” cho họ để mong được vào Đoàn và được phê tốt trong lý lịch trên con đường tiến thân của mỗi người.

 Còn vấn đề “tại sao mình được kết nạp?” thì mãi nhiều năm sau tôi mới vỡ lẽ. Thì ra “phát triển Đoàn” (cũng như “phát triển Đảng”) là một nhiệm vụ tối quan trọng của Đoàn (và của Đảng). Vì nếu không phát triển được (tức là không có thêm người mới gia nhập) thì Đoàn (và Đảng) sẽ có nguy cơ tuyệt tự. Bởi thế, lãnh đạo Đoàn (và Đảng) luôn giao “chỉ tiêu kết nạp” cho  các cấp dưới thực hiện; nhất là trong chiến tranh Đảng cần thêm nhiều thanh niên vào Đoàn để tham gia phong trào Ba Sẵn sàng, thì chỉ tiêu phát triển Đoàn lại càng mở rộng (nghe nói đã có chỉ thị là 100% sinh viên tốt nghiệp ĐHSP phải trở thành đoàn viên TNLĐ). Để lập thành tích dâng lên cấp trên, các cấp bộ Đoàn ở cơ sở sẽ chọn những người không vướng mắc về lý lịch (không thuộc thành phần gia đình địa chủ, phú nông hay tư sản) mà họ ưng ý để kết nạp cho đủ chỉ tiêu.  Thưởng chẳng ưa gì tôi, nhưng không chống nổi số đoàn viên thân thiện với tôi vẫn chiếm đa số trong chi đoàn, và càng không thể chống lại việc kết nạp một người như tôi để bảo đảm chỉ tiêu  theo chỉ đạo của cấp trên. 

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác