NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẨY DƯỚI CHÂN CẦU, CHƯƠNG 9, PHẦN 4

( 18-03-2016 - 06:46 AM ) - Lượt xem: 604

Cuộc đời chẳng được bao lâu,/ Hôm nay còn trẻ, mai sau đã già./ Biển đời bát ngát bao la,/ Con người bé nhỏ biết là vào đâu!

4. Cuốn sách mẫu thêu

 

Cuối năm trời rét đậm và ẩm ướt vì mưa phùn rả rích; nhưng bỗng có tin vui làm ấm lòng người: nước bạn Cuba mới viện trợ cho ta một đợt áo quần cho những ai thiếu mặc. Từ lâu chúng tôi đã biết Cuba là bạn chiến đấu “cùng chung chiến hào chống Mỹ” với Việt Nam, cả hai nước cùng là “tiền đồn của phe XHCN” ( một ở châu Mỹ và một ở Đông Nam Á); nhưng nay mới được nhìn tận mắt món quà quý của nước bạn dưới hình thức những bộ quân phục màu xanh ô liu mà dân quân cách mạng Cuba thường mặc. Tuy chỉ là quần áo cũ được quyên góp rồi giặt sạch và đóng gói gửi đi, nhưng đối với Việt Nam thì các bộ trang phục này vẫn là rất mới về cả chất liệu, kiểu dáng và màu sắc, nên mọi người đều thích chúng. Chỉ có điều là số quà quá ít so với số người muốn được nhận, nên ban cán sự lớp (các anh Phượng, Xương và An cùng Tổ trưởng Đảng Trần Thiều ) phải họp bàn phương án phân chia sao cho công bằng hợp lý. Các cán bộ đi học sẵn sàng nhường cho sinh viên gốc học sinh, rồi gốc học sinh thành thị cần nhường cho gốc nông thôn và miền núi. Sau cùng, một danh sách sinh viên được nhận quà, tương ứng với số quà hiện có, được thông qua trước lớp.

 Nhìn những người có tên trong danh sách đang hớn hở lựa chọn bộ trang phục thích hợp với mình, ban cán sự lớp cảm thấy hài lòng vì nhiệm vụ của mình đã hoàn thành tốt đẹp. Bỗng: “Phập!”- một con dao găm từ đâu bay đến cắm sâu xuống mặt bàn ngay giữa chỗ ngồi của ban cán sự. Cả bốn người hốt hoảng nhìn lên, thấy lừng lững tiến đến chàng trai gân guốc Triệu Việt Vương cao trên 1,8m đang trợn mắt chỉ tay quát: “Thằng Thưởng hơn tao ở chỗ nào mà nó được cấp, còn tao thì không?”. Trần Thiều vội vàng đứng dậy. Với dáng vẻ thân thiện, anh kéo chàng trai có tài phóng dao đang nổi giận xung thiên ra một chỗ để giải thích: “Mày chẳng kém thằng Thưởng chỗ nào hết, nhưng quần áo của mày còn mới và tốt đẹp hơn nó; mà thằng Thưởng cũng có công làm cán bộ Đoàn, thôi thì lần này nhường nó, để lần sau mày sẽ đứng đầu danh sách!...”. Người Tày biết cách nói cho người Tày dễ nghe hơn người Kinh, nên Trần Thiều đã làm cho Triệu Việt Vương nguôi giận mà rút dao về, để chờ lần sau sẽ đến lượt mình.

 Món quà nặng tình đoàn kết quốc tế của nhân dân Cuba suýt chút nữa đã gây nên sự mất đoàn kết giữa mấy sinh viên Việt Nam với nhau!

 

 Thế rồi Sinh nhật lần thứ 19 của tôi đã đến. Cũng như năm ngoái, tôi một mình tự kỷ niệm ngày này trong đêm đông giá rét. Ngồi trùm chăn trên giường và được soi sáng bằng ngọn đèn dầu leo lét trên bàn, tôi lần giở cuốn Nhật ký để đọc lại những trang đã viết suốt năm qua mà chiêm nghiệm về ý nghĩa cuộc đời. Trong tâm trạng cô đơn man mác buồn, tôi viết vào đó một bài thơ tứ tuyệt làm kỷ niệm:

 

Cuộc đời chẳng được bao lâu,

Hôm nay còn trẻ, mai sau đã già.

Biển đời bát ngát bao la,

Con người bé nhỏ biết là vào đâu!

 

Nhưng hôm sau bỗng có niềm vui bất ngờ khi Thiên Hương trao cho tôi một tập sách để nhờ vẽ vào đó những cặp chữ lồng làm mẫu thêu. Tập này khá dầy, được đóng cẩn thận bằng giấy tốt với bìa cứng bọc gấm màu thiên thanh; Hương dùng nó để lưu trữ hình vẽ các mẫu thêu (những đôi chim cùng trái tim và chữ hỷ, những cành hoa, hình trang trí, đường diềm viền đăng ten…), nên tạm gọi là “sách mẫu thêu”. Giờ đây trao nó cho tôi, hẳn là Hương muốn bày tỏ tài năng thẩm mỹ của mình, kèm theo đó là mối thiện cảm mà nàng dành cho tôi qua việc nhờ vẽ chữ lồng (lồng ghép hai chữ cái vào nhau dưới dạng hoa mỹ, thường là chữ cái đầu tên hai người yêu nhau hay một cặp vợ chồng để in vào thiếp mời, trang trí đám cưới, thêu gối cưới hoặc chế tác dây chuyền vàng). Vô cùng hứng thú với công việc được nhờ, tôi say mê sáng tác hàng loạt những cặp chữ lồng rất đẹp, đặc biệt là cặp đôi “Q-H” (hai chữ cái đầu tên tôi và tên nàng) được dụng công rất nhiều. Lúc vẽ cặp chữ này, tôi cảm thấy day dứt khi nhớ về cặp “Q-T” mà mình đã khắc trên thân cây phượng trong vườn nhà ở Hải Phòng: dường như mình đang phản bội Thanh Tâm để lao theo một mối tình mới. Nhưng rồi lại tự bào chữa bằng cách đổ lỗi cho chiếc khăn quàng đỏ đã ngăn không cho tôi được đến với em, và dù sao thì em vẫn ngự trị nơi cao quý nhất trong tâm hồn mình.

 Sau bữa cơm chiều ngày cuối cùng của năm 1966, tôi háo hức mang tập sách mẫu thêu đã bổ sung những cặp chữ lồng đến gặp Thiên Hương. Cả bác Tương và chị Húa đều ở nhà, nhưng tôi với Hương vẫn có một buổi tối thú vị quanh việc bình phẩm về những chữ lồng mới sáng tác. Chỉ vào cặp chữ “Q-H”, tôi hỏi Hương nhận xét thế nào về nó? Nàng lườm tôi đầy ẩn ý rồi nhẹ nhàng phán: “Rất đẹp!”. Tôi muốn rụng tim với lời phán xét này.

 Vì hồi ấy không có ai đón giao thừa tết Tây, nên tôi không dám ngồi chơi lâu. Trao lại cuốn sách mẫu thêu cho Thiên Hương như một món quà mừng năm mới, tôi chào mọi người để quay về; rồi một mình đón giao thừa bằng những dòng ghi vội vào Nhật ký, tiếp đó là một giấc ngủ ngon bên anh Trần Thiều.

 Buổi sáng ngày Tết dương lịch 1967 trời rất lạnh nhưng gió nhẹ và không mưa; tôi rủ Hương và Cường cùng các bạn trong lớp sang Giai Lệ (tức làng Nhài) để xem trận đấu bóng chuyền giao hữu giữa đội Sử 2 với đội Sử 1 mới thành lập. Có một sự trùng hợp thú vị: ngày đầu năm mới trùng với ngày Quốc khánh Cuba, mà nhiều khán giả vây quanh sân bóng cũng xúng xính trong bộ trang phục màu xanh ô liu do nhân dân Cuba gửi tặng. Khi quay về, chúng tôi phát hiện ở một lều tranh ẩn mình dưới lũy tre xanh bên con đường đất quen thuộc có một bà nông dân bí mật bán món canh bánh đa riêu cua. Tôi với Hương và Cường cùng chui vào lều để có một bữa liên hoan mừng năm mới với món ăn dân dã này.

 

Sau khi học về phong trào Cần Vương và cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế, toàn thể khối Sử 2 chúng tôi được đi thực tế chuyên môn ở huyện Yên Mỹ (Hưng Yên). Thoạt đầu, thầy Quýnh dẫn đoàn về xã Liêu Xá để tiếp tục khảo cứu về văn minh Đại Việt: sưu tầm địa bạ để tìm hiểu chính sách ruộng đất từ thời Lê đến thời Nguyễn, rồi tham quan quê hương và đền thờ danh y Hải Thượng Lãn Ông. Tiếp đó, thầy Kiệm đưa chúng tôi về xã Giai Phạm để khảo sát những di tích của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo. Chúng tôi lặn lội trên những cánh đồng mà sậy vẫn còn mọc um tùm để hình dung xưa kia các nghĩa quân anh dũng đã ẩn hiện trong đó để đánh Pháp như thế nào; rồi tham quan miếu thờ ông Cả Tuyển-một danh tướng là con cả cụ Tán Thuật-bị quân Pháp bắt và chém đầu ở Bần Yên Nhân.

 Có một sự bất ngờ là anh Xương với tôi cùng Hương, Cường và vài bạn khác bỗng được gặp một ông già đặc biệt có mái tóc bạc phơ và chòm râu bạc rất dài, với phong độ và cốt cách khác người. Ông tự xưng mình là “nhà báo Quang Đạm khi xưa” và nồng nhiệt mời các sinh viên đến nhà chơi.

 Đó là một ngôi nhà ngói ba gian với sân gạch và ao vườn, tựa như nhà cụ Thọ ở Phí Xá,  nhưng sang trọng và bề thế hơn nhờ có chiếc cổng xây bên ngoài và những bức hoành phi-câu đối sơn son thếp vàng treo nơi ban thờ theo đúng kiểu nhà cổ của người Việt. Ngôi nhà cổ càng thêm sinh động nhờ mấy lồng chim treo ở mái hiên và một chuồng nuôi khỉ ngoài sân. Đặc biệt, ở một góc vườn bên lũy tre xanh, chủ nhà đã cất một túp lều cỏ có trang trí hoa lá bên ngoài, tựa như những chiếc am ẩn dật của các vị đạo sĩ xưa. Quan sát ngôi nhà và tác phong ông chủ, chúng tôi biết mình đang được tiếp kiến một trí thức lão thành từ thời Pháp thuộc, nay về quê sống theo phong cách thanh cao của một người xa lánh sự đời.

Có lẽ đã từ lâu phải sống cô đơn giữa những người không cùng phong cách và trình độ văn hóa với mình, nên ông đón tiếp chúng tôi thân tình như một đám bạn vong niên tri kỷ. Bên bàn uống trà bằng bộ ấm chén cổ, ông say sưa trao đổi về văn chương “Tự lực Văn đoàn” (mà chúng tôi chỉ biết lõm bõm qua mấy dòng phê phán trong sách giáo khoa lớp 10), về hoạt động báo chí thời Tây (mà chúng tôi hoàn toàn mù tịt). Rồi ông mang ra khoe một bộ sưu tập gồm hàng trăm tờ báo “Trung Bắc Tân Văn”. Đây là lần đầu tiên mà tôi được xem tận mắt một nhật báo xuất bản dưới chế độ cũ thời Pháp thuộc. Chỉ đọc qua mấy tờ, tôi đã nhận ra nhiều thông tin thú vị phản ánh cuộc sống trong xã hội thời ấy. Anh Xương cũng rất thích thú với tập báo này, nên đã xin ông chủ cho phép lui tới nhiều lần để được đọc tiếp. Ông vui vẻ mời cả bọn chúng tôi thường xuyên đến chơi. Thế là chúng tôi trở thành khách quen của ông già vui tính.

 Một hôm ông nói với chúng tôi: “Các cậu học đại học thì phải có các giáo trình; mà tôi cũng có giáo trình riêng đấy nhé!”. Nói xong, ông dẫn chúng tôi chui vào chiếc lều cỏ và lấy trong đó ra một bộ sách cũ gần chục quyển. Thì ra đó là bộ “giáo trình” dạy xem tướng số và bói toán; có cả lý thuyết về kinh Dịch, cách lấy số và xem số Tử vi phương Đông và phương Tây, xem tướng qua mặt, qua chỉ tay và nốt ruồi…Sách biên soạn rất kỹ lưỡng với nhiều hình vẽ và chỉ dẫn cụ thể khiến chúng tôi nghĩ đó không phải là những chuyện mê tín, mà rất có thể cũng là khoa học; riêng Thiên Hương còn thích thú đến mức lấy sổ tay ra ghi chép lia lịa những sự chỉ dẫn trong sách. Để thử tài thầy bói, chúng tôi nhờ ông xem tướng để đoán vận mệnh cho mỗi người. Chưa cần hỏi gì thêm, ông nói về tôi: “Cậu mắt sáng môi đỏ, rất thông minh nên học giỏi và sẽ có tương lai tốt đẹp; chỉ tiếc là luôn có bệnh trong người, nên cũng khó bay cao!”. Hỏi kỹ anh Xương về ngày giờ sinh, ông bấm đốt ngón tay rồi phán: “Anh là người có tài và tương lai rất sáng; nhưng vì bị sao ‘x’ [tôi không nhớ tên sao này] chiếu mệnh nên cũng khá lận đận cả về đường phu thê và đường sự nghiệp”. Ông cũng hỏi kỹ Thiên Hương với Trọng Cường về ngày giờ sinh, lại xem thêm chỉ tay; rồi cho biết rằng Hương sẽ “hanh thông mọi việc cả về tình duyên lẫn sự nghiệp, nhưng phải cảnh giác những kẻ xấu muốn hại mình”; còn Cường sẽ “lận đận về sự nghiệp và quan hệ gia đình, nhưng nhờ có ‘quý nhân phù trợ’ nên cuộc sống cũng bình yên”.

 Được biết tin về người thầy bói đặc biệt này, nhiều bạn khác của chúng tôi cũng tìm đến để nhờ ông đoán tương lai. Khi một bạn nữ lớp C đến gặp ông trong lều cỏ, ông xem tướng rồi đáp rằng lá số tử vi của cô không được rõ nên khó đoán. Nhưng sau khi bạn ấy ra về, ông nói nhỏ với tôi: “Cô này mắt lộ nhiều, đó là tướng của những người phụ nữ đa dâm, nhưng tôi không tiện nói!”.

 Chuyến đi thực tế chuyên môn của chúng tôi thật thú vị với nhiều thu hoạch bổ ích; nhưng ấn tượng mạnh nhất lại thuộc về vị “ẩn sĩ” có tài bói toán tên là Quang Đạm ấy. Sau này, tôi đã nghiệm ra rằng những lời tiên đoán của ông cho tôi và các bạn đều sát đúng với những gì diễn ra trong thực tế (ngoại trừ cái tướng mạo “đa dâm” của bạn gái nọ thì chưa thể kiểm nghiệm). Tôi rất tiếc là mình đã không biết cách giữ liên lạc với con người đặc biệt ấy để có thể biết hậu vận của ông như thế nào. Cũng còn một câu hỏi không có lời đáp: ông làm thế nào mà có thể sống riêng biệt theo phong cách riêng của mình trong một xã hội mà tất cả mọi người đều phải sống theo các phong trào cách mạng của Đảng?

 

 Lời ông già kỳ lạ ấy bảo tôi “luôn có bệnh trong người” đã lập tức biến thành sự thật. Ngay sau chuyến đi thực tế này, tôi hay bị lâm râm đau bụng, nhất là lúc đói. Xoa dầu nóng không bớt, tôi phải lên trạm y tế của Khoa và được cô y tá ở đây cấp cho một lọ thuốc viên “kavet” trị đau dạ dày. Bệnh lao chưa dứt hẳn, nay lại mắc thêm bệnh này thì có khổ thân tôi không! Nhưng cũng may là những viên thuốc đó đã giúp tôi làm dịu các cơn đau để có thể yên tâm học tập chuẩn bị cho kỳ thi học kỳ. Nhớ lại hồi bé đã đọc được trong sổ tay của má một bài thuốc trị đau dạ dày (dành cho ông ngoại) có vị “cam thảo”; rồi lại thấy trong sân nhà cụ Quyết có mấy chậu cây “cam thảm nam” với những chùm lá chét giống như lá me, tôi hái lá nhai thử thì thấy có vị ngọt thanh giống hệt cam thảo. Cụ Quyết cho biết loại lá cây này cũng có công dụng trị bệnh như cam thảo, thế là tôi đưa thêm việc nhai lá này vào việc điều trị của mình.

 Trong kỳ thi học kỳ, tôi đã làm bài tốt và Thiên Hương cũng rất khá trong tất cả các môn. Nhưng đáng phục nhất vẫn là anh Xương, người đã bị gián đoạn việc học trong một thời gian dài, phải trải qua những nỗi buồn sâu sắc, lại còn nuôi con và bận công tác chung, nhưng vẫn làm bài rất tốt.

 Chiều thứ năm 2-2 (đúng ngày ông Táo lên chầu trời theo âm lịch), chúng tôi lên đường về quê ăn Tết Đinh Mùi. Dĩ nhiên là Quốc-Hương-Cường hợp thành một “bộ ba” thân thiết bên nhau trên đường đê quen thuộc, thêm Đỗ Trọng Khang cũng bám theo. Rồi mấy bạn ở lớp khác cũng thích nhập bọn với chúng tôi: Lê Kim Hải-một bạn gái lớp C mới nổi lên nhờ một số điểm tốt, cặp Tùng-Nhung và đôi bạn gái Thu Nga-Nguyệt Nga cùng ở lớp A. Nếu xét về nhan sắc, có lẽ Thu Nga là cô gái xinh đẹp nhất Khoa nhờ có đôi môi đỏ như son, cặp mắt bồ câu với hàng mi rậm cong vút, mái tóc uốn kiểu cách và trang phục luôn nổi bật. Tôi ngạc nhiên và có phần thích thú khi được người đẹp ấy chủ động bắt chuyện và còn hỏi thêm về kinh nghiệm học tập.

 Đến một bến sông có hai chiếc sà lan đang đậu bên bờ, chúng tôi chợt thấy một tốp máy bay xuất hiện ở chân trời phía nam cùng với tiếng động cơ gầm rú, nên lập tức nằm xuống vệ cỏ rồi lăn xuống chân đê bám vào các bụi cây ẩn nấp. Hai tiếng nổ khủng khiếp hơn sét đánh làm đinh tai nhức óc nổ đom đóm mắt, cùng lúc tôi cảm thấy một luồng gió nóng rất mạnh tạt qua  người. Máy bay Mỹ bay xa dần rồi khuất hẳn ở chân trời phía bắc, chúng tôi đứng dậy leo lên đê nhìn xuống sông: hai chiếc sà lan đã hoàn toàn biến mất, để lại trên mặt nước một đám khói trắng đang tan dần. Nếu không kể chiều cao từ mặt đê xuống mặt nước sông mà đo theo đường ngang giữa hai vị trí, thì nơi sà lan đậu chỉ cách chỗ chúng tôi vừa ẩn nấp khoảng mười mét. Thế tức là nếu tên lửa Mỹ không đánh trúng sà lan mà lại chệch mục tiêu chút ít thì cả bọn chúng tôi đã được lên chầu Trời cùng các ông Táo rồi!

Đến bến xe thị xã, tôi bịn rịn chia tay nhóm bạn Hà Nội để một mình đi ô tô về Hải Phòng. Đề phòng máy bay Mỹ vẫn còn hoạt động, nhà xe cho lùi thời hạn khởi hành lại 30 phút, nên khi xe cùng với đám hành khách chúng tôi lên phà Phú Lương thì trời đã nhá nhem tối. Bỗng có tiếng máy bay gầm rú và nhiều tiếng nổ ầm vang làm tung lên những cột nước cao xung quanh phà; rồi tiếng cao xạ pháo của ta gầm thét, trong khi mấy tốp máy bay Mỹ bay qua ngay trên đầu. Hành khách hoảng loạn nhốn nháo hẳn lên, có mấy người đã nhảy xuống sông và chính tôi cũng vô cùng lo sợ. Đúng lúc đó, một sĩ quan quân đội đứng lên thành phà giương súng lục thét to: “Tất cả đứng im, ai lộn xộn tôi bắn!”. Mệnh lệnh đanh thép của anh đã giúp lấy lại được trật tư, để con phà nghiêng ngả vượt qua sóng nước do bom tạo nên cập bến an toàn. Ô tô lên bờ và chúng tôi lên xe tiếp tục cuộc hành trình, trong khi trận địa pháo cao xạ ở ngay bên đường vẫn còn đang nổ súng dữ dội. Lần đầu tiên tôi được chứng kiến những đường đạn đỏ lừ lao vút lên không trung cùng hàng loạt tiếng nổ lộng óc. Thì ra mình vừa thoát khỏi một chiến trường giữa bộ đội phòng không ta và không quân Mỹ. Khi ấy tôi mới cảm thấy bớt sợ: nếu không có trận địa phòng không này lên tiếng thì có lẽ máy bay Mỹ đã thả bom trúng phà và chúng tôi đã tan xác rồi!

 

 Về đến nhà thì sự mệt mỏi và lo âu suốt dọc đường cũng tiêu tan hết. Vừa thấy tôi bước vào, má hỏi ngay: “Con đi đường có an toàn không? Ở nhà liên tục báo động suốt chiều nay!”; tôi liền kể chuyện 2 lần gặp máy bay Mỹ trên đường cho cả nhà nghe. Má xuýt xoa: “Thế là con thoát chết 2 lần đấy nhé!”. Ba bảo: “Hồi này Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc để yểm trợ cho cuộc phản công chiến lược mùa khô của chúng ở miền Nam”.  (Quân Mỹ đã và đang mở các cuộc hành quân “Át-tơn-bo-rơ”“Xê-đa Phôn” để “tìm-diệt” Việt Cộng và quân Bắc Việt tại khu căn cứ địa Dương Minh Châu và vùng Củ Chi-Bến Cát ở miền Đông Nam Bộ).

 Báo cáo xong kết quả học tập tốt của mình, tôi buồn rầu cho ba má biết hình như con bị đau dạ dày. Má quyết định: ngay sáng mai đến bệnh viện Việt-Tiệp khám và chụp X-quang để kiểm tra cả phổi và dạ dày.

 Sáng hôm sau tôi đạp xe đèo má đến bệnh viện. Kết quả chụp phim khiến tôi nửa vui nửa buồn: phổi sạch không còn dấu vết bệnh lao, nhưng dạ dày đã bị viêm thấy rõ. Tôi không còn phải uống rimifon nữa, nhưng giờ đây phải chuyển sang uống thuốc đau dạ dày kavet, melamin (một loại thuốc viên điều chế bằng bột nghệ trộn với mật ong) và một lô thuốc khác. Trên đường về, tiện thể hai má con tôi ghé thăm bác Khâm cùng anh chị Tín mới từ nơi sơ tán trở lại thàng phố. Khi ấy tôi mới biết rằng anh chị đã sinh thêm một bé gái từ tháng 11 năm ngoái và đặt tên là Lục Ánh Tuyết.

 Đường phố Hải Phòng lúc này cũng không đông vui, chứng tỏ đa số dân vẫn ở lại ăn tết nơi sơ tán. Đi qua tòa Tổng Lãnh sự Trung Quốc đỏ chói cờ biển khẩu hiệu “cách mạng văn hóa”, tôi thấy cổng tòa nhà mở và bên trong có nhân viên trực. Khi có người đi qua phía trước cổng, một nhân viên Trung Quốc mặc trang phục như Hồng Vệ binh bước tới mời dừng lại rồi trao cho người ấy một gói quà. Tò mò, tôi thử đi qua đó thì cũng được nhận ngay gói quà, kèm theo một câu chúc của anh nhân viên Tàu nói tiếng Việt rất sõi: “Việt Nam-Trung Quốc là đồng chí tốt, cùng làm cách mạng văn hóa!”. Giở quà ra xem: chính là cuốn Sách Đỏ “Trích lời Mao Chủ tịch” in tiếng Việt và một chiếc huy hiệu hình tròn to tướng với ảnh chân dung  Mao Trạch Đông. Thế là những sản vật của cuộc “cách mạng văn hóa” mà mình vốn chỉ được xem qua họa báo Trung Quốc, thì nay đã có trong tay. Món “quà” này đã kích thích tôi tìm hiểu thêm về những gì đang diễn ra ở nước họ.

 Trong không khí “cách mạng” cuồng nhiệt, Mao Trạch Đông được sùng bái là “lãnh tụ vĩ đại, người thầy vĩ đại, người cầm lái vĩ đại”, là “vừng hồng trong lòng nhân dân thế giới”, được tung hô “vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!” y như các vị Hoàng Đế xưa; còn Lâm Bưu là “bạn chiến đấu thân mật của Người”. Cùng lúc đó, những đồng chí ở các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước từng gây thù chuốc oán với Mao như Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Hạ Long, Bành Đức Hoài, Bành Chân…, cũng như nhiều nhà văn và trí thức nổi tiếng cùng hàng chục vạn cán bộ đảng viên khác đã lần lượt bị Hồng Vệ binh bắt giữ, đấu tố, tra tấn và tù đầy biệt tích. Phu nhân của Lưu Chủ tịch nhũ danh Vương Quang Mỹ bị Hồng Vệ binh bắt phải mặc trang phục “tư sản” là áo váy xẻ đùi kiểu Thượng Hải với giày cao gót, cổ đeo chuỗi bóng bàn với tấm bảng ghi rõ tội phạm, áp giải đi diễu cho quần chúng chửi rủa, rồi mang ra đấu tố, giam giữ cho đến khi chết trong tù.

 Quả là một cuộc “cách mạng triệt để” với phương pháp “đấu tranh giai cấp” đặc biệt theo truyền thống nước Tàu; nhưng tôi cũng phải tạm gạt nó sang một bên để còn vui Tết với gia đình.

 

 Tiêu chuẩn hàng tết của năm nay không khác gì năm ngoái, nên gia đình tôi cũng ăn tết tương tự như năm ngoái, với đủ bánh mứt, trà thuốc và hoa. Đêm giao thừa sau tiếng pháo vang khắp thành phố, cả nhà lại quây quần nghe thơ chúc tết của Bác Hồ qua đài phát thanh:

 

                    Xuân về xin có một bài ca

                    Gửi chúc đồng bào cả nước ta:

                    Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi

                    Tin mừng thắng trận nở như hoa.

 

Khi bài Lãnh tụ ca vang lên, hình ảnh Bác lại hiện lên uy nghi sáng chói với sao vàng phấp phới ánh hồng sáng tươi. Nhưng khi cả nhà tắt đèn đi ngủ, thì hình ảnh tuyệt vời của Thanh Tâm lại xuất hiện đậm nét trong tâm trí khiến tôi cứ phải trằn trọc mãi. Năm nay em đã học lớp 9, chắc chắn chiếc khăn quàng đỏ đã rời khỏi vai em, không còn cản trở tôi đến với em nữa. Vậy mà tôi không biết em sơ tán ở đâu và đang học ở trường nào, cũng không còn được thấy em tại căn nhà thân thương trên gác nhà Misô phía bên kia đường nữa; cuộc đời thật trớ trêu!...

 Sau bữa ăn tươi trưa ngày đầu Năm Mới, tôi mang ra khoe với ba lời Việt của bài La Marseillaise do mình sáng tác. Ba khen tôi lột tả sát đúng với tinh thần nguyên bản tiếng Pháp, và cho biết rằng chính bài Quốc ca Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của bài Quốc ca Pháp đó. Nhân tiện, ba hỏi tôi có hiểu hết ý nghĩa của bản Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền không? Tôi thành thật thú nhận là chưa hiểu hết văn kiện ấy. Ba  bảo phải tìm hiểu kỹ hệ tư tưởng Khai sáng thế kỷ XVIII thì mới thấy hết ý nghĩa vĩ đại của bản Tuyên ngôn đó đối với lịch sử nhân loại.

 Những ngày Tết đầm ấm xum vầy trôi qua nhanh chóng, rồi tôi lại phải khăn gói chuẩn bị trở lại trường.

Ba tặng tôi một cuốn sổ tay đóng bìa giả da rất đẹp, trang đầu nổi bật dòng chữ viết tay “Đại hội thi đua Hai Tốt 1965-1966 tặng” có đóng dấu của Sở Giáo dục, chứng tỏ nó là phần thưởng thi đua của ba (còn trang cuối lại in nhãn hiệu “Made in China”- chế tạo tại Trung Quốc). Chúc tôi giữ sức khỏe tốt để học tốt, ba căn dặn: “Con cần bình tĩnh, phải hết sức bình tĩnh trước mọi việc xảy ra với mình, nhất là đối với bệnh tật!”. Tôi hứa sẽ ghi nhớ lời ba.

Vì đường ô tô đã trở nên vô cùng nguy hiểm, ba má khuyên tôi đi đường thủy cho an toàn hơn. Tàu thủy và ca nô chạy đường sông đậu ngay ở bến Tam Bạc và mua vé cũng dễ dàng; thế là lần đầu tiên trong đời tôi được đi tàu đêm trên sông và cảm thấy rất thú vị. Cảnh đêm sông nước Hải Phòng lung linh ánh đèn từ từ lùi lại sau tàu rồi trở thành một quầng sáng thân thương phía chân trời. Ngồi thoải mái trên ghế trong khoang hành khách dưới ánh sáng mờ của mấy bóng điện yếu, nghe tiếng máy nổ đều đều đẩy con tàu lướt êm theo dòng nước róc rách, tôi thả hồn theo phong cảnh mờ ảo bên bờ sông với những ánh đèn ấm áp ẩn hiện trong đêm sương mù lạnh lẽo không trăng.

 Rạng sáng hôm sau tàu đến bến đò La Tiến bên bờ sông Luộc thuộc tỉnh Hưng Yên quen thuộc. Một thanh gỗ dài từ thành tàu bắc qua bến cho tôi bước lên bờ. Lại cuốc bộ trên con đường đê thân thiết để hít thở bầu không khí giá lạnh trong lành của buổi bình minh vừa rạng, tôi rảo bước trở về nơi sơ tán.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác