NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương 8, phần 6

( 19-09-2015 - 06:03 AM ) - Lượt xem: 763

Thưởng chỉ dẫn cho tôi chính là con đường ngắn nhất để người ta vươn lên Đoàn, vươn lên Đảng và vươn lên mọi chức quyền mà mình khao khát; còn cống phẩm dùng trên con đường này không chỉ là “điếu đóm” theo nghĩa hẹp, mà thường là theo nghĩa rộng với đủ loại giá trị cao hơn nhiều, bao gồm cả cái đồ bí ẩn trong quần lót phụ nữ.

 6. Sinh mạng mong manh

 

Từ ngày cây gạo nở hoa tôi cũng gặp một việc rất vui. Khi làm bài kiểm tra kết thúc phần Lịch sử thế giới cổ đại phương Tây với đề bài “Nền kinh tế đại điền trang (latifuldia) và sự sụp đổ của Đế quốc La Mã”, tôi đã rất hài lòng với bài làm của mình, nhưng không ngờ kết quả đạt được còn hơn dự kiến. Trong giờ trả bài, thầy Lương Ninh hết lời khen bài của tôi, tuyên bố rằng đây là bài tốt nhât khiến thầy phải cho điểm 9 (một điểm số rất hiếm ai được nhận); rồi thầy đọc cả bài cho mọi người cùng nghe. Khỏi phải nói tôi sung sướng đến thế nào khi cảm thấy mình đang được bạn bè ngưỡng mộ.

 Chương trình tiếp theo là phần Lịch sử thế giới Trung đại do thầy Đặng Đức An phụ trách. Thân hình cao lớn nhưng gầy, vầng trán cao, mũi cao và cổ cũng cao cùng đôi mắt sáng, thầy có dáng vẻ của một quý ông lịch lãm người Âu. Giọng nói của thầy nhỏ nhẹ chậm rãi và từ tốn không thích hợp với thân hình đó, nhưng lại rất phù hợp với giọng nhẹ nhàng êm ái của vợ thầy - một phụ nữ Hà Nội gốc là chị Minh Tâm, bạn đồng học với tôi. Bằng giọng như vậy, thầy đưa bọn sinh viên chúng tôi trở về với châu Âu thời Trung cổ, từ sự hình thành các vương quốc phong kiến đầu tiên với Đế quốc Sáclơmanhơ (Charlemagne), các cuộc Thập tự chinh, cải cách tôn giáo và thời đại Phục Hưng cho đến cuộc cách mạng tư sản đầu tiên ở Hà Lan. Sẵn có một số kiến thức về thời Trung cổ châu Âu học được từ các sách đã đọc thời học sinh như “Aivanhô”, “Người anh hùng rừng Xécvút” hay “Đông Kisốt”, tôi tiếp nhận những bài giảng của thầy một cách dễ dàng và đầy hứng thú. Tôi đặc biệt đi sâu tìm hiểu về hệ thống đẳng cấp phong kiến được miêu tả qua câu “bồi thần của bồi thần của ta không phải là bồi thần của ta” và những giá trị của thời đại Phục Hưng.

 Đang đắm chìm trong không khí của “đêm trường Trung cổ” dươi sự áp chế toàn diện của hệ thống thần quyền Thiên chúa giáo, tôi bỗng được Nguyễn Văn Thưởng kéo ra một chỗ và nói:

          - Cậu học tốt và có lý lịch tốt, chi đoàn đang chú ý đến cậu để phát  triển Đoàn.  Nhưng mình hỏi thật nhé: tại sao hồi học phổ thông cậu chưa được vào Đoàn?

  Có nhiều cách để trả lời, nhưng tôi cảm thấy câu hỏi đó rất vô duyên nên đã đáp:

          - Có thể là vì hồi mình học lớp 10 có người đã hỏi: tại sao cậu không được kết  nạp Đoàn từ lớp 9?

 Không nhận ra cái ý hài hước của tôi, Thưởng khuyên:

  - Cậu nên chan hòa với mọi người hơn nữa, cần gần gũi các đảng viên và đoàn viên hơn.     

   Đã nhiều lần tôi chứng kiến cách thức “gần gũi đảng viên” của Thưởng trong các cuộc hút thuốc lào. Khi một đảng viên (thường là anh Tạ Lộc) cầm điếu chuẩn bị hút, cậu ta liền mở nắp hộp thuốc của mình chìa ra cho anh ấy lấy thuốc cho vào nõ, rồi Thưởng lấy đóm châm lửa trao cho anh ta đốt, rít rồi nhả khói. Cách thức ấy của Thưởng (trong dân gian gọi là “điếu đóm”) cho thấy sự thân mật giữa hai người có cùng sở thích, nhưng lại ẩn chứa bên trong một thái độ xun xoe nịnh hót của một “cảm tình đảng” để lấy lòng bề trên có quyền xét duyệt mình. Hiểu ngay lời khuyên của Thưởng có ý buộc mình phải “điếu đóm” cho chính cậu ta và các nhân vật cần thiết khác, tôi buột miệng trả lời: “Nhưng tớ không biết hút thuốc lào”. Chẳng biết Thưởng hiểu câu đó của tôi như thế nào, cậu ta nói với giọng thành thực: “Thiếu gì cách, chỉ cần cậu có ý thức gần gũi là sẽ làm được!”.  Tôi im lặng vì biết rằng mình sẽ không bao giờ có thể làm theo lời khuyên của Thưởng. Luôn đối xử tử tế với mọi người, nhưng tôi chỉ thân thiết với những ai mình thực sự ưa thích, mà không thể giả tạo sự gần gũi những người có vai trò quan trọng để được tiến thân. Nhớ lại lần mình mời Thưởng ăn phở ở căngtin Trường, chắc khi ấy cậu ta đã tin rằng tôi biết cách “gần gũi” phó bí thư chi đoàn để được vào Đoàn. Nhưng đến khi tranh cãi với nhau trong vụ góp ý với “quan nhà bếp” thì cậu ta đã nhìn tôi với con mắt khác. Giờ đây, có lẽ Thưởng thực tâm muốn chỉ dẫn cho tôi con đường thích hợp để “phấn đấu vươn lên Đoàn” mà tôi không thể chấp nhận. Rất lâu sau tôi mới nhận ra lời khuyên của Thưởng là có lý: đã là “cảm tình Đảng” hay “cảm tình Đoàn” thì dĩ nhiên phải gần gũi thân thiết với đảng viên hay đoàn viên; nếu chỉ có cảm tình với lý tưởng trừu tượng của Đoàn và Đảng thì còn lâu mới được kết nạp. Tôi cũng nhận ra việc “điếu đóm” không chỉ giới hạn trong phạm vi thuốc lào, mà lan rộng sang lĩnh vực thuốc lá: đương sự luôn đút túi một bao thuốc lá, khi “gần gũi” các vị bề trên liền rút bao mở gói chìa ra cho vị ấy nhón lấy một điếu ngậm trên môi (đôi khi còn thêm một điếu giắt mang tai để dành), rồi đương sự khúm núm đánh diêm châm lửa cho bề trên nhả khói. Nhiều năm sau, dần dần tôi mới giác ngộ rằng điều mà Thưởng chỉ dẫn cho tôi chính là con đường ngắn nhất để người ta vươn lên Đoàn, vươn lên Đảng và vươn lên mọi chức quyền mà mình khao khát; còn cống phẩm dùng trên con đường này không chỉ là “điếu đóm” theo nghĩa hẹp, mà thường là theo nghĩa rộng với đủ loại giá trị cao hơn nhiều, bao gồm cả cái đồ bí ẩn trong quần lót phụ nữ.

 

 Mấy bạn trẻ cùng lớp tôi phát hiện ở bãi đất ven bờ sông Luộc có những mảnh vườn tươi tốt trồng một loại cây mía đặc biệt ngon, thân không cao mà vỏ rất mềm màu tím chứa đầy nước ngọt bên trong, gọi là “mía kĩa” hay “mía xương gà”. Chẳng hiểu hợp tác xã quản lý thế nào mà dân vẫn hào phóng chặt bán cho chúng tôi ngồi ăn tại chỗ với giá phải chăng. Thế là việc đi thăm các vườn mía này trở thành thú vui, và là dịp bổ sung thực phẩm hấp dẫn cho chúng tôi trong thời gian rảnh rỗi.

 Một chiều đẹp trời, Tú rủ tôi với Trọng Cường và Trọng Khang ra chơi vườn mía. Sau khi nhai hết 4 cây mía ngon lành, cảm thấy năng lượng trong cơ thể trở nên dồi dào, chúng tôi rủ nhau bơi qua sông sang bờ bên kia (thuộc huyện Duyên Hà tỉnh Thái Bình). Nhìn dòng nước chảy không xiết và ước lượng chiều rộng của sông chỉ khoảng 200m (bằng 4 lần chiều dài hồ bơi An Dương, một cự ly mà mình thường đạt được ), tôi nghĩ mình đủ sức đua cùng các bạn. Cất giấu quần áo và dép vào bụi mía, chúng tôi mặc quần lót lội xuống sông và bắt đầu bơi sải. Mới cách xa bờ một quãng, tôi nhận ra ngay rằng bơi qua sông khác hẳn trong hồ. Sóng và dòng chảy khiến mình tiêu tốn rất nhiều sức, và sông rộng hơn nhiều so với khoảng cách ước lượng khi đứng trên bờ. Chỉ được một lúc, tôi đã cảm thấy tay chân mệt mỏi rã rời, khó có thể bơi tiếp qua sông. Nhìn trước nhìn sau thấy mình đang ở giữa dòng, tôi hoảng sợ nghĩ mình có thể chết đuối nếu không bơi được nữa. Các bạn đã vượt qua mình khá xa, sắp sang tới bờ bên kia, nên tôi không thể kêu cứu với chúng được. Chỉ còn cách mình tự cứu mình, tôi quyết định quay trở lại bờ, chuyển sang bơi ếch cho đỡ mệt hơn. Nhưng rồi cũng không đủ sức để bơi ếch nữa, tôi đành bơi ngửa với những guồng tay và chân đạp yếu ớt, nên bắt đầu bị uống nước sông. Rất may là chưa bị chuột rút, tôi vẫn còn tỉnh táo để dốc hết sức lực còn lại mà quẫy đạp cho nổi người lên. Bỗng thấy chân mình chạm đất đáy sông, tôi loạng choạng bước lên bờ rồi khuỵu xuống nằm lăn trên bãi cát. Có lẽ mình vẫn chưa bị ngất, nên khi các bạn bơi về đến hỏi thăm, tôi đã ngồi dậy được để kể lại sự việc.

 Sau vụ chết hụt ấy, tôi nghiệm ra rằng sinh mạng con người hết sức mong manh, chỉ cần một sai lầm nhỏ cũng có thể khiến mình toi mạng.

 

 Một buổi sáng đang say sưa nghe thầy giảng trong đình, chúng tôi bỗng nghe tiếng máy bay gầm rú trên không, rồi tiếng kẻng báo động vang lên từng hồi. Thầy lập tức ngừng giảng và ra lệnh cho chúng tôi chạy ra hào giao thông ẩn nấp. Đứng dưới hào nhìn lên trời qua mấy tán tre xanh, chúng tôi thấy một chiếc máy bay hiện ra từ một đám mây rồi vụt bay khuất dạng vào một đám mây khác; rồi lại một chiếc nữa lấp lánh ánh mặt trời xuất hiện, kéo theo dải khói trắng dài sau đuôi. Cảnh tượng tương tự như vậy lặp đi lặp lại mấy lần trong tiếng gầm rít của máy bay khiến chúng tôi hiểu rằng mình đang được xem một trận không chiến. Bỗng một quầng lửa bùng lên giữa trời xanh kèm theo một tiếng nổ đinh tai vang khắp không gian, rồi một chiếc dù trắng từ trên trời từ từ rơi xuống trong khi máy bay biến khỏi bầu trời. Kẻng báo động lại vang dồn dập cùng với một mệnh lệnh không hiểu từ đâu phát ra: “Bắt giặc lái Mỹ!” (khi ấy, phi công Mỹ được Đảng ta gọi là “giặc lái” để nhân dân ta tăng thêm lòng căm thù chúng). Dặn thầy và đám phụ nữ ở lại, các nam sinh viên chúng tôi nhảy ra khỏi hào, chạy vào nhà dân mượn tạm một thứ dụng cụ nào đó làm vũ khí, rồi băng qua đê ra cánh đồng, theo sau mấy đội dân quân cầm súng chạy đến nơi chiếc dù sắp rơi xuống đất. Trên cánh đồng diễn ra một cuộc truy kích giặc lái theo đúng đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng-Bác: “ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng gậy gộc”. Với phẩm chất anh hùng hễ ra ngõ là gặp, mọi người chạy khỏe quá, tôi đua không nổi đành lẹt đẹt vác gậy theo sau. Kẻ nhảy dù không kháng cự vì đã chết từ trước. Nhưng khi xem xét kỹ thi hài vừa rơi xuống đất, các chỉ huy dân quân bỗng nhận ra rằng: đó không phải giặc lái Mỹ, mà chính là phi công của Không quân Nhân dân Việt Nam. Thi hài liệt sĩ liền được trân trọng đặt lên một chiếc xe bò để đưa lên cấp trên. Tất cả mọi người rơi lệ cúi đầu đi theo xe đưa tiễn người con của dân tộc đã hy sinh anh dũng. Trong tâm trí tôi lại vang lên một lời nhắc nhở: sinh mạng con người mong manh quá, chẳng hiểu anh ấy mắc sai lầm gì mà bị địch bắn hạ!

 

 Đầu tháng 5, tôi được cử làm “cán sự văn nghệ” của lớp. Nhận những bài hát mới từ trên Khoa đưa xuống, tôi say sưa tập hát cho cả lớp các ca khúc “Tiếp lương ra tiền tuyến” của Phương Giao ca ngợi các đoàn dân công phục vụ chiến trường, “Vui mở đường” của Đỗ Nhuận ca ngợi các nữ thanh niên xung phong mở đường ra trận, “Đường ta đi dài theo đất nước” của Vũ Trọng Hối ca ngợi các chiến sĩ giao liên…Nhưng tôi thích nhất bài “Những cô gái quan họ” của Phó Đức Phương với giai điệu mượt mà thấm đẫm hồn dân tộc:

 

                    Trên quê hương quan họ (i)

                    Một làn nắng (i) cũng mang điệu dân ca.

                    Giữa mùa lúa thơm, cánh cò bay đẹp như trong mộng (i)

                    Những cô Tấm ngày xưa như vẫn còn đây trong mùa trẩy hội…

 

 Vẫn vui với công tác văn nghệ, nhưng tôi cảm thấy sức khỏe của mình có vẻ sa sút. Mụn nhọt cứ mọc hết chỗ này lại đến chỗ khác, khiến tôi luôn nhức nhối khó chịu. Tiết trời mùa hè rất nóng mà tôi cứ bị khúc khắc ho không hiểu tại sao, mà người rất hay mệt mỏi. Lên trạm y tế của Khoa khám bệnh, tôi được cô y tá cấp một ít vitamin B1 và một đơn thuốc ghi rõ phải đi chụp “X-quang” để xác định bệnh.

Được Khoa cho phép nghỉ một tuần đi khám chữa bệnh, tôi về Hải Phòng trong tâm trạng bất an. Thành phố vắng vẻ hơn trước nhưng cũng không có nhiều thay đổi; tôi về nhà đúng vào tối thứ bảy 14-5 nên được gặp cả ba má và em Dũng (em Hùng ở lại nơi sơ tán không về). Sáng hôm sau, má đưa tôi đi chụp X-quang tại bệnh viện Hữu Nghị Việt-Tiệp. Kết quả đọc được trên phim khiến tôi choáng váng: một vết mờ trên phổi trái cho biết tôi đã bị “sơ nhiễm lao”- như lời bác sĩ ghi trong đơn thuốc. Đã từng được biết câu “phong-lao-cổ-lại tứ chứng nay y”, tôi cảm thấy đời mình sắp tàn rồi! Dường như nhận thấy sự hoảng hốt trên nét mặt tôi, vị bác sĩ trấn an: “ Bệnh lao ngày nay không đáng sợ nữa, vì đã có thuốc đặc trị hiệu quả. Em cứ điều trị nghiêm túc theo đơn này, và chịu khó ăn uống bồi dưỡng là sẽ khỏi bệnh!”. Thuốc đặc trị là các viên rimifon để uống và các lọ streptomycine (gọi đơn giản theo tiếng Việt là “xít-tép”) để tiêm đã được cấp ngay, nhưng tôi vẫn không tin rằng mình sẽ khỏi bệnh. Nghĩ đến việc đề phòng lây bệnh cho người khác, tôi càng thất vọng hơn khi cảm thấy mình sẽ phải cách ly với những người ruột thịt cùng bạn bè thân thích. Do vậy, tôi không dám tìm gặp bạn bè; và tự nhủ rằng từ nay không được mơ tưởng gì về em Thanh Tâm nữa.

 Để trốn khỏi tâm trạng thất vọng, tôi vùi đầu vào chồng báo chí của ba để tìm hiểu tình hình thời sự. Qua mấy số họa báo “Trung Quốc” xuất bản bằng tiếng Việt, tôi nhận thấy quan hệ giữa nước này với Inđônêxia đã trở nên vô cùng căng thẳng với những cuộc mít tinh biểu tình phản đối chính quyền Giacácta đàn áp và khủng bố Hoa kiều. Chính phủ Trung Quốc đã phải cho nhiều tàu thủy sang Inđônêxia để đón Hoa kiều bị đàn áp về nước. Nhiều bức ảnh chụp Hoa kiều băng bó đầy mình nằm trên cáng được khiêng xuống tàu vẫn ôm ảnh Mao Chủ tịch trước ngực. Ba cho tôi biết thêm rằng Đảng Cộng sản Inđônêxia có mối quan hệ mật thiết với Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nắm được đội cận vệ của Tổng thống Xucácnô do một đảng viên là trung tá Untung chỉ huy. Trung tá này đã dùng ngay lực lượng cận vệ của mình để tiến hành đảo chính bằng cuộc tàn sát 6 viên tướng đứng đầu quân đội nước này. Nhưng tướng Xuháctô đã kịp thời ngăn chặn đảo chính và chuyển sang phản công tiêu diệt cộng sản. Như vậy là phong trào cách mạng Inđônêxia đã phải chịu một tổn thất nặng nề (hàng chục vạn cán bộ cộng sản và hàng triệu Hoa kiều đã bị đàn áp).

 

 Rời sách báo ra, tôi chỉ còn biết nương tựa vào cha mẹ để vượt qua bệnh tật. Má quyết định đưa tôi về nơi sơ tán để điều trị cho con mình. Sau tết Bính Ngọ, má không còn ở xã An Hồng thuộc huyện An Dương nữa, mà chuyển đến xã Quang Trung thuộc huyện An Lão cách thành phố khoảng 20km và làm phó Hiệu trưởng trường cấp I của xã này. Nằm gần con đường nhựa số 10 dẫn sang huyện Tiên Lãng (cách bến đò Cựu chỉ hơn nửa cây số), trường cấp I Quang Trung được lệnh dời sâu vào trong thôn xóm với các lớp học bằng tranh-tre-nứa-lá, để lại ngôi nhà tường gạch mái ngói với 3 phòng học cho má tôi (cùng em Dũng) và đôi vợ chồng một cô giáo trẻ (với cậu con trai 2 tuổi) làm chỗ ở tạm (mỗi gia đình ở một phòng đầu và cuối dãy, còn phòng giữa dùng làm bếp và là nơi sinh hoạt chung) . Được về đây ở cùng má và em, tôi nhanh chóng làm quen với đôi vợ chồng cô giáo, và nhận ra họ cũng là chỗ quen biết với mình: cả chị Phạm Lê Thu (giáo viên cùng trường với má) là chị họ con bác của bạn cũ Phạm Lũng Hà và anh Đặng Đình Thiện chồng chị (một cán bộ Ngân hàng Hải Phòng sơ tán về đây) đều là cựu học sinh Ngô Quyền học trên tôi 4 khóa. Hai anh chị cùng má và em Dũng quý mến nhau cứ như là thân nhân trong một gia đình. Thú vị nhất là cả hai vợ chồng cùng say mê âm nhạc và hát rất hay; anh Thiện còn là một cây ghi ta cự phách, lôi cuốn cả má con tôi vào những buổi “ca nhạc gia đình” sau bữa cơm chiều.

 Hàng ngày, tôi uống rimifon rồi đến trạm xá xã tiêm xít-tép theo đúng chỉ định của bác sĩ. Ngoài hai bữa cơm chính và điểm tâm buổi sáng, má còn cấp tốc bồi dưỡng cho tôi bằng trứng gà đánh kem với đường rồi trộn vào bia hơi thành một món đồ uống đặc biệt. Được chăm sóc chu đáo trong tình cảm gia đình, tôi dần dần giảm bớt tâm trạng thất vọng. Niềm vui sống đã trở lại với tôi khi được nghe và hát cùng anh chị Thiện các ca khúc trữ tình tuyệt vời (tức “nhạc vàng”) của các nhạc sĩ quen thuộc: Văn Cao,  Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước, Đoàn Chuẩn, Phạm Duy…Mặc dù phải dùng bát đũa riêng và tránh đối diện với người nói chuyện để đề phòng lây bệnh cho những ai tiếp xúc với mình, tôi đã quên đi những sự phức tạp, khó khăn và nguy hiểm đáng chán của cuộc đời, để tâm hồn bay bổng vào cõi thần tiên của tình người êm ái dịu dàng sâu lắng trong những buổi ca nhạc ấy. Tuy đã vài lần chứng kiến những tốp phi cơ Mỹ ào ạt bay về phía thành phố Hải Phòng khiến mọi người trong nhà phải đội mũ rơm chạy ra hầm, tôi cảm thấy khoảng thời gian chưa đến một tuần sống trong ngôi nhà ngói ba gian này vẫn tràn đầy hạnh phúc. Có lẽ nhờ đó mà sức khỏe của tôi có vẻ đã được phục hồi phần nào. Trước lúc cùng hai con về thành phố để tiễn tôi trở lại trường, má mua thịt nạc chế biến thành một hộp ruốc đầy để tôi tiếp tục bồi dưỡng. Còn anh Thiện để lại cho tôi một kỷ niệm không bao giờ quên là ca khúc rung động lòng người “Trăng mờ bên suối” mà tôi đã học được từ anh:

 

                              Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối

                              Rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu

                              Một đêm thiết tha rồi đây xa cách

                              Rồi đây hai ngả biết tới phương nào…

 

Cho đến lúc đó tôi mới biết đến tên nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên là tác giả của ca khúc này. Bịn rịn chia tay anh chị Thiện, tôi ước hẹn sẽ có ngày được gặp lại đôi vợ chồng có tình cảm và tâm hồn rất đẹp ấy. Nhưng cuộc đời không giúp tôi thực hiện được lời hẹn ước này.

 

Trở lại Khoa tiếp tục học tập với tư thế của một bệnh nhân, tôi vận dụng hết nghị lực của mình để khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Hàng ngày tôi uống thuốc đều đặn rồi lên trạm xá của Khoa để tiêm thuốc. Hộp ruốc thịt mang theo nhanh chóng vơi cạn vì phải chia sẻ nó với bạn bè, tôi mua trứng vịt nhờ nhà bếp hấp vào chảo cơm để bồi dưỡng bằng cách mỗi ngày ăn một quả trong bữa cơm. Học được một bài thuốc dân gian trị lao, tôi lập tức áp dụng để bổ sung cho các thứ thuốc tây. Theo đó, tôi lấy một quả trứng gà đặt trong một cái chén, vắt chanh vào cho trứng thấm nước cốt chanh, để cách đêm đến sáng hôm sau đập trứng ra đánh lẫn với nước chanh rồi uống hết. Mỗi sáng dùng một chén “thuốc” như vậy thay bữa điểm tâm và thay luôn quả trứng vịt bồi dưỡng, tôi cảm thấy dễ chịu và hy vọng mau lành bệnh.

 Bệnh tật không làm tôi bị giảm sút kết quả học tập; nhưng sự phức tạp trong đời sống tập thể nơi đây lại kéo tôi trở về với tâm trạng buồn chán. Trong một cuộc họp phân đoàn TNLĐ mà mình được dự với tư cách “cảm tình đoàn”, một lần nữa tôi lại bị phê phán là “nói năng bừa bãi”. Ngoại trừ cuộc tranh cãi với Thưởng trong vụ “quan nhà bếp”, tôi vẫn không hiểu tại sao mình hay bị phê phán như vậy? Không tìm được lý do của việc đó, tôi lại phát hiện được một vụ cố tình bôi xấu mình, liền ghi vào nhật ký:

 

                 Thứ hai 30 tháng Năm.

Tối hôm qua tôi được biết mình bị vu khống một cách hèn hạ. Vô cùng tức giận, tôi muốn nói toạc sự thật về kẻ vu khống mình cho mọi người biết sự đê tiện của hắn. Nhưng nếu vậy thì chắc hắn sẽ phản ứng bằng những thủ đoạn đê tiện khác, khiến mình bị lôi cuốn vào một cuộc tranh cãi vô bổ kéo dài. Chẳng hơi đâu mà  tranh hơn thua với một kẻ như vậy, trong khi mình còn nhiều việc đáng quan tâm hơn nhiều. Thôi thì hãy tạm gác chuyện này lại, để thực tế sẽ chứng minh đâu là sự thật. Tôi tin rằng đến một lúc nào đó kẻ vu khống kia sẽ lãnh được những hậu quả do hành động của hắn gây ra. Dù sao, hắn cũng giúp tôi nhận ra rằng mọi sự phê phán chĩa vào mình cũng như vụ vu khống này chỉ xuất phát từ thói xoi mói đơm đặt của một số kẻ “ghen ăn tức ở” với mình, vì tôi đã có những ưu thế hơn chúng. Lại thêm một bài học đường đời bổ ích nữa cho tôi!

 

 Chính ngày hôm đó, hai sinh viên giỏi của lớp là anh Xương và tôi được Khoa mời dự cuộc Hội nghị Khoa học của Tổ bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ-Trung đại. Dưới sự điều khiển của thầy Quang và thầy Quýnh, các cán bộ giảng dạy trẻ và sinh viên “năm thứ tư” trình bày các báo cáo khoa học của họ rồi mọi người cùng thảo luận. Tôi chỉ ngồi im lắng nghe để tiếp thu những kiến thức thú vị cùng với phương pháp nghiên cứu lịch sử. Anh Xương tham gia ý kiến về cuộc cải cách của Hồ Quý Ly, được các thầy tán thưởng. Khi ấy, anh vừa làm lớp phó phụ trách học tập, lại vừa giữ chức “cán sự đời sống” của Khoa nên đã dành rất nhiều thời gian và công sức giúp Khoa mua và vận chuyển lương thực, than củi, vôi gạch…phục vụ đời sống cán bộ và sinh viên. Vậy mà anh vẫn học rất giỏi nên được các thầy và bạn bè quý trọng. Thường thấy anh chững chạc trong bộ đại cán màu xanh “sĩ lâm” với đôi ủng cao cổ được mang vào những ngày mưa gió để lội bùn đi giải quyết công việc, tôi nghĩ anh là một đảng viên mẫu mực. Nhưng không ngờ anh vẫn đang còn là “đối tượng đảng”.

 

 Trong khi chúng tôi ngồi học dưới mái đình Võng Phan, trên chiến trường miền Nam đã diễn ra cuộc phản công mùa khô 1965-1966 của quân đội Mỹ cùng đồng minh và quân lực VNCH theo chiến lược “Tìm-diệt” chống  “Việt Cộng” và “quân cộng sản Bắc Việt”.  Qua tháng 6 bước vào mùa mưa, chiến sự trở nên lắng dịu, nhưng quân ta vẫn ùn ùn kéo vào miền Nam để tăng cường lực lượng đánh Mỹ. Khi ấy, việc hành quân vào Nam vẫn phải gọi theo mật danh là “đi B”, mặc dù hoạt động của quân “Bắc Việt” trên chiến trường chẳng còn gì là bí mật nữa. Trong dân gian miền Bắc đã truyền đi câu cách ngôn “không xanh cỏ thì đỏ ngực” để miêu tả vận mệnh của các quân nhân đi B: nếu không bị hy sinh (“xanh cỏ” trên mộ) thì sẽ được vinh quang trở về (đeo huân chương “đỏ ngực”). Ở phía đối phương, không lực Hoa Kỳ cũng tăng cường oanh tạc miền Bắc để ngăn chặn con đường tiếp tế vào Nam. Các mục tiêu ném bom của Mỹ bắt đầu đụng đến Hà Nội và Hải Phòng.

 Một đêm cuối tháng 6, tôi bỗng nằm mơ thấy ba đã qua đời trong một trận bom Mỹ trút xuống Hải Phòng. Sáng hôm sau tôi lại nhận được thư của ba, trong đó ba cho biết cả nhà vẫn bình an mạnh khỏe, rồi căn dặn tôi chú ý bồi dưỡng sức khỏe để trị bệnh và học tập tốt. Thế là lại thêm một lần trùng hợp giữa giấc mơ và lá thư nhận được, khiến tôi tin chắc vào “dòng điện sinh học” của ba đã đến với mình trước khi thư đến. Còn nội dung thư trái ngược với giấc mơ là đã theo đúng cách giải mộng dân gian nói rằng “sinh dữ-tử lành” (nằm mộng thấy sinh đẻ là “điềm” dữ, còn thấy người chết là “điềm” lành).

 Tuy nhiên, ngay khi tôi chưa kịp viết xong bức thư trả lời cho ba má, thì đúng vào ngày thứ tư 29-6 đã xảy ra một sự kiện vượt ra ngoài những suy đoán tâm linh của mình. Sáng hôm ấy trời trong, chúng tôi nhìn rõ nhiều tốp máy bay Mỹ từ phía Nam bay lên phía Bắc. Lát sau, từ đường chân trời phía Đông-Bắc có một cuộn khói đen bốc lên trời; tiếp theo, ở đường chân trời phía Tây-Bắc cũng có một cuộn khói đen tương tự bốc cao, liền đó là những tiếng nổ lụp bụp vọng tới. Không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi vừa được chứng kiến từ xa một cuộc ném bom của không quân Mỹ cùng lúc trên hai địa điểm. Linh cảm về cuộc oanh tạc đánh vào Hải Phòng và Hà Nội, tôi vô cùng lo lắng cho ba má, các em cùng những người thân khác ở thành phố cảng cũng như các cậu các dì ở thủ đô. Đến chiều thì có tin chính thức: Mỹ đã đánh bom nhằm hủy diệt kho xăng lớn Đức Giang ở Hà Nội và Sở Dầu thuộc khu Thượng Lý Hải Phòng. Cái địa danh quen thuộc của Hải Phòng được nêu trong bản tin khiến lòng tôi đau nhói: thành phố thân yêu, nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm êm đềm của tôi đã bị chiến tranh tàn phá. Viết thêm sự kiện này vào bức thư gửi về thăm ba-má, tôi khắc khoải chờ đợi hồi âm. Chỉ vài ngày sau cuộc oanh tạc đó, có lẽ ba-má vẫn chưa nhận được thư này, thì tôi đã nhận được bức điện của ba: “ car nhaf binhf yeen, con coo gwngs giwx swcs khoer deer hocj taapj toots”. Yên tâm về sự bình yên của gia đình mình, nhưng tôi còn băn khoăn: chẳng hiểu giấc mơ đêm đó của mình có là điềm báo trước về cuộc oanh tạc này? Có lẽ không phải thế, vì “dòng điện sinh học” chỉ kết nối hai cá nhân có quan hệ mật thiết với nhau, chứ không thể dự báo về một sự kiện lớn liên quan đến rất nhiều người. Dù sao đi nữa, tôi vẫn không nguôi được nỗi đau thương về sự tàn phá nơi thành phố thân yêu.

 Qua tháng sau, khi chúng tôi bước vào kỳ thi kết thúc năm học, thì báo chí và đài phát thanh truyền đi “Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước” (ngày 17-7-1966) của Hồ Chủ tịch:

 

               “Hỡi đồng bào và chiến sĩ cả nước!

               Đế quốc Mỹ dã man, gây chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước ta, nhưng chúng đang thua to. […]. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. […]. Vì độc lập của Tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống Đế quốc Mỹ, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. […]”.

 

 Lúc bấy giờ, chúng tôi không thể nghĩ sâu xa về nguyên nhân nào dẫn tới cuộc chiến tranh này? Có đúng là nước Mỹ “gây chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước ta”, hay nó nhắm đến một mục tiêu nào khác? Tại sao dân ta lại phải chiến đấu “vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống Đế quốc Mỹ”? Và đó là những dân tộc nào?...Chúng tôi chỉ đơn giản hiểu rằng: vì bom đạn Mỹ đã giết hại người Việt Nam và tàn phá đất nước ta, nên chúng ta phải chiến đấu chống Mỹ, dù có phải hao tổn biết bao xương máu đồng bào. Do đó, lời kêu gọi này đã thúc giục thế hệ trẻ Việt Nam hăng hái lên đường đi đánh Mỹ, giống như cha anh họ đã đứng lên chống Pháp theo lời kêu gọi cũng của Bác Hồ 20 năm về trước.

 Rất nhiều năm sau, tôi mới nhận ra sự khác nhau giữa hai cuộc chiến tranh diễn ra theo lời kêu gọi của cùng một người. Cuộc chiến bùng nổ năm 1946 là sự nghiệp vệ quốc vĩ đại của toàn dân Việt Nam theo lời kêu gọi của vị cha già dân tộc đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược; còn cuộc chiến này là của nước VNDCCH đứng trên tuyến đầu của phe XHCN chống phe TBCN, được nước Tàu hậu thuẫn để “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác