NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương 8, phần 5

( 27-08-2015 - 06:32 AM ) - Lượt xem: 758

không thể thoải mái nghĩ sao thì nói (hay viết) vậy theo ý thích của mình, mà phải viết (hay nói) sao cho người đọc (hay nghe) hài lòng mà không phản ứng hay thù ghét mình. Nhưng đối với tôi, bài học này quả là khó áp dụng, vì từ bé đến giờ mình chỉ quen nói đúng sự thật bằng cách nói của mình, không hề biết cách nói làm vừa lòng người khác.

 5. Lịch sử và thực tiễn

 

 Sau kỳ nghỉ Tết, toàn thể sinh viên Khoa Sử lại có mặt đầy đủ ở nơi sơ tán, ngoại trừ Nguyễn Ngọc Giao không còn thấy xuất hiện, có lẽ do cuộc sống êm ấm quen thuộc ở thủ đô đã giữ chân không cho cậu ấy quay lại với đời sống sinh viên gian khổ nơi đây. Cụ Thọ rất hài lòng với món quà do ba má tôi gửi biếu là một hộp Mứt tết, và dùng ngay nó để tăng hương vị cho những ván cờ tướng mà cụ say mê đấu trí với những cao thủ trong xã (cụ rất cao cờ và đã truyền cho tôi thú chơi cờ với nhiều nước đi xuất sắc). Anh Cau nhận được lệnh nhập ngũ đã phấn khởi lên đường, nối gót anh trai mình đi giải phóng miền Nam. Thế là hai gã đàn ông ở trọ là anh Ninh và tôi có vẻ trở nên quan trọng hơn trong ngôi nhà chỉ còn một cụ già với hai người phụ nữ.

 Vừa mới được ăn Tết với những món ngon giàu chất đạm, nay trở lại bếp ăn tập thể để thưởng thức những khẩu phần nghèo nàn với những “nắp hầm” và “canh đại dương” quen thuộc, ai cũng cảm thấy rất khó nuốt mặc dù luôn bị đói. Lúc mới đi sơ tán, mọi người dễ dàng chịu đựng sự ăn uống kham khổ như vậy, vì nghĩ rằng đó là do chiến tranh leo thang của Mỹ gây ra. Nhưng sau khi về quê ăn Tết đã chứng kiến lương thực-thực phẩm vẫn được cung cấp đủ định lượng, thì một câu hỏi đã được mọi người đặt ra: tại sao cùng một tiêu chuẩn tem phiếu và tiền ăn như nhau, mà ở đây lại phải ăn uống cực khổ thiếu thốn hơn hẳn, so với khi trường còn ở Hà Nội? Mấy anh cán bộ có kinh nghiệm quản lý đã tính toán và rút ra kết luận: với tiêu chuẩn hiện hành, lẽ ra chúng tôi phải được ăn uống đầy đủ hơn. Từ đó có thể suy ra rằng: tiêu chuẩn ăn của chúng tôi đã bị kẻ nào đó bớt xén để làm lợi cho y. Không nói ra nhưng ai cũng ngầm nghi ngờ “kẻ nào đó” chính là người quản lý bếp ăn tên Thủy.

 Một hôm, phát hiện ở miếng cá khô được chia trong khẩu phần của mình có mấy con giòi chết, một số sinh viên la ó rồi quẳng nó đi. Tôi giật mình vì đã trót ăn miếng cá của mình rồi! Khi nhai miếng ấy, tôi cảm thấy nó rất nhạt nhẽo và có vị lạ, nhưng chỉ nghĩ rằng đó là do cá khô cũ để lâu đã mất mùi, không ngờ còn có cả giòi! Tức giận vì loại thức ăn kinh khủng này, tôi quyết định phải góp ý với người có trách nhiệm. Nhân lúc vắng người, tôi lấy quyển “Sổ góp ý” vẫn treo trên cột nhà bếp xuống; rồi bắt chước cách viết của các quan Ngự sử xưa  ghi ngay vào đó một câu: “ Ngày ấy tháng ấy năm Bính Ngọ 1966, quan Nhà bếp cho sinh viên ăn cá thối ”.

 Chẳng ngờ câu văn “ngẫu hứng” đó được nhiều người đọc, khiến tôi phải chịu một phen rầy rà. Trong cuộc họp lớp, phó bí thư chi đoàn Nguyễn Văn Thưởng đọc lại câu đó để phê bình tôi “phát ngôn bừa bãi”. Mấy vị đảng viên cũng theo đó để răn dạy rằng sinh viên đại học không được nói năng tùy tiện, ý kiến đóng góp phải có “tính chất xây dựng” mà không được phép mỉa mai châm biếm. Hết sức bất ngờ trước lời lẽ của mọi người, tôi cảm thấy mình bị đối xử bất công. Tôi viết đúng sự thật đã xảy ra, và cũng đúng với những sự nghi ngờ mà Thưởng và các đảng viên đó thường bàn tán sau lưng người quản lý bếp ăn. Vậy mà nay họ lại chĩa mũi dùi vào mình, chứ không vào kẻ đáng nghi ngờ nọ! Máu nóng bốc lên, tôi cao giọng: “ Viết như vậy sai ở chỗ nào? Anh Thưởng đã được ăn cá với giòi chưa?”. Thưởng hạ giọng: “ Sự việc xảy ra thì đúng như vậy, nhưng đồng chí cần rút kinh nghiệm về cách góp ý, sao lại gọi người ta là ‘quan Nhà bếp’?”. Mấy bạn trẻ lấy tay che miệng cười, còn tôi vẫn không nhượng bộ: “Do đâu anh biết là tôi viết? Nếu câu đó là của người khác thì sao?”. Thưởng lúng túng thấy rõ, vì tôi không hề ký tên mình dưới câu góp ý đó. Lớp phó Trương Vũ Xương liền phát biểu: “ Xin các đồng chí đừng làm to chuyện lên. Ý kiến đóng góp đúng sự thật thì cứ để nhà bếp tiếp thu mà tìm biện pháp cải thiện bữa ăn cho chúng ta; còn người viết có ý hài hước một chút thì cũng chưa gây tác hại đáng kể. Tôi đề nghị chấm dứt tranh luận ở đây!”. Lời anh Xương được đa số tán thành, và anh Phượng lớp trưởng cho chuyển nội dung cuộc họp sang vấn đề khác.

 Sau bữa cơm chiều, Tú và tôi lại cùng nhau đi ngắm cảnh trên đê. Tôi hỏi: “Sao thằng Thưởng biết tao viết câu đó trong sổ Góp ý?”. Tú bảo: “ Kiểu chữ và văn của mày không lẫn đi đâu được!”. Rồi nó khuyên tôi: “ Mày đừng để bụng cái chuyện đó nữa. Thằng Thưởng đang phấn đấu vào Đảng, nên nó phải tỏ ra có tinh thần đấu tranh phê bình để được các đảng viên chú ý. Còn mọi người chẳng nghe theo nó đâu!”. Nghe lời Tú, tôi coi đó là chuyện nhỏ và không nhắc lại nữa, tuy vẫn còn khó chịu vì cảm thấy mình luôn luôn bị theo dõi để uốn nắn từng lời văn câu nói. Nhưng khi nghĩ sâu hơn, tôi biết rằng qua chuyện này mình đã nhận được một bài học sống: không thể thoải mái nghĩ sao thì nói (hay viết) vậy theo ý thích của mình, mà phải viết (hay nói) sao cho người đọc (hay nghe) hài lòng mà không phản ứng hay thù ghét mình. Nhưng đối với tôi, bài học này quả là khó áp dụng, vì từ bé đến giờ mình chỉ quen nói đúng sự thật bằng cách nói của mình, không hề biết cách nói làm vừa lòng người khác.

 Một hôm lớp họp bàn về biện pháp nâng cao kết quả học tập. Xuất phát từ tình hình thực tế mà mình quan sát được, tôi chân thực góp ý: “Các bạn sinh viên miền núi học tập chưa tốt vì gặp khó khăn về ngôn ngữ. Quen với tiếng nói của dân tộc mình, các bạn chưa thật thành thạo tiếng Việt của người Kinh, nên tiếp thu và diễn đạt đều còn hạn chế. Vậy, các bạn cần khắc phục khó khăn bằng cách đọc thật nhiều sách, có điều gì chưa hiểu thì hỏi tận nơi!”. Ấy vậy mà trong cuộc họp chi đoàn đã có mấy ý kiến phê phán tôi là “ coi thường và xúc phạm danh dự của sinh viên miền núi!”(Tú cho tôi biết như vậy).

 Bởi thế, bài học về việc phát ngôn phải làm vừa lòng người khác luôn khơi dậy trong tôi nỗi buồn thương nhớ tiếc tuổi thơ, khi không phải đối mặt với sự phức tạp của cuộc đời thật giả lẫn lộn. Nhưng đến lúc đó tôi vẫn còn chưa biết rằng: bài học này sẽ xui khiến người ta từ bỏ bản ngã của mình để tha hóa mà trở thành công cụ của kẻ khác.

 

 Thế rồi tri thức lịch sử lại giúp tôi gạt bỏ những chuyện vặt vãnh khó chịu với mình. Đúng đêm rằm tháng Giêng, thầy Chiêm Tế chủ trì một cuộc thảo luận toàn khối về lịch sử Trung Quốc cổ đại để kết thúc phần giảng dạy của ông. Nhìn cảnh thầy trò ngồi trên sân ngôi đình cổ dưới bầu trời đêm lạnh lẽo được soi sáng bằng ánh trăng mờ ảo cùng mấy ngọn đèn dầu; tôi chợt nghĩ có lẽ hơn hai nghìn năm trước cũng dưới vầng trăng này Khổng Tử cùng các môn đệ của ông đã trò chuyện với nhau để tìm ra lẽ sống ở đời; còn Đường Minh Hoàng mơ một chuyến “Du Nguyệt Điện” để bay tới chính vầng trăng đó; rồi Lý Bạch cũng lại ôm bóng trăng này mà chết chìm dưới sông... Trong chốc lát, vầng trăng vĩnh cửu đã giúp tôi bay bổng vào không gian lịch sử tràn ngập cảm xúc, để vượt khỏi cuộc sống thường nhật đầy phức tạp. Đã tích lũy được khối lượng kiến thức không nhỏ, cảm hứng học tập cũng dồi dào, nên tôi làm bài kiểm tra kết thúc phần Lịch sử Cổ đại phương Đông thật trôi chảy và được điểm 8 cũng như hai người khác ( vẫn là điểm cao nhất lớp, chưa thấy ai được 9 hay 10!).

 Chuyển sang phần Lịch sử Cổ đại phương Tây, chúng tôi được học thầy Lương Ninh có vầng trán cao, giọng nói nhẹ nhàng mà khúc chiết trong một cơ thể cường tráng săn chắc. Thầy đã thể hiện một trình độ học vấn uyên bác, giúp chúng tôi mở rộng và hiểu sâu về các thành bang Hy Lạp cổ với nền dân chủ-chủ nô ở Aten và chế độ cộng hòa quý tộc ở Spactơ, rồi sau đó là nhà nước La Mã cổ đi từ nền cộng hòa sang đế chế. (Những tri thức này chúng tôi cũng đã được học sơ qua ở lớp 5, nay mới thực sự được lĩnh hội đầy đủ).

 Thầy Nguyễn Phan Quang cũng kết thúc phần giảng dạy về Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thời Bắc Thuộc bằng một bài kiểm tra mà hai anh Trương Vũ Xương và Tạ Lộc cùng đạt điểm cao nhất là 8, có năm người được 7, đại đa số được các điểm trung bình 5-6, một số ít bị điểm 4 (dưới trung bình). Tôi chỉ được 6 - điểm trung bình duy nhất mà tôi phải nhận trong suốt quá trình học đại học. Thầy dạy hay, nhưng tôi thiếu cố gắng nên xứng đáng với điểm số đó. Trong thâm tâm, tôi luôn quý mến thầy Quang. Khi được biết thầy là con của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh nên cũng có tài vẽ kế thừa từ người cha nổi tiếng, tôi càng thêm kính trọng thầy.

 Thầy Trương Hữu Quýnh giảng dạy tiếp về thời kỳ Độc lập của nhà nước Phong kiến Việt Nam. Có tầm vóc khá cao to với khuôn mặt nở nang của một người đàn ông sang trọng, thầy lại nói năng nhỏ nhẹ với những cử chỉ dè dặt có phần bẽn lẽn, mà vẫn cuốn hút sinh viên bằng những lập luận chặt chẽ. Được biết thầy đang viết Luận án Phó Tiến sĩ Sử học, chúng tôi càng thêm quý trọng thầy. Trong phần giảng dạy của thầy, tôi rất thích thú khi được tham khảo bộ giáo trình “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” của các tác giả Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng ở trường Đại học Tổng hợp. Do học tốt, tôi đã đạt những điểm số cao, ngang với anh Xương thường dẫn đầu cả khóa về LSVN.

Một lần đi tản bộ trên đê, tôi và Tú bắt gặp thầy với Đỗ Thu Hà - một hoa khôi của lớp cùng sóng đôi dạo bước bên nhau. Từ đó, chúng tôi đoán biết rằng Thu Hà và thầy Quýnh đang “tìm hiểu” nhau.

 Trong chuyến đi thực tế chuyên môn về “Văn minh Đại Việt” dưới sự chỉ đạo của thầy Quang và thầy Quýnh, toàn thể sinh viên Sử 1 chúng tôi đã về thôn Canh Hoạch thuộc xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây - một địa phương tiếp cận với vùng ven kinh thành Thăng Long xưa. Nơi đây chính là một làng cổ Đại Việt mà dấu tích xưa vẫn tồn tại rất nhiều, từ cổng làng , đường làng lát gạch cho đến những ngôi nhà kiểu cổ, các đình miếu, thần phả và gia phả lưu truyền đã bao đời. Hoàn thành nhiệm vụ ở đây, chúng tôi lên xe thẳng tiến về Nam Định để tham quan các di tích lịch sử của nhà Trần rồi khảo sát kỹ càng ngôi chùa cổ Phổ Minh với ngọn tháp 14 tầng đậm đặc những họa tiết tinh xảo, mang đặc trưng của kiến trúc thời Trần.

Sau chuyến đi vô cùng hứng thú kéo dài 2 tuần lễ, tôi đã thu hoạch đầy ắp những kiến thức và cảm xúc về nền văn minh huy hoàng mà ông cha ta đã dựng nên với biết bao mồ hôi và xương máu.

 

 Để tiến tới ngày kỷ niệm Thành lập Đoàn TNLĐ Việt Nam (26-3), Đoàn trường ĐHSP Hà Nội phát động một cuộc thi báo tường (trước kia gọi là bích báo), tuyển chọn qua các cấp từ lớp lên Khoa rồi lên Trường thi chung kết. Theo chỉ đạo của Chi đoàn Sử 1B, ba người viết chữ đẹp và có tài “kẻ vẽ” ( biết vẽ và và biết “kẻ” các kiểu chữ mỹ thuật) là tôi cùng Nguyễn Văn Tú và Đỗ Trọng Khang xung phong nhận nhiệm vụ làm tờ báo của lớp với tên gọi “Tre Xanh”. Bài vở thu được khá phong phú, gồm các thể loại tùy bút, thơ, truyện vui…Trên diện tích giấy bằng 3 tờ crôki khổ lớn nối vào nhau, chúng tôi sắp xếp bài vở cho hợp lý, kỳ công chép lại từng bài cho đẹp, rồi dùng mực màu trang trí cho tựa đề của các bài. Khi công việc gần xong, tôi phát hiện còn một chỗ trống, nếu có một bức tranh vui điền vào đó thì sẽ hoàn hảo. Nhớ một câu nói nổi tiếng của danh tướng La Mã cổ Giuliut Xêda (Julius Caesar) thể hiện chí lớn khi tự so sánh mình với vị Hoàng đế vĩ đại cổ Hy Lạp ( “Lúc bằng tuổi ta, Alêchxăng Đại Đế đã đi chinh phục cả thế giới!”), đối chiếu với hoàn cảnh sống của sinh viên lúc đó, tôi nảy ra một ý tưởng hài hước để vẽ tranh vui. Thế là tờ báo tường của lớp được hoàn chỉnh với bức tranh này: một nam sinh viên gầy giơ xương mặc áo may ô, quần xắn cao để lộ 2 ống chân đầy lông, bước thấp bước cao bưng một xoong cơm với các “nắp hầm” trên đó; từ miệng cậu ta toát ra một “danh ngôn”: “ Lúc bằng tuổi ta, Xêda đã đi chinh phục cả thế giới!”. Tờ báo tường được trưng bày ở lớp trước khi gửi lên Khoa dự thi nên nhiều người bình phẩm về bức tranh đó. Anh Xương cười ha hả bảo tôi: “Quốc khá lắm, tranh rất vui!”. Tôi với anh Xương vốn có thiện cảm với nhau từ trước ngày đi sơ tán, nay lại hợp ý nhau về bức tranh này, nên chúng tôi trở thành bạn thân (sau nhiều thập kỷ xa nhau rồi gặp lại, anh vẫn nhắc lại kỷ niệm với tôi về bức tranh vui ấy).

Mặc dù được mọi người khen hay và đẹp, tờ báo của lớp tôi không được Khoa chọn gửi lên Trường để thi chung kết (có người bảo lý do là vì bức tranh vui trong đó “thiếu tính tư tưởng”); nhưng tôi đã được Khoa biết đến khả năng hội họa của mình. Ngày chủ nhật 20-3, trong khi cả lớp bước vào một đợt lao động mới ở Khoa, tôi được điều động lên Trung tâm Trường ở thị trấn Đoàn Đào làm nhiệm vụ kẻ vẽ các bảng biểu và cắt dán các khẩu hiệu của trường. Tại đây, tôi và một sinh viên khoa Văn cùng chung nhiệm vụ được thầy Phó Hiệu trưởng Nguyễn Văn Tuất tiếp đón, cho ăn tại bếp tập thể và ngủ tại “phòng khách”  của Trung tâm. Chứng kiến suất cơm trưa của thầy với một con cá trê cỡ 2 ngón tay kho mặn, thêm một bát canh rau muống và mấy quả cà muối, tôi cảm thấy thầy ăn uống khá đạm bạc (mặc dù thầy cũng là cán bộ cỡ “phiếu C” như ba tôi). Buổi tối còn lại một mình dưới ánh đèn dầu leo lét trong căn phòng đơn sơ bằng tranh - tre - nứa - lá (anh bạn khoa Văn đã về nhà trọ ở cách đây không xa), tôi lại đắm chìm trong tâm trạng buồn chán với thực tế cuộc sống và hoài cảm về quãng đời đã qua. Ngắm kỹ bức tranh treo trên vách mang hình một thiếu nữ rất giống với Thanh Tâm, tôi vô cùng nhớ tiếc mối tình thầm lặng với cô láng giềng tuyệt vời ấy.

 

 Vào một ngày cuối xuân bừng nắng xua tan bầu không khí âm u lạnh lẽo, tôi đột nhiên trông thấy cây gạo cổ thụ bên con đường đất quen thuộc ở thôn Phí Xá nở hoa rực rỡ. Những chùm hoa to đỏ chói trên cành cây cao trụi lá in hình lên nền trời xanh mây trắng tạo nên một ấn tượng rất mạnh. Từ đó, hàng ngày trên đường đi học hay từ lớp học ở đình trở về, tôi đều say mê ngắm cây gạo đầy hoa ấy và thả hồn vào trường kỳ lịch sử dân tộc. Tôi hình dung làng quê nước Việt trải bao đời với lũy tre xanh thấp thoáng mái đình và cổng làng cổ kính, cây đa rợp bóng bên bến nước con đò, đồng lúa xanh chuyển dần sang màu vàng rực; và nổi bật trên hết là cây gạo cổ thụ với những tán hoa đỏ ối, rồi  những bông gạo trắng tinh rời cành lả tả nhẹ rơi trên con đường đất in đầy dấu chân người. Trong khung cảnh thanh bình tươi đẹp ấy, người dân Việt quanh năm đổ mồ hôi sôi nước mắt để tạo nên các nền “văn minh sông Hồng”“văn minh Đại Việt” vô cùng rực rỡ, với một triết lý sống bình thường nhưng vĩ đại chỉ bao gồm hai từ “Nhân Nghĩa”, như bản “Bình Ngô Đại Cáo” đã vang lên đanh thép:

 

                              Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

                              Lấy chí nhân để thay cường bạo.

 

Chính triết lý này đã tạo nên sức mạnh vô địch của người Việt trong cuộc đối đầu thường xuyên với quân xâm lược phương Bắc, giúp cho Ngô Quyền nhấn chìm quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, nhà Tiền Lê và nhà Lý mấy phen đánh bại quân Tống, nhà Trần ba lần đánh tan quân Mông-Nguyên, Lê Lợi tiêu diệt quân Minh để sáng lập triều Hậu Lê, và nhà Tây Sơn của Hoàng Đế Quang Trung quét sạch quân Thanh bằng những đòn sấm sét.

Trở lại với làng quê thanh bình, dù ruộng đất được chia theo chế độ công điền-công thổ hay ruộng tư phát triển theo quy luật kiêm tính đất đai; thì dân ta vẫn vui sống với cảnh “Trên đồng cạn dưới đồng sâu / Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”; các trai làng vẫn rung động với những nàng thôn nữ tát nước đêm trăng: “Hỡi cô tát nước bên đàng / Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”; đôi bên nam nữ vẫn vui đùa đối đáp khi các nàng lội bùn cấy lúa:

 

                      - Trời yên bể lặng đã lâu,

          Cớ sao em chổng phao câu lên trời?

                      - Nhờ trời mưa gió phải thì,

                Em mà không chổng, lấy gì nuôi anh!

                       

 

 Giờ đây, đi trên con đường đất quen thuộc có cây gạo cổ thụ lâu đời đứng đó, nhìn ra đồng ruộng hai bên, tôi không được chứng kiến cảnh lao động cực nhọc nhưng vẫn vui tươi thơ mộng như đã được miêu tả trong ca dao cổ. Thay vào đó là hoạt động tập thể của các xã viên hợp tác xã, theo sự điều khiển của ban chủ nhiệm do chi bộ Đảng lãnh đạo. Mỗi buổi đi học, tôi thấy các bà con xã viên (đa số là phụ nữ và người già) ngồi quây quần bên bờ ruộng uống nước chè xanh, hút thuốc lào và tán gẫu với nhau. Hết giờ học, ăn cơm xong ra về, tôi lại thấy họ ngồi quây quần tán gẫu với nhau, hút thuốc lào và uống chè xanh. Có lẽ giờ làm việc của họ trùng với giờ học của sinh viên khoa Sử, nên rất hiếm khi tôi được thấy cảnh lao động tập thể đông vui trên cánh đồng hợp tác. Không có “cờ đỏ ven đê” và “tiếng trống đi về” như trong thơ Tố Hữu, cũng không thấy tinh thần “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” được thể hiện ở đâu, tôi chỉ cảm thấy thời gian giải lao của bà con có vẻ hơi nhiều, lấn vào giờ lao động thực sự của họ. Chắc chắn không còn cảnh “tát nước đêm trăng”, vì các xã viên ngày nay làm việc theo giờ hành chính, chẳng ai dại gì mà đêm hôm lặn lội đi tát nước cho cánh đồng không phải của mình. Làm ăn tập thể đã giúp cho nông dân đỡ vất vả vì được nghỉ ngơi nhiều; lại khỏi phải tính toán hiệu quả công việc, vì mọi việc đã có “cấp trên” chỉ đạo cả rồi. Mọi người chỉ cần có mặt trong các buổi làm để được ban chủ nhiệm “chấm công” là ổn, cũng chẳng cần cố gắng nhiều cho mệt, vì thành quả lao động của mình sẽ không biết ai được hưởng. Cho đến lúc này, nền kinh tế nông nghiệp hợp tác xã đã tồn tại 7 năm, hiệu quả của nó như thế nào thì rất nhiều người biết, nhưng không một ai dám phê phán nó, vì sợ phát biểu trái với đường lối của Đảng sẽ bị trừng trị. Khi hỏi: “Đời sống của gia đình anh (hay chị) hiện nay như thế nào?” thì ta luôn nhận được câu trả lời: “Ơn Đảng-Bác (hoặc ‘Ơn Đảng và Chính phủ’) gia đình tôi cũng đủ ăn đủ mặc!”. Nhưng rồi trong dân gian cũng lưu truyền mấy bài ca dao mới:

 

                              Mỗi người làm việc bằng hai

                           Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe!

                              Mỗi người làm việc bằng ba

                           Để cho chủ nhiệm xây nhà xây sân!

 

Đài (bán dẫn)-Xe (đạp)-Nhà (ngói)-Sân (gạch) là những biểu tượng của sự giàu sang thời ấy, chỉ thấy xuất hiện ở gia đình các vị chánh phó chủ nhiệm (hầu hết là đảng viên); còn các xã viên thường đâu dám mơ đến chúng, chỉ mong có đủ cơm ăn áo mặc mà vẫn chưa được:

 

                              Đi làm hợp tác hợp te

                          Không đủ miếng giẻ để che cái lồn!

 

 Vẫn biết việc đưa tên tục của bộ sinh dục nữ vào ca dao đã thể hiện sự phẫn uất tột độ trong dân gian, nhưng tôi cũng chỉ cảm nhận thực trạng của nền nông nghiệp hợp tác hóa qua những gì mắt thấy tai nghe, mà chưa thể hiểu nguyên nhân sâu xa của thực trạng đó. Tuy nhiên, những kiến thức học được trong chương trình lịch sử cũng gợi lên cho tôi một số suy nghĩ.  Chính tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước” của Ăngghen đã vạch rõ: sự phát triển của chế độ tư hữu đã đưa xã hội loài người thoát khỏi thời nguyên thủy man rợ chuyển sang thời đại văn minh (và lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam cũng coi sự phát triển của khu vực ruộng tư là một bước tiến so với chế độ ruộng công làng xã). Vậy, việc tiêu diệt chế độ tư hữu (ruộng đất tư nhân) để thiết lập chế độ công hữu (ruộng tập thể của hợp tác xã) hiện nay có làm cho xã hội quay lại thời công xã nguyên thủy? Câu hỏi này được giải đáp rằng: xã hội không phát triển theo vòng tròn khép kín (để trở lại với công xã nguyên thủy), mà theo hình xoáy trôn ốc mỗi vòng sau nâng cao hơn vòng trước, nên chế độ công hữu hiện đại sẽ đưa nhân loại tiến lên thời đại cộng sản văn minh (như Liên Xô đang tiến tới, cũng như “công xã nhân dân” ở Trung Quốc cao hơn công xã nguyên thủy). Thêm nữa, chế độ “công tượng” thời Lê Sơ (trưng tập thợ giỏi khắp nơi về kinh đô, cưỡng bách họ làm việc theo quân ngũ trong các “quan xưởng” của triều đình) đã kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hóa của đất nước; vậy việc quốc hữu hóa công thương nghiệp và tập thể hóa nông nghiệp hiện nay có thúc đẩy nền kinh tế phát triển? Câu trả lời là: có sự khác nhau giữa chế độ “công tượng” xưa (chỉ phục vụ cho giới quý tộc cung đình) với nền kinh tế quốc hữu hóa-tập thể hóa hiện nay (nhằm phục vụ toàn thể nhân dân); kinh tế quốc doanh và tập thể là “nền sản xuất lớn XHCN” dựa trên những tư liệu sản xuất hiện đại sẽ thúc đẩy kinh tế “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”.

 Tôi đã nhiều lần trông thấy những “tư liệu sản xuất hiện đại” trong các bộ phim của Liên Xô; còn ở thôn Phí Xá này (và có lẽ trên toàn miền Bắc) thì chỉ thấy những đám đông bà con xã viên dùng những nông cụ thô sơ như xưa, có thêm những chiếc “xe cải tiến” hai bánh hai càng do người kéo (để đỡ một phần cho những đôi quang gánh) và một con mương thủy lợi mới đào có trạm bơm nước bằng máy nhưng chưa chạy do chưa có điện kéo về. Cửa hàng mậu dịch bán các thứ “cao cấp” như xe đạp, đồng hồ báo thức hay bút máy chỉ có ở trên huyện; còn các phiên chợ làng vẫn là các bà con nông dân, ngồi trong các quán liêu xiêu tềnh toàng lợp tranh, để bán những mớ rau, rổ trứng, mớ cá hay tôm tép mà họ thu hoạch được từ ao vườn hay kéo vó ven sông. Bên vệ đường làng thỉnh thoảng lại gặp một bà răng đen nhai trầu mặc áo cánh nâu, dạng chân vén chiếc váy đụp truyền thống thản nhiên đứng đái (mà vẫn hồn nhiên trò chuyện với những người đi chợ!). Hình ảnh duy nhất về “nền sản xuất lớn XHCN” ở đây là một cái sân phơi lát gạch vuông rộng mênh mông, đủ để chứa toàn bộ sản phẩm thu được sau mùa gặt của hợp tác xã, để mọi người đập lúa và phơi lúa tập trung ở đó.

 Khi ấy, tôi vẫn chưa biết là đang có một người tinh thông đường lối lý luận của Đảng ta theo chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng lại tin tưởng ở sự mách bảo của lương tri qua thực tiễn mà ông nhận thức được: đồng chí Kim Ngọc-Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc. Ông khẳng định: “Xã viên không coi ruộng đất là của mình, nên họ chẳng thiết tha gì với đồng ruộng. Phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình”. Tin chắc vào nhân thức đó, ông cho thực hiện phương thức “Khoán hộ”: giao khoán công việc của hợp tác xã cho từng hộ gia đình, rồi giao khoán luôn ruộng đất cho các hộ để nông dân tự canh tác. Nông dân toàn tỉnh rầm rộ hưởng ứng phương thức này; mùa màng trở nên tươi tốt, sản lượng nông nghiệp Vĩnh Phúc tăng vọt lên, đời sống nhân dân được cải thiện rõ ràng. Nhưng chưa đầy 3 năm sau, Trung ương Đảng đã lên án gay gắt và quyết liệt ngăn chặn Khoán hộ, vì nó “phục hồi và phát triển lối làm ăn riêng lẻ, đẩy hợp tác xã sản xuất nông nghiệp vào con đường thoái hóa và tan rã”. Kim Ngọc đau đớn phải viết kiểm điểm thừa nhận “quan điểm lập trường còn mơ hồ nên chưa quán triệt đường lối, nguyên tắc, chính sách của Đảng trong việc quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp”. Thế là nền nông nghiệp  “hợp tác hợp te” lại trở về thực trạng cũ và tồn tại trong suốt hơn 20 năm nữa, không chỉ ở miền Bắc mà còn mang vào cả miền Nam sau ngày chiến tranh kết thúc, để bà con trong đó cùng thưởng thức.

LÊ VINH QUỐC

 

Các Bài viết khác