NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương 9, phần 1

( 18-10-2015 - 05:45 PM ) - Lượt xem: 742

Ở nhà được ba cho xem một xấp báo mới với mấy số của tờ họa báo “Trung Quốc”, tôi bắt đầu tìm hiểu về cuộc Đại cách mạng Văn hóa Vô sản này. Do đích thân Mao Chủ tịch phát động, cuộc “cách mạng” được khởi đầu cuối tháng 5-1966 từ hai trường đại học lớn nhất ở thủ đô nước này là Đại học Bắc Kinh (nơi xuất hiện tờ “đại tự báo” đầu tiên của nhân vật Nhiếp Nguyên Tử nào đó tố cáo “bọn côn đồ đen tối chống Đảng”) và Đại học Thanh Hoa (nơi thành lập đội “Hồng Vệ binh” đầu tiên). “Cách mạng” nhanh chóng lan tràn trong toàn quốc khi báo đăng ảnh “Mao Chủ tịch bơi qua sông Trường Giang” vào ngày 16-7 với một rừng cờ đỏ đầy khí thế ở hai bên bờ sông.

1. Chùm hoa phượng cuối mùa 

 

  Năm học lặng lẽ kết thúc đúng vào ngày cuối tháng 7; chúng tôi bước vào tháng 8 nghỉ hè khi thời tiết nóng bức của mùa hè bắt đầu chuyển dần sang khí hậu mùa thu mát mẻ. Đúng chiều chủ nhật đầu tháng, cùng nhóm bạn ở Hà Nội, tôi lên đường về Hải Phòng với lòng khao khát được báo cáo thành tích học tập với ba má và chứng kiến tận mắt những gì xảy ra sau cuộc oanh tạc vừa qua. Khi xe chạy qua khu Thượng Lý dưới ánh trăng vằng vặc, tôi không còn thấy Sở Dầu nữa: mấy chục bể chứa dầu khổng lồ mà trước đây đứng san sát bên nhau đã hoàn toàn biến mất; thay vào đó là một bãi đất hoang mênh mông đầy gạch đá nhuộm màu khói đen, với các hố bom lớn như những cái ao vẫn còn nguyên vẹn. Hậu quả của cuộc oanh tạc thật khủng khiếp; ngay cả đường số 5 cũng trúng bom trên một đoạn dài khiến xe chạy qua đây rất xóc vì các hố bom chưa được lấp đầy. Nhà cửa hai bên đường cũng bị thổi bay hết.

 Tối chủ nhật mà trung tâm thành phố cũng chẳng đông vui, có lẽ dân đi sơ tán không dám về vì sợ bom. Rất may là cả ba má cùng hai em đang có mặt đông đủ trong ngôi nhà thân yêu; và tôi lập tức được hòa mình vào tổ ấm gia đình. Tóc ba đã bạc trắng như một tiên ông, má vẫn gầy như ngày tôi gặp ở An Lão, em Dũng cao thêm chút ít và sắp lên lớp 2, còn em Hùng đã thực sự trở thành một chàng trai cường tráng ở lứa tuổi “bẻ gãy sừng trâu”. Khi ấy , Hùng đã học xong lớp 9 ở Trường Phổ thông Cấp III Kiến Thụy và đã được kết nạp vào Đoàn TNLĐ Việt Nam (trong khi tôi vẫn còn là “cảm tình Đoàn”!). Bất chấp bom đạn đe dọa hàng ngày, gia đình tôi lại được đoàn tụ ở nơi đây trong vòng một tháng trước khi năm học mới bắt đầu.

 Tôi đã nhìn thấy nhiều phụ nữ chít khăn tang trắng trên những nẻo đường góc phố, hình tượng xót xa về những người xấu số ở Hải Phòng đã bị chiến tranh cướp đi sinh mạng. Hầu như ngày nào cũng có báo động phòng không, có hôm cả gia đình tôi phải chui vào hầm trú ẩn hàng chục lần, may mắn là vẫn chưa xảy ra một trận bom nào. Thành phố lại trở về với nhịp sống bình thường trong khoảng thời gian giữa hai đợt báo động. Cửa hàng mậu dịch bên nhà Misô vẫn hoạt động như trước; “bà Trẻ” vẫn ngồi bán hàng ở chỗ quen thuộc của mình như chưa hề có chiến tranh; và tôi lại được đứng trên hầm trú ẩn bên cây nhãn thân quen nhìn sang căn phòng của gia đình Tâm để tìm lại hình bóng em sau một năm xa cách. Nhưng căn phòng ấy vẫn đóng chặt cửa mà chẳng thấy em về. Các bạn cũ của tôi cũng tứ tán khắp nơi nên chẳng gặp được ai; cả gia đình bác Khâm cũng ở lại nơi sơ tán không về.

 Đã xuất hiện mấy người đi xe đạp hãnh diện đeo một loại đài bán dẫn mới mang nhãn hiệu “Xiong Mao” do Trung Quốc sản xuất, như là một sự thách thức với những ai đã có chiếc “Orionton” trước đó. Đi khám tại bệnh viện Việt-Tiệp, tôi hân hạnh được chính Bác sĩ Nguyễn Văn Cương-Giám đốc bệnh viện và là người bạn đồng hương Nam Bộ của ba tôi đón tiếp rất thân tình; rồi lại nhận được tin vui từ phim chụp X-quang: vết mờ trên phổi đã thu gọn rất nhiều, nên từ nay tôi chỉ cần uống rimifon và tăng cường ăn uống bồi dưỡng mà không phải tiêm “xít-tép” nữa. Niềm vui trở lại trong không gian yên tĩnh, tôi lại chăm chú lắng nghe tiếng ve sầu, cùng lúc ngắm cây phượng trong vườn còn sót mấy chùm hoa cuối mùa bên những quả non vừa nhú trên cành, và trên thân nó vẫn còn lưu dấu vết của hai chữ lồng kỷ niệm mối tình thầm lặng không bao giờ quên. Gia đình chúng tôi lại có dịp ngồi bên nhau trong rạp để xem bộ phim màu màn ảnh rộng của Liên Xô nhan đề “Mùa xuân thiếu nữ” ngợi ca tuổi thanh xuân tuyệt đẹp của một đời người.

 Vào các đêm yên tĩnh trong gian phòng thân thuộc, tôi lại chiêm nghiệm những nhận thức của mình về cuộc sống và ghi vào nhật ký. Dưới đây là một đoạn trong đó:

 

            Thứ sáu 5-8-1966,

               Thế là đúng hai năm đã trôi qua kể từ ngày 8 chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi trên miền Bắc; nay con số đó đã lên tới trên 1200. Trong hai năm này, cuộc sống đã có biết bao thay đổi.

              Tôi chợt phát hiện ra một nét riêng trong cách sống của mình: một khuynh hướng “duy mỹ” có phần thái quá! Đối với mọi sự vật và hiện tượng từ quá khứ đến tương lai và ngay trong hiện tại, tôi đều nghĩ: cái đó có đẹp không? Rồi tôi hành động theo những gì mà mình cho là đẹp. Nhưng cuộc đời không đơn giản chỉ là sự lựa chọn giữa “đẹp” và “xấu”;  mà xen vào đó còn có cả “hữu ích” và “vô ích”, “đúng” và “sai”, “tốt” và “xấu”…Có những cái đẹp nhưng lại vô ích hoặc sai. Có những cái tưởng là xấu, nhưng lại hóa ra tốt khi chúng hữu ích. Có cái tưởng là đẹp, nhưng lại biến thành xấu khi nhìn nó theo cách khác. Tôi thường thi vị hóa để khoác cho các sự việc cần làm những vẻ đẹp theo cảm tính; bởi thế mà đã từng bị nhầm lẫn về bản chất của một số sự việc, dẫn đến những lựa chọn sai lầm trong cuộc đời.

              Cái “đẹp” phải luôn được nuôi dưỡng trong tâm hồn; nhưng áp dụng nó trong thực tế không phải dễ, vì nó cần được gắn liền với “đúng” và “hữu ích”.

 

 Khi đi qua nhà Đồng ở phố Trần Quang Khải, tôi phát hiện một cảnh tượng mới lạ tại tòa Tổng lãnh sự Trung Quốc ở kế bên nhà máy điện. Hai bên cổng chính tòa nhà có hai khẩu hiệu rất lớn bằng tiếng Việt và tiếng Trung nổi bật trên hai bức tranh cổ động vẽ ngay trên tường: một bên là khẩu hiệu “Đế quốc Mỹ là con hổ giấy!” với hình vẽ “chú SAM” râu dài mũ cao hai tay cẩm túi đô la và quả bom nguyên tử, đang bị rất nhiều người Tàu và người Việt chỉ tay vào mặt; bên kia là “650 triệu nhân dân Trung Quốc kiên quyết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ!” với hình ảnh người lính Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và chiến sĩ QĐNDVN oai nghiêm sát cánh bên nhau cùng giương súng với lưỡi lê tuốt trần, phía sau họ là đám đông người Tàu giơ cao những nắm đấm. Đáng chú ý hơn là cảnh trong khuôn viên tòa nhà: vô số băng cờ đỏ rực viết chữ Tàu treo  khắp nơi, cả trong vườn cây lẫn hành lang đại sảnh. Hóa ra đó là những biểu tượng của cuộc “Đại cách mạng Văn hóa Vô sản” đang diễn ra ở đất nước đông dân nhất thế giới này. Trở lại Sở Giáo dục của ba, hỏi thăm về anh Cơ và anh Cương - hai tay vợt bóng bàn bậc thầy người Hoa mà mình hằng quý mến, tôi được bác bảo vệ cho biết cả hai anh đều đã về nước để tham gia “Cách mạng văn hóa”.

 Ở nhà được ba cho xem một xấp báo mới với mấy số của tờ họa báo “Trung Quốc”, tôi bắt đầu tìm hiểu về cuộc Đại cách mạng Văn hóa Vô sản này. Do đích thân Mao Chủ tịch phát động, cuộc “cách mạng” được khởi đầu cuối tháng 5-1966 từ hai trường đại học lớn nhất ở thủ đô nước này là Đại học Bắc Kinh (nơi xuất hiện tờ “đại tự báo” đầu tiên của nhân vật Nhiếp Nguyên Tử nào đó tố cáo “bọn côn đồ đen tối chống Đảng”) và Đại học Thanh Hoa (nơi thành lập đội “Hồng Vệ binh” đầu tiên). “Cách mạng” nhanh chóng lan tràn trong toàn quốc khi báo đăng ảnh “Mao Chủ tịch bơi qua sông Trường Giang” vào ngày 16-7 với một rừng cờ đỏ đầy khí thế ở hai bên bờ sông.

Lực lượng xung kích mà Bác Mao sử dụng trong cuộc “cách mạng” này là Hồng Vệ binh, theo tên gọi các đội công nhân vũ trang của Đảng Bônsêvích trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga do Lênin lãnh đạo để đánh đổ chính quyền tư sản. Nhưng Hồng Vệ binh của Bác Mao không phải là công nhân vũ trang như trong Cách mạng Tháng Mười, cũng không phải là bần nông và trung nông lớp dưới theo lý luận cách mạng của chính Bác Mao, mà lại là thanh niên học sinh-sinh viên, những người trẻ (tuổi từ 15 đến 25) dễ dàng tuân phục sự sai khiến của Mao Chủ tịch mà họ coi là thần thánh. Đối tượng của “cách mạng” không phải chính phủ lâm thời tư sản (như trong cách mạng Nga), mà lại là những người đã hạ bệ Mao để thay ông nắm chính quyền trong Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc (từ sau thất bại của cuộc Đại Nhảy Vọt).

 Ngày16-8, hàng triệu Hồng Vệ binh trên toàn quốc mặc đồng phục màu xanh lục với chiếc mũ vải mềm có lưỡi trai, đeo băng đỏ và cầm trong tay cuốn sách bìa đỏ “Mao Chủ tịch ngữ lục” - trích đăng các lời dạy của Mao (thường được gọi tắt là “sách Đỏ”) kéo về Băc Kinh để ủng hộ Mao Chủ tịch. Trong cuộc mít tinh  khổng lồ tại quảng trường Thiên An Môn của các Hồng Vệ binh giương cao chân dung Mao cùng một rừng khẩu hiệu, Mao Trạch Đông và Lâm Bưu mặc quân phục đeo băng đỏ ở cánh tay đứng trên lễ đài kêu gọi họ “đánh đổ phái cầm quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”. Tiếp đó, Mao cho công bố tờ đại tự báo có tiêu đề “Nã pháo vào bộ Tư lệnh” để mở đầu phong trào “Tạo phản” cho Hồng Vệ binh đánh vào “bộ Tư lệnh của giai cấp tư sản” do Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đứng đầu.

 Được lệnh “tiêu diệt 4 cái cũ” (phong tục, tập quán, văn hóa và tư tưởng cũ), Hồng Vệ binh ồ ạt đốt phá các di tích lịch sử và công trình văn hóa cũ được coi là “tàn tích của tư tưởng văn hóa phong kiến và tư sản phản động”. Tượng Khổng Tử trong Khổng Miếu ở Sơn Đông bị dán lên dòng chữ “Thằng khốn nạn hàng đầu”, rồi bị kéo đổ và đập nát.

 Tôi hỏi ba có nhận xét gì về cuộc Cách mạng văn hóa này? Ba bảo lúc này chưa thể nhận xét gì được, rồi hỏi lại tôi: “Con đã đọc ‘Đông Chu liệt quốc’ và ‘Tam quốc diễn nghĩa’ chưa? Ba nghĩ câu trả lời có thể tìm ở đó!”. Tôi hiểu ngay ý ba: cuộc “cách mạng” này có lẽ giống như mọi cuộc tranh quyền đoạt vị bằng những mưu sâu kế hiểm giữa các vua chúa nước Tàu với nhau từ hàng ngàn năm xưa.

Về sau, tôi còn nhận ra rằng: mọi mưu mô của Tần Thủy Hoàng hay Tào Tháo cũng vẫn thua xa Mao Trạch Đông, bởi vì chưa có một bậc tiền bối nào nghĩ được diệu kế như Bác Mao vĩ đại: dùng sức phá hoại hăng say và mù quáng của thế hệ trẻ mới lớn để đập tan các đối thủ của mình.

 

Đầu tháng 9 bước vào năm học mới, chúng tôi đã trở thành sinh viên năm thứ hai tức khối Sử 2. Toàn khối vẫn còn học dưới mái đình cũ; nhưng tất cả các sinh viên trọ ở Võng Phan đều chuyển hết về Phí Xá và nhiều người trong lớp lại phải đổi chỗ ở (trong khi đó sinh viên năm thứ nhất mới nhập học được tập trung ở thôn Giai Lệ). Tôi phải tạm biệt nhà cụ Thọ để chuyển đến nhà cụ Quyết ở cùng với Trần Thiều, một cán bộ-đảng viên người Tày thường theo dõi mình rất sát trong suốt năm học vừa qua; còn anh Xương lại chuyển đến ở cùng anh Ninh tại nhà cụ Thọ thay chỗ của tôi. Nhà cụ Quyết với mái tranh tường đất cột gỗ không khang trang bằng nhà cụ Thọ, nhưng anh Thiều và tôi vẫn được gia chủ dành cho chiếc giường tốt nhất trong nhà. Cụ Quyết rất gầy yếu vì bệnh suyễn kinh niên sống cùng cụ bà và một người con gái chưa  chồng là chị Oanh. Hoàn cảnh kinh tế của gia đình khá eo hẹp, nên cụ rất cảnh giác đề phòng bọn trộm, bằng cách rào giậu quanh nhà thật cẩn thận. Đã có cánh cổng được chằng dây thép gai kỹ lưỡng, nhưng mỗi đêm trước khi tắt đèn đi ngủ cụ còn đặt bên trong nó mấy mấy đoạn tre khô có cành gai tua tủa chĩa ra ngoài để gây thêm trở ngại cho những kẻ có khả năng đột nhập. Bên cạnh cổng là một cái ao nhỏ đầy nước, xung quanh bờ nó cũng có rào tre nhằm mục đích phòng thủ. Cách nhà cụ Quyết chỉ một hàng rào là căn nhà tranh tường đất nhỏ bé hơn của chị Thục - một phụ nữ đơn thân có hai con trai nhỏ là cu Chanh lên 5 và cu Cốm 3 tuổi. Đó là nhà trọ của Hà Trọng Cường cùng anh Nguyễn Văn Hạnh, một cán bộ-đảng viên trong lớp. Vì ở nhà với anh Thiều không được thoải mái, tôi thường sang bên đó chơi và học với Cường. Tôi và Cường cũng hay đến thăm Thiên Hương đang ở cùng chị Đinh Thị Húa tại căn nhà gần đó của một người phụ nữ độc thân là bác Tương.

  Trong năm học mới dĩ nhiên chúng tôi có những thầy mới cho những môn học mới. Phụ trách phần LSTG Cận đại là thầy Phạm Gia Hải và thầy Nguyễn Văn Đức thay phiên nhau giảng dạy theo từng chương. Thầy Hải vốn là bộ đội chuyển ngành nhưng mang dáng vẻ lịch lãm của một người Hà Nội gốc. Kiến thức sâu rộng của thầy luôn được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ khúc chiết mạch lạc lôi cuốn người nghe. Thầy Đức là một Việt kiều yêu nước ở Pháp về, nên cách diễn đạt tiếng Việt giọng Nam Bộ của thầy hơi chậm chạp rề rà. Đã ngoài 40 tuổi nhưng chưa có gia đình, thầy có vẻ già hơn tuổi do dáng người hơi co rụt trong những bộ quần áo dạ với giầy da theo kiểu Pháp. Bù lại cho dáng vẻ thiếu sự trẻ trung, thầy có chiếc xe đạp “Peugeot” rất mới. Thầy Hải mở đầu bằng các chương về Cuộc Cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVII và Cuộc Chiến tranh giành Độc lập của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ; thầy Đức tiếp tục với Cuộc Đại Cách mạng Pháp thế kỷ XVIII và các cuộc Chiến tranh của Napoleon Bonaparte.

 Thầy Nguyễn Văn Kiệm phụ trách chính phần LSVN Cận đại (thường được thầy gọi vui là “thời Pháp thuộc”). Khi học phần này, ngoài cuốn giáo trình do thầy Kiệm chủ biên, chúng tôi còn có hai tài liệu tham khảo quan trọng là bộ sách “Chống xâm lăng” của Trần Văn Giàu và bộ “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” của Trần Huy Liệu.

Là một công dân lâu năm ở Hà Nội, thầy Kiệm rất tài hoa cả về chuyên môn và sinh hoạt, lại có tác phong giản dị và gần gũi sinh viên, nhất là trong  các giờ giải lao vào uống nước tại phòng anh Thủy. Ngồi giữa đám sinh viên thân thiết, thầy rít điếu thuốc lào rất kêu rồi lim dim mắt nhả khói thành từng vòng tròn, điệu nghệ như một nông dân thực thụ. Trong các buổi sinh hoạt văn nghệ, thầy còn trình diễn kỹ thuật chơi guitar rất cuốn hút.

 Ngay từ đầu năm học, thầy trò chúng tôi vừa dạy học lại vừa “xoay tua” nhau tham gia lao động để thực hiện kế hoạch xây dựng một giảng đường mới của Khoa thay cho đình Võng Phan. Công trường xây dựng là một khoảnh đất rộng có ngòi nước bao quanh ở thôn Phí Xá; còn nguyên vật liệu là tranh-tre-nứa-lá với mấy cây gỗ và bùn đất. Hai lớp Sử A và B học buổi sáng thì chiều đi lao động, hai lớp C và D theo trình tự ngược lại. Ngoài giờ lên lớp của mình, các thầy cũng tham gia lao động cùng chúng tôi; bên cạnh đó còn có một đội thợ chuyên nghiệp của hợp tác xã do Khoa thuê làm việc suốt ngày. Theo thiết kế, giảng đường hình chữ nhật đủ chỗ cho hơn 200 con người phải chìm xuống đất hơn một mét, số đất moi lên được dùng để bồi đắp thêm trên cả 4 phía xung quanh. Như vậy, việc đầu tiên phải làm là đào và đắp đất vốn đã quen thuộc với tôi từ những ngày khó quên ở công trường Muối. Tiếp đó là việc đục đẽo lắp ghép các vì kèo, dựng phên đánh tranh lợp mái…Các cán bộ đi học và sinh viên gốc nông thôn tỏ ra thạo việc hơn hẳn đám sinh viên gốc thành thị tạch-tạch-sè luôn có vẻ lóng ngóng. Anh Tống Xuân Mậu còn mang đến công trường chiếc đài Xiong Mao (có lẽ mới được mua theo tiêu chuẩn trưởng phòng ở Ty Giáo dục Thái Bình của anh), mở to hết cỡ để giúp vui cho mọi người. Thầy Đức rất xa lạ với những việc “thổ mộc” ở đây, nhưng vẫn thường cởi giầy tây và áo tây để xắn quần lội đất giúp đỡ mọi người, khiến ai cũng thương thầy mà bảo: “Thầy nghỉ tay đi, để bọn em làm nốt!”. Thầy Hải luôn để lộ một thân hình đầy đặn với các đôi bắp tay bắp chân săn chắc cho thấy khả năng lao động chân tay của một người quen lao động trí óc luôn đeo kính trắng. Thầy Kiệm vóc dáng mảnh khảnh cũng như thầy Quang thấp đậm thường đội mũ lá và luôn thể hiện tài cưa đục như những thợ mộc lão luyện, khiến các tay chuyên nghiệp của hợp tác xã cũng phải trầm trồ.

Sau một tháng lao động vất vả nhưng cũng vui, chúng tôi đã xây dựng xong giảng đường mới cho mình: một ngôi nhà lớn bằng mái lá phên tre, với một phần chìm dưới lòng đất, và phần nhô lên trên cũng được bao quanh bằng những gờ đất, đủ chỗ ngồi rộng rãi cho 2 lớp cùng học trong một buổi. Đó là kiểu “trường học dưới hầm” được xây dựng phổ biến trên toàn miền Bắc để phòng tránh những cuộc oanh tạc của không quân Mỹ. Một chiếc cầu tre có tay vịn đơn sơ bắc qua ngòi nước để thầy trò chúng tôi đi qua mà vào trường. Cách đó không xa, một nhà bếp mới với mái tranh vách đất cũng được dựng lên bên một bụi tre xanh um tùm. Các giao thông hào cùng những hầm chữ “A” cũng được đào đắp tại những nơi cần thiết. Sau cùng, toàn bộ bàn ghế bảng đen ở đình Võng Phan cùng với nồi niêu xoong chảo từ nhà bếp ở đó đã được vận chuyển bằng sức người, đưa vào giảng đường mới và nhà bếp mới. Sang tháng 10, thầy trò chúng tôi bắt đầu dạy học, sinh hoạt và ăn uống tại chỗ mới.

 

 Khi ấy thư viện của Khoa mới nhập về bộ sách “Na-pô-lê-ông Bô-na-pác”, một công trình khảo cứu công phu của sử gia Xô Viết Ê.Tác-lê (Evgheni Victorovich Tarle) được dịch rất tốt sang tiếng Việt. Thầy Đức trao nó cho tôi và dặn đọc kỹ để thuyết trình cho sinh viên toàn khối. Tôi say mê đọc nghiến ngấu liền một mạch suốt hai tập rất dầy của bộ sách này, đọc đi rồi đọc lại, càng đọc càng thấy hay khiến tôi nắm vững toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp với các chiến công lừng lẫy, những bước thăng trầm (và cả những mối tình) của vị danh tướng lỗi lạc nhất thế giới sau trở thành Hoàng đế Napoleon vĩ đại của nước Pháp. Từ đó, tôi vạch ra một đề cương để thuyết trình sao cho truyền tải được đầy đủ những sự kiện và  ý tưởng mà tác giả đã trình bày bằng một nghệ thuật ngôn ngữ tuyệt vời.

 Tại buổi thuyết trình, sau lời giới thiệu của thầy Đức, tôi bước đến bàn thầy đặt bộ sách và bản đề cương lên đó. Nhìn về phía cử tọa đang ngồi chật cứng giảng đường, tôi cảm thấy hơi run trước số đông bạn học của cả 4 lớp vốn rất quen thuộc mà giờ đây bỗng trở nên khó hiểu vì không biết họ sẽ nghĩ gì về mình, nhất là ở hàng ghế đầu lại có đủ mặt thầy Đức, thầy Hải và cả cô Đặng Bích Hà-phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cố gắng trấn tĩnh, tôi mở đầu bằng mấy câu đã ghi  trong đề cương. Thế rồi các sự kiện sinh động cứ lần lượt hiện lên trong tâm trí đã giúp tôi trình bày thật lưu loát mà ít phải xem lại văn bản đã viết sẵn. Khi cần, tôi còn lấy phấn vẽ lên bảng sơ đồ bài binh bố trận của Napoleon và các địch thủ của ông trong các trận đánh lớn (theo trí tưởng tượng của tôi qua lời văn trong tác phẩm), nổi bật  là các chiến trận Austerlitz, Borodino và Waterloo. Sau cùng, để kết thúc bài nói về vị danh tướng bách chiến bách thắng làm bá chủ lẫy lừng ở châu Âu, nhưng chỉ vì một bước xảy chân ở Waterloo mà phải trở thành một tù nhân bị đày chung thân trên đảo Saint Helena, tôi trích dẫn danh ngôn bất hủ của chính Napoleon Bonaparte: “Từ sự tuyệt diệu đến sự lố bịch chỉ có một bước”.

 Cử tọa im phăng phắc, cũng không thấy ai yêu cầu giải lao trong suốt hai giờ thuyết trình. Khi tôi ngỏ lời cảm ơn các thầy cô và các bạn đã chú ý lắng nghe, một tràng vỗ tay vang lên đáp lại. Tôi xin các thầy cô và các bạn góp ý cho mình; lại thêm một loạt vỗ tay nữa mà không ai có ý kiến gì. Bỗng nhiên cô Đặng Bích Hà đứng dậy tiến đến bắt tay tôi và nói: “Em thuyết trình tốt lắm, tôi rất hài lòng! Chúc em luôn mạnh khỏe và học giỏi!”. Tôi chưa kịp cảm ơn thì cô đã chỉ vào đầu gối tôi mà hỏi: “Nhưng sao em lại mặc quần rách thế này?”. Khi ấy tôi mới quan tâm đến lỗ thủng dễ thấy ở chỗ cô chỉ trên chiếc quần đã quá cũ của mình! Tôi đỏ mặt lí nhí: “Xin lỗi cô, em sẽ vá lại!”. Cô thân mật vỗ vai tôi, rồi ra dấu tạm biệt với một nụ cười và ánh mắt đầy thiện cảm. Các bạn thân ùa đến chúc mừng tôi. Anh Xương khen: “Quốc khá quá! Bây giờ mình mới biết thêm tài của cậu”. Thiên Hương nói nhỏ với tôi: “Quốc thay quần rồi đưa Hương vá cái chỗ rách ấy cho!”. Tôi gật đầu ra về trong tâm trạng lâng lâng đầy cảm xúc.

 Trong môn LSVN, thầy Kiệm cho chúng tôi một đề bài kiểm tra rất thú vị: bình luận về lời vua Tự Đức mắng Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp sau khi hai ông này ký Hòa ước 1862 cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp:“Hai tên kia không những là tội phạm của bản triều, mà còn là tội nhân của thiên cổ!”. Đề bài này đòi hỏi phải đánh giá Phan Thanh Giản và vua Tự Đức qua hành động và lời nói của họ. Tôi trình bày bi kịch của Phan Thanh Giản: là đại quan của triều đình, cụ có trách nhiệm đánh giặc giữ nước; nhưng là một người hiểu rõ sức mạnh hơn hẳn của địch mà luôn yêu thương nhân dân và binh sĩ, không muốn họ phải đổ máu vô ích, cụ đã chọn giải pháp đầu hàng (với điều kiện phía Pháp phải cam kết bảo đảm an toàn cho dân chúng) rồi uống thuốc độc tự tử để tạ tội với vua. Từ đó tôi nhận định: vua Tự Đức có quyền trách mắng và trừng phạt hai kẻ đầu hàng dâng thành cho địch; nhưng chính vua và triều đình cũng bất lực không tìm được giải pháp nào để có thể đánh thắng kẻ thù; vì vậy mà cũng cần khoan dung với hai cụ Phan-Lâm vì lòng thương dân của họ. Do làm tốt bài này, cả tôi với anh Xương và một vài người khác cùng được điểm 8.

 Bên cạnh các môn lịch sử, chúng tôi còn được học một chuyên đề Địa lý do cô Huỳnh Thị Cả (ở khoa Địa, là bạn học cũ của anh Xương tại Khu học xá Trung ương Nam Ninh-Trung Quốc) sang giảng dạy, rồi thầy Hoàng Thiếu Sơn (cũng ở khoa Địa) đến thuyết trình một buổi về mối quan hệ giữa văn học và lịch sử. Lại có cả môn Thể dục do một thầy giáo trẻ được Trường cử về giảng dạy ở Khoa. Chúng tôi phải sắm mỗi người một thanh kiếm gỗ và một chiếc gậy, để học các bài võ với côn và kiếm của thầy ấy tại sân đình và sân kho hợp tác xã. Tôi nhớ nhất là các thế võ với côn: “bổ thượng gần”, “bổ thượng xa”, “đỡ bổ thượng”, “quét chợ”…

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác