NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương 8, phần 3

( 11-08-2015 - 01:59 PM ) - Lượt xem: 776

Chuẩn bị sẵn sàng đi sơ tán/ Cánh tay cầm chiếu, vai khoác thêm ba lô/ Anh xách đôi giày chuột khoét,/ Em xách đôi dép tụt quai/ Sẵn sàng ta đi trốn đạn bom điếc tai!...

3. Ở nơi sơ tán

 

Trong bài thơ “Tiếng hát con tàu”, Chế Lan Viên viết rất đúng rằng: “ Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn”. Chỉ mới sống và học tập ở nơi đây 2 tháng, tôi đã cảm thấy ngôi trường Đại học Sư phạm này gắn bó với mình biết bao nhiêu; và ngay cả thành phố Hà Nội cũng đã trở nên thân thiết hơn xưa. Vì thế, khi sắp phải rời xa nơi này, tôi đã cảm nhận sâu sắc nỗi buồn nhớ những gì thân thuộc đã gắn bó với mình. Tôi gửi thư về cho ba má và các bạn thân để báo tin mình sắp đi sơ tán, ghi rõ địa chỉ liên lạc mới của mình là một hòm thư mang số hiệu bí mật như của quân đội. Rồi tôi đến thăm các gia đình cậu Bính, dì Dung, dì Quỳ trong buổi chiều thứ bảy và ngày chủ nhật đầy mưa gió để chào tạm biệt những người thân của mình. Các dì còn định cho tôi tem gạo để phòng thân, khiến tôi rất cảm động dù không dám nhận.

 Ngày thứ hai, khi sinh viên các lớp tụ họp để chuẩn bị lên đường, chúng tôi nhận được kết quả các bài kiểm tra triết học và tâm lý học. Khi đó, tôi mới biết trường đại học không chấm điểm theo thang 5 bậc như ở cấp III, mà theo thang 10 bậc (tôi được điểm 8 môn tâm lý và điểm 7 môn triết, không có ai được 9 hay 10). Hôm ấy, chúng tôi cùng ăn với nhau hai bữa cơm tập thể, rồi thu dọn hành lý cá nhân và ngủ đêm cuối cùng tại trường. Sáng hôm sau 21-12, đúng lúc loa truyền thanh phát bài nhạc tập thể dục buổi sáng như thường lệ, mọi người cùng thức dậy nhưng không ra sân tập luyện mà ai nấy đều tranh thủ đi rửa mặt và vệ sinh cá nhân, rồi tất cả quay về phòng mặc quần áo chỉnh tề, đeo ba lô hoặc xách túi. Mỗi người đều bóc mảnh giấy ghi tên mình ra khỏi thành giường, bước ra cửa vĩnh biệt căn phòng thân thuộc này. Mấy chàng trai Hà Nội tinh nghịch còn cao giọng hát một bài “chế biến” từ ca khúc nổi tiếng của Lưu Hữu Phước:

 

                               Chuẩn bị sẵn sàng đi sơ tán

                               Cánh tay cầm chiếu, vai khoác thêm ba lô

                               Anh xách đôi giày chuột khoét,

                               Em xách đôi dép tụt quai

                               Sẵn sàng ta đi trốn đạn bom điếc tai!...

 

Tất cả mọi người tập trung tại một chỗ trống trong trường để chờ xe. Phần lớn nam sinh viên đều đồng phục trong chiếc áo bông may cùng một kiểu và cùng màu xanh “sĩ lâm” như nhau, anh nào sang lắm thì có gắn thêm chiếc cổ áo giả làm lông thú nhưng cũng một màu xanh như áo; ngoài ra còn có loại “áo vệ sinh” cổ tròn dài tay đồng màu với áo bông dệt rất dầy nên mặc cũng ấm. Các nữ sinh viên luôn đồng phục quần đen như toàn thể phụ nữ trong xã hội, trong đó các bạn nữ miền Nam cũng mặc áo bông xanh như nam giới, còn các chị em miền Bắc thì có các loại áo ấm với những chất liệu, màu sắc và kiểu dáng khác nhau đôi chút, chẳng hạn như Nguyễn Thiên Hương khoác một chiếc áo nhung kẻ màu đỏ tím bên ngoài chiếc áo len cổ lọ màu xanh da trời, lại quàng một chiếc khăn len màu xanh lá cây làm nổi bật khuôn mặt trắng hồng xinh xắn.

 

 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội sơ tán về tỉnh Hưng Yên, quê hương của giáo sư Phạm Huy Thông. Cơ quan Hiệu bộ của trường đặt tại thị trấn Đoàn Đào thuộc huyện Phù Cừ, còn các khoa ở rải rác trên 9 huyện khác nhau trong tỉnh. Đoàn ô tô gồm 6 chiếc chở hơn 200 sinh viên Sử 1 rời thủ đô qua cầu Long Biên vào đường số 5 quen thuộc rồi rẽ sang đường 39 thẳng tiến về thị xã Hưng Yên, nơi có những đường phố nhỏ hẹp và nhà cửa khá tiều tuy hai bên đường, chẳng khác bao nhiêu so với thị xã Thanh Hóa mười năm về trước. Xuống xe tại bến ô tô, chúng tôi vào Cửa hàng Mậu dịch Ăn uống của thị xã ở ngay cạnh đó để dùng bữa trưa bằng những suất cơm đạm bạc (phải trả tiền và tem gạo) hoặc những bát phở có chút ít thịt lợn (chỉ trả tiền mà không cần nộp tem), rồi đi bộ trên những con đường đất xuyên qua làng xóm, lên đường đê dọc theo bờ sông Luộc để đến nơi sơ tán của Khoa  thuộc huyện Tiên Lữ cách thị xã khoảng 5 km. Địa bàn trú đóng của Khoa Lịch sử bao gồm 4 thôn tiếp giáp nhau là Võng Phan (thuộc xã Tống Trân), Phí Xá, An Cầu và Giai Lệ (đều thuộc xã Phan Tây Hồ). Văn phòng Khoa và Thư viện với hàng nghìn đầu sách được chuyển từ Hà Nội về đặt trong những ngôi nhà tranh vách đất mới dựng tại thôn Giai Lệ (tục gọi là làng Nhài); mấy sinh viên đã tốt nghiệp được khoa giữ lại học thêm năm thứ tư để bồi dưỡng thành cán bộ giảng dạy cũng sống ở đây. Sinh viên năm 2 (chỉ có một lớp khoảng 50 người) và năm 3 (khoảng 100 người chia làm 2 lớp) đã đến đây từ trước, cư ngụ tại thôn An Cầu. Khối 1 của chúng tôi đông nhất, nên có địa bàn cư trú rộng hơn cả: một bộ phận về Võng Phan, một thôn ở bãi đất ven bờ phía ngoài đê sông Luộc, và một phần ở Phí Xá phía trong đê.

 Toàn thể thầy trò của khoa được bố trí vào ở nhà dân. Nhân dân địa phương đã dành cho thầy trò chúng tôi những chỗ ở tốt nhất trong nhà mình. Mỗi thầy cô được ở trong một nhà, còn sinh viên thì tùy theo điều kiện cụ thể để phân chia một, hai hoặc ba người vào một nhà. Những người đi tiền trạm đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ của mình, nên khi toàn khối đến nơi thì danh sách ai ở nhà nào đã sẵn sàng để hướng dẫn từng người tìm đến với gia chủ của mình. Tôi may mắn được dẫn đến một ngôi nhà ngói khang trang trên nền đất cao, có sân gạch cùng vườn cây và ao cá bao quanh tại thôn Phí Xá. Gia chủ là cụ Thọ, một lão nông quắc thước góa vợ để râu theo kiểu Bác Hồ, hiện ở cùng con dâu trưởng là chị Ngoan (khoảng 30 tuổi, có chồng bộ đội đang ở chiến trường), với cô con gái là chị My (còn khá trẻ, chưa chồng) và con trai út là anh Cau (cũng trạc tuổi tôi nhưng săn chắc khỏe mạnh hơn tôi). Chắc rằng chi bộ và ban cán sự lớp có ý định ghép sinh viên trẻ cùng ở với cán bộ lớn tuổi để bậc đàn anh ấy kèm cặp, nên tôi được ở cùng anh Lò Văn Ninh, một cán bộ-đảng viên thuộc dân tộc Tày có tầm vóc thấp đậm với đôi lông mày rậm và bộ râu quai nón luôn được cạo nhẵn nhưng vẫn để lại dấu vết xanh rì. Trong ngôi nhà chính lát gạch vuông với những cây cột làm bằng gỗ quý, gia chủ dành hẳn cho hai chúng tôi một bộ phản lớn bằng gỗ lim với đủ chăn chiếu kê ở gian bên phải bàn thờ để làm chỗ ngủ; bộ bàn ghế tiếp khách đóng theo lối cổ đặt trước bàn thờ cũng có thể dùng làm nơi ngồi học rất thuận tiện. Đường đi từ nhà trọ đến lớp học của chúng tôi chỉ dài hơn một cây số. Qua sân nhà đi xuống mấy bậc đá vào một lối nhỏ thông ra đường làng, bước tiếp vào con đường đất lớn có cây gạo cổ thụ cao chót vót đứng bên, rồi theo đường này đi qua cánh đồng bát ngát dẫn đến con đê. Băng qua đê bằng một lối mòn cắt ngang thân nó sẽ đến một khu đất rộng có bóng tre và cây xanh râm mát, trên đó sừng sững một công trình kiến trúc cổ kính là đình Võng Phan. Không hiểu tại sao ngôi đình bề thế có tuổi đời hàng mấy trăm năm ấy lại được xây dựng trên bãi đất ven sông phía ngoài đê; nhưng dù sao thì nó cũng  được trưng dụng để làm chỗ học cho sinh viên năm 1 khoa Sử. Trong ngôi đình rất rộng lát gạch vuông với những cây cột lim to lớn đó, tấm bảng đen treo trên tường cùng những bộ bàn ghế dành cho cán bộ giảng dạy và sinh viên chở từ Hà Nội đến được sắp đặt ngay hàng thẳng lối đã tạo thành một giảng đường đại học đàng hoàng. Ở sau đình, một bếp ăn tập thể được dựng lên với mái tranh vách đất để phục vụ sinh viên, có lò đun sử dụng than đá để nấu cơm và thức ăn bằng  những chiếc chảo gang khổng lồ có đường kính gần 2m. Ngay cạnh đó là gian nhà kho, gian ở và làm việc của người quản lý bếp ăn là anh Thủy. Chung quanh đình và nhà bếp, chúng tôi đào mấy đường hào giao thông và một số hầm “tăng xê” để có thể ẩn nấp nếu bị máy bay oanh tạc.

 

 Đi sơ tán giữa những ngày đông giá rét, nhưng chúng tôi cũng cảm thấy thích cuộc sống mới lạ ở vùng nông thôn nơi đây với phong cảnh xanh tươi, không khí trong lành và tình người đằm thắm. Khi ấy, cái chân bị bong gân vẫn còn đau, ở mông lại mọc lên vài cái nhọt nhức nhối, nhưng may là bệnh đau đầu hầu như đã biến mất, nên tôi vẫn cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ như các sinh viên khác. Những ngày đầu sống ở nơi sơ tán đã được tôi ghi lại trong nhật ký:

 

 Thứ bảy 25-12-1965.

 Tôi viết những dòng này dưới ngọn đèn dầu leo lét trong ngày lễ Nôen tại nơi sơ tán ở Hưng Yên. Một tuần qua không viết vì công việc sơ tán bận rộn quá, đến nỗi không kịp xin phép về nhà nghỉ lễ.

 Hôm thứ năm vừa qua, lần đầu tiên tôi đã tận mắt nhìn thấy một chiếc máy bay Mỹ trắng toát bay tít trên trời cao nên trông nhỏ như một chiếc máy bay giấy mà hồi nhỏ tôi thường gấp làm đồ chơi; nhưng hãy coi chừng thứ đồ chơi ấy, vì ngay cả khi bay cao như vậy mà tiếng gầm của nó cũng làm rung chuyển khắp không gian, chưa nói đến số bom đạn mà nó mang theo. Ở đây luôn nghe thấy tiếng súng và bom nổ từ một nơi nào đó vọng về; chẳng biết còn phải nghe những tiếng ấy đến bao giờ!

 

 Chủ nhật 26-12.

 Sáng nay lớp thực hiện kế hoạch lao động, tôi xung phong đi chở cát, nhưng vì thừa người nên lại phải về tham gia việc đào giếng để lấy nước cho bếp ăn tập thể. Buổi trưa họp thanh niên, tôi bị phê bình khéo vì không tích cực lao động. Chỉ vì mấy cái nhọt chết tiệt khiến mình không thể làm tốt hơn được, nhưng có ai biết mà thông cảm cho mình. Riêng đối với đồng chí Trần Thiều (mà tôi thầm đặt biệt danh là “Mật thám”) thì sự thiếu tích cực của tôi cần phải được phản ánh với chi đoàn và cả chi bộ để có biện pháp chấn chỉnh. Tối nay lại có cuộc họp khoa. Trên đường đi, tôi ghé vào nhà trọ của Giao người Hà Nội, cùng với nó luộc khoai ăn rồi tán chuyện gẫu trong bếp. Trời lạnh quá, cả hai đứa chẳng muốn ra đường chút nào, nhưng rồi cũng phải đi họp để khỏi bị phê bình. Đêm khuya tan họp ra về, chúng tôi co rúm cả người lại vì gió quất mưa vào mặt tạo nên cái lạnh kinh người. Đường làng tối đen và trơn như mỡ, may mà anh Ninh mang theo đèn pin nên tôi bám theo anh dò dẫm về được đến nhà.

 

 Thứ hai 27-12.

 Mình tròn 18 tuổi rồi, hoan hô! Thế là mối tình của tôi với cô láng giềng nhỏ bé vừa tròn một năm. Hôm ấy được cậu Bính tặng đôi giày vải mà giờ đây tôi vẫn đang đi mặc dù nó đã mòn cả gót; nhưng còn Thanh Tâm thì đang ở đâu hả em yêu dấu? Trời ơi, anh nhớ em quá chừng.

Từ sáng đến chiều tiếp tục đi lao động. Chỉ làm một cái giếng tròn có đường kính khoảng 2m, nhưng không hiểu do đâu mà có kế hoạch phải đào cả một khoảnh đất rộng như cái ao có đường kính hàng chục mét, rồi thu nhỏ dần xuống dưới theo hình phễu cho đến khi chạm đáy thì mới xếp các khuôn giếng hình tròn bằng xi măng chồng lên nhau rồi lấp đất xung quanh. Hàng chục sinh viên với đủ cuốc xẻng quang gánh làm việc suốt hai ngày mà vẫn không xong, có lẽ phải vài hôm nữa mới hoàn thành. Lúc giải lao thì có nhân viên bưu điện chuyển thư đến. Tôi mừng rỡ nhận được thư của Đồng: một tấm bưu ảnh in hình cầu Thượng Lý, có dán ảnh cậu ta mặc quân phục chỉnh tề ở mặt sau với lời chúc mừng sinh nhật tôi thật nồng nhiệt. Món quà bất ngờ của anh bạn cố tri đến đúng lúc làm tôi ấm lòng!

 

Nối tiếp trang nhật ký trên, tôi đã viết một bài thơ để tự kỷ niệm sinh nhật mình:

      

                               Ngày tròn tuổi mười tám

                               Bầu trời một màu xám

                               Gió thổi cuốn mây bay

                               Tràn không gian ảm đạm.

 

                               Ngày nối ngày lướt qua

                               Bình minh đến chiều tà

                               Như mây bay gió thổi

                               Cách nhau nào có xa.

 

                                Chợt lúc ta tự hỏi:

                        Nay đã bao tuổi rồi?

                        Mười tám năm đã trôi!

                        Thật? Dối chăng? Không, thật!

 

                        Cái mà ta vừa mất

                        Có trở lại bao giờ!

                        Bạn ơi, bạn có nhớ

                        Thuở ta còn ấu thơ?...

 

 Trong tâm trạng nhớ nhà da diết, tôi gửi đơn xin phép về thăm gia đình dịp nghỉ Tết dương lịch. Vào giờ giải lao giữa buổi học chiều ngày 31-12, anh Phượng lớp trưởng bảo tôi: “Cậu được phép về rồi đấy!”. Thế là tôi mừng rỡ cầm sách vở chạy vụt về nhà trọ, thu xếp đồ đạc trong chốc lát rồi đi ngay ra bến đò La Tiến bên bờ sông Luộc, nơi có ca nô chạy về Hải Phòng. Lòng phơi phới tưởng tượng bao cảnh đầm ấm khi được gặp lại người thân nơi thành phố yêu thương, mặc dù cái chân bị bong gân vẫn còn đau, tôi đi như bay trên quãng đường đê dài 5 km. Nhưng khi tới bến thì không thấy một chiếc tàu thuyền nào đậu ở đó và nhận được tin xấu: ca nô đi Hải Phòng đã khởi hành từ 10 giờ sáng, không có chuyến nào chạy buổi chiều hoặc tối! Tôi quanh quẩn ở bến đò một lúc lâu, với hy vọng có thể nhận được một tin tốt hơn, nhưng chẳng hề có tin gì khác.

 Hoàn toàn thất vọng vì phải quay về, tôi thả tâm hồn vào phong cảnh ảm đạm trong buổi hoàng hôn cuối cùng của năm 1965. Mặt trời đỏ, to như một cái mâm cứ từ từ lặn xuống phía chân trời. Từng đàn chim bay về tổ cất tiếng kêu vang khoảng không vô tận. Xa xa trên sông có tiếng máy nổ: một con tàu nhả làn khói trắng cùng tiếng còi trầm đục đang trôi về một nơi nào không rõ. Những làn khói xanh bốc lên từ mặt nước sông làm tăng thêm sự lạnh lẽo của một chiều đông tắt nắng. Trên con đường đê lặng lẽ quạnh hiu với vài bóng người đang hòa dần vào bóng tối phía xa, một mình tôi nặng nề lê bước mang theo nỗi buồn và nhớ nhung da diết.

 Đêm đó tôi lại ngủ cùng anh Ninh trên chiếc giường ở nhà cụ Thọ, để sáng ra sẽ đón chào ngày đầu năm mới 1966. Vài ngày sau, chúng tôi được nghe thầy Hồ Song-Bí thư Chi bộ cán bộ giảng dạy của Khoa thông báo về tình hình thời sự nóng hổi ở Inđônêxia. Thầy cho biết chính sách “Na-Sa-Com” (Dân tộc-Hồi giáo-Cộng sản) của Tổng thống Xucácnô đã giúp cho phong trào cộng sản phát triển rất mạnh trong giới Hoa kiều đông đảo ở nước này. Nhưng gần đây Đảng Cộng sản Inđônêxia cùng với Hoa kiều đang bị quân đội do tướng Xuháctô cầm đầu đàn áp tàn bạo. Nguyên nhân cuộc đàn áp này xuất phát từ một cuộc đảo chính do đội cận vệ của Tổng thống Xucácnô tiến hành nhưng thất bại vào ngày 30-9-1965, bị quân đội quy kết là âm mưu của cộng sản nhằm giành chính quyền, nên đã phản công bằng vũ lực. Mặc dù thầy kêu gọi mọi người bình tĩnh tiếp tục theo dõi tình hình, tôi vẫn ngạc nhiên không hiểu vì sao một sự kiện diễn ra ở nước ngoài lại làm thầy có vẻ xúc động như là nó liên quan trực tiếp đến bản thân mình.

 

 

 Mặc dù điều kiện sống nơi đây khác xa với hồi còn ở Hà Nôi, chúng tôi vẫn hăng say học tập.

Sau bài “Sử học nhập môn” do thầy Lê Văn Sáu giảng mà sinh viên hầu như chẳng hiểu gì, chúng tôi bước vào học 3 môn song song theo thời khóa biểu: Lịch sử thế giới (LSTG), Lịch sử Việt Nam (LSVN) và ngoại ngữ (Nga văn hoặc Trung văn tùy theo lựa chọn của mỗi người). Ngoài các bài giảng của thầy cùng những cuốn giáo trình và tài liệu tham khảo chính được khoa phát cho sinh viên mượn, tôi luôn chịu khó đi bộ 2km đến thư viện của khoa để tìm đọc thêm những cuốn sách tham khảo khác. Chương trình LSTG mở đầu bằng bài “ Nguồn gốc loài người và xã hội nguyên thủy” với những kiến thức chuyên sâu mà tôi lĩnh hội được sau khi đọc kỹ tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước” của Ăngghen. Khẳng định rằng sự xuất hiện của chế độ tư hữu và gia đình dẫn tới sự hình thành các giai cấp trong xã hội, và nhà nước chính là công cụ thống trị của giai cấp có quyền lực nhất, tác phẩm này là cơ sở khoa học để dẫn tới học thuyết về đấu tranh giai cấp trong triết học Mác-Lênin. Phần LSTG Cổ đại phương Đông do thầy Tôn Thất Chiêm Tế giảng dạy bằng  cuốn giáo trình do chính thầy biên soạn. Với cốt cách sang trọng của một bậc trí thức lão thành dòng dõi hoàng tộc còn giữ nguyên giọng Huế, thầy giảng rất sâu sắc và hứng thú các bài về Ai Cập, Lưỡng Hà,  Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại. Từ hồi học lớp 5 tôi đã được biết về các Kim Tự Tháp và “mômi”- tục ướp xác chết ở Ai Cập cổ, về bộ Luật Hammurabi với bức tượng “Vua Átxiry móc mắt tù binh”…; nhưng giờ đây tôi mới thật sự hiểu giá trị của những di vật lịch sử đó. Tôi đã nghiền ngẫm cuốn “Sử ký” của Tư Mã Thiên và bộ tiểu thuyết “Đông Chu Liệt Quốc” của Phùng Mộng Long để có thể hình dung chính xác xã hội Trung Quốc trong thời Xuân Thu-Chiến Quốc. Phần LSVN cổ đại do hai thầy Nguyễn Phan Quang và Trương Hữu Quýnh giảng dạy theo bộ giáo trình do chính hai thầy biên soạn; nhưng tôi vẫn thích bộ giáo trình của thầy các thầy ở trường Đại học Tổng hợp hơn, đặc biệt là cuốn “Lịch sử Việt Nam” của Đào Duy Anh. Rất tiếc là vì “dính” vào vụ “Nhân Văn-Giai Phẩm” nên thầy Đào Duy Anh không được giảng dạy nữa. Nga văn do thầy Dương Đức Niệm phụ trách là môn học quá dễ đối với tôi, vì cả bài giảng của thầy cùng cuốn giáo trình in roneo lèm nhèm hầu như không vượt khỏi những gì mình đã học được ở trường phổ thông. Chỉ cần học thêm một số thuật ngữ về giáo dục và lịch sử cùng với một số mẫu câu phức hợp mới là tôi đã hoàn thành các bài tập một cách tốt đẹp. Mặc dù học rất dễ dàng,  tôi vẫn theo dõi bài giảng của thầy một cách nghiêm túc. Chỉ hơn tôi khoảng 4-5 tuổi, có tầm vóc nhỏ nhắn nhưng cân đối với khuôn mặt đầy đặn toát lên sự thông minh và nhân hậu, thầy Niệm đã khiến tôi phải khâm phục về cách giảng dạy đầy nhiệt tình và mạch lạc, tài viết chữ Nga rất đẹp và cách ứng xử nhã nhặn với mọi người. Nhờ học giỏi, tôi cũng được thầy quý mến và tín nhiệm cử làm “cán sự Nga văn” của lớp. Tôi nghe nói thầy Thái Hoàng dạy Trung văn cũng được sinh viên rất quý trọng.

 

Vào giờ nghỉ giải lao trong mỗi buổi học, mấy anh cán bộ luôn mời thầy vào  phòng anh Thủy uống nước chè, hút thuốc lào hay thuốc lá tùy theo sở thích của mỗi người. Kết thúc buổi học, cả thầy và trò cùng đi vào bếp ăn tập thể. Thầy xách về nhà chiếc cặp lồng đựng suất ăn của mình đã được nhà bếp chia sẵn vào đó; còn bọn sinh viên chúng tôi  xách xoong nồi đến để nhận phần cơm canh theo từng tổ, rồi tổ lại múc từ xoong nồi ra  chia thành từng suất cho mỗi người. Vẫn hưởng tiêu chuẩn tem phiếu như ở Hà Nội, nhưng chẳng hiểu vì sao lượng cơm của mỗi người trong bữa trưa ở đây ít hơn; còn bữa chiều thì không có chiếc bánh mì thơm ngon nữa, mà được thay bằng một cục bột mì nhào nước nặn thành hình tròn cỡ bàn tay, rồi luộc chín thành một thứ bánh rất rắn chắc mà chúng tôi gọi là “nắp hầm” (vì trông nó tựa như những cái nắp bằng bê tông của các hầm tăng xê). Thức ăn kèm theo cơm hay “nắp hầm” cũng đạm bạc hơn trước rất nhiều, thường mỗi suất chỉ có một bát “canh đại dương” (chúng tôi gọi như thế vì nó còn loãng hơn “canh toàn quốc” trước đây) kèm theo một mẩu thịt hoặc cá hay cá khô có kích thước cỡ 2 đốt ngón tay, có khi là vài lát đậu phụ. Các chị cán bộ thường đựng khẩu phần của mình trong cặp lồng để xách về nấu thêm món gì đó, còn bọn trẻ như tôi thì cho mọi thứ đồ ăn vào một cái bát sắt tráng men rồi lấy thìa xúc ăn tại chỗ. Ăn uống như vậy chẳng ngon lành gì, nhất là cái “nắp hầm” phải nhai mỏi răng mà vẫn khó nuốt, nên chúng tôi cần kích thích vị giác bằng những quả ớt hái trên những cây mọc chung quanh đó. Từ tấm bé không bao giờ dám ăn ớt, nhưng giờ đây tôi đã nhanh chóng nghiện thứ gia vị cay xè ấy.

 Ngoài hai bữa cơm chính như trên, chúng tôi không còn được ăn sáng vì nơi đây không có căng tin mà cũng chẳng có hàng quán nào của dân để có thể dùng bữa điểm tâm. Vì thế, cảm giác đói luôn xuất hiện trong ngày khiến cho vấn đề tìm kiếm thức ăn thêm trở nên quan trọng đối với mỗi người. Chúng tôi giải quyết vấn đề này bằng nhiều cách thức đột xuất: có lúc mua một nải chuối mới chín trong vườn nhà dân, khi thì mua được cân gạo hay khoai rồi mượn nồi và củi rơm của dân để nấu…Có hôm biết tôi đang đói, chị My đang ngồi trong bếp vẫy tôi vào và đưa cho mấy củ khoai chỉ to bằng ngón tay mà chị vớt ra từ nồi cám lợn đang sôi trên bếp. Người gầy yếu như tôi mà luôn cảm thấy thiếu ăn như vậy thì một gã lực sĩ cử tạ như Ra Lan Nhe còn đói đến mức nào! Một buổi tối anh ta mua được một ống cân gạo (tương đương 850 gram) để nấu nguyên một nồi cơm. Rồi chẳng cần bát đũa gì cho phiền phức, Nhe bưng cả nồi xúc ăn với một nhúm muối và mấy quả ớt cho đến khi vét sạch số cơm gần bằng 4 suất (khoảng 12 bát ăn cơm thông thường) ấy. Đã có lần bắt chước Nhe tôi cũng ăn gần hết một nồi cơm như vậy, mặc dù khi còn ở nhà thì mỗi bữa chỉ ăn đúng 3 bát. Thoạt đầu, tôi tưởng mình bỗng nhiên ăn khỏe như vậy là do sức khỏe đã đột ngột tăng lên; nhưng về sau mới biết rằng do các bữa ăn ở đây luôn thiếu cả năng lượng và chất dinh dưỡng nên cơ thể tự tạo ra khả năng ăn thật nhiều cơm để bù đắp cho sự thiếu đói thường xuyên ấy.

 Không chỉ thiếu ăn, ngay cả việc tắm giặt cũng rất khó khăn. Suốt gần một tháng kể từ khi đi sơ tán, tôi hầu như chưa được tắm lần nào, vì nhà dân nơi đây không có buồng tắm và cũng chẳng có điều kiện nấu nước nóng để tắm, mà thời tiết thì liên tục giá rét không thể ngâm mình trong ao nước lạnh ngoài trời. Chỉ có một buổi trưa trời lặng gió và có le lói vài tia nắng nhạt, tôi mới dám lội xuống ao kỳ cọ nhanh chóng, rồi vội lên bờ lau khô người và mặc ngay quần áo ấm. Vậy mà môi vẫn tím tái và răng đánh vào nhau lập cập.

 

rằng bụng hay đói và miệng luôn thèm ăn, chúng tôi vẫn luôn có nhiều hoạt động văn nghệ và thể thao để vui sống.

 Ngay từ khi còn tập văn nghệ với nhau ở trường, tôi đã được Huỳnh Thanh Trúc và mấy chị cán bộ khen là có giọng ca trầm ấm truyền cảm. Về nơi đây, Trúc và tôi thường cùng nhau ôn lại những bài hát cũ và nhận ra rằng cả hai chúng tôi đều thích những ca khúc êm dịu và có nét buồn man mác, kể từ những bài hát “kháng chiến” cho đến một số bản “nhạc vàng”. Thế là chúng tôi thân nhau và bắt đầu xưng hô “chị - em” (Trúc lớn hơn tôi khoảng 2-3 tuổi). Chị Trúc lại thân với Nguyễn Văn Tú, nên cậu này cũng nhanh chóng thân thiết với tôi. Mặc dù không có năng khiếu âm nhạc, Tú có tâm hồn trong sáng, rất biết thưởng thức cái đẹp, nói năng nhỏ nhẹ mà ý tứ sâu sắc. Sau mỗi bữa cơm chiều đạm bạc, Tú và tôi thường lên đê dắt nhau đi bộ để ngắm cảnh hoàng hôn trên sông và tâm sự với nhau đủ điều, từ những kỷ niệm thời học sinh cho đến cuộc sống và con người nơi đây cùng những dự đoán về tương lai. Trong khi đó, tình yêu âm nhạc lại giúp tôi thân thiết hơn với anh Trần Trung Tuyên có nghệ danh “Quang Mác”, sau đổi thành “Mác Tuyên”. Mác Tuyên cho tôi mượn cây đàn ghi ta của khoa cấp cho lớp, rồi lớp lại giao cho anh sử dụng để phục vụ phong trào văn nghệ. Thú vị hơn, anh còn cho tôi mượn cả một tập sưu tầm quý báu của mình với hàng trăm ca khúc chép đủ nhạc và lời của hàng chục nhạc sĩ nổi tiếng. Tôi mừng rỡ khi thấy trong đó có mấy bản “nhạc vàng”, như  “Giọt mưa thu” và “Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong, với cả “Suối mơ”“Thiên Thai” bất hủ của Văn Cao vĩ đại mà suốt bao năm qua tôi không sao tìm được. Anh đã rất tin tưởng tôi nên mới cho mượn tập sưu tầm ấy mà không sợ bị tôi tố cáo là đã lưu trữ loại nhạc bị cấm ấy. Thì ra, bất chấp sự cấm đoán nghiêm khắc của Đảng ta đối với “nhạc vàng”, những giai điệu và ca từ xuất phát từ sự rung cảm tâm hồn sâu lắng của con người nhạc sĩ sẽ mãi mãi tạo nên những cảm xúc say mê trong con người thính giả, bất kể họ là ai và có hoàn cảnh xuất thân như thế nào.

 Trong một cuộc họp toàn thể sinh viên năm thứ nhất, chúng tôi được Khoa phát “Thẻ Sinh viên”; đồng thời được nghe Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam của Khoa là anh Võ Xuân Đàn, một sinh viên năm thứ hai, đến phổ biến về tổ chức của Hội. Với tầm vóc thấp đậm, khuôn mặt đầy đặn lấm tấm mấy vết rỗ hoa và cách nói chuyện hài hước có duyên bằng giọng miền Nam, Đàn giải thích nhiệm vụ của Hội là “bảo vệ quyền lợi sinh viên”, rồi tuyên bố rằng toàn thể những người dự họp ở đây kể từ nay đã trở thành hội viên của Hội sinh viên Việt Nam mà không cần có một điều kiện nào hết, ngay cả hội phí cũng không phải đóng!

Mãi đến khi tốt nghiệp ra trường tôi vẫn không hiểu hội này có tác dụng gì; nhưng sau cuộc họp đó chúng tôi quen biết và giao tiếp nhiều hơn với sinh viên các khóa trên mình, chủ yếu qua các công tác văn nghệ và thể thao. Ở năm thứ hai, ngoài Võ Xuân Đàn có tài đóng kịch còn có cặp nam nữ Nguyễn Thế Đoàn - Thu Vân và nhiều bạn khác vốn là học sinh miền Nam, cùng với Đặng Quang Minh, Trần Đức Minh, Lại Bích Ngọc là dân Bắc đều có khiếu văn nghệ mà học cũng khá. Đáng chú ý ở năm thứ ba về học tập cũng như khả năng văn nghệ có cặp Lâm Quang Trực - Nguyễn Thị Hoa quê miền Nam, cùng Trịnh Vương Hồng và nhiều người khác là dân Bắc; nhưng gây ấn tượng mạnh nhất với tôi là Lê Bào, một chàng trai gốc học sinh miền Nam cao to đẹp trai, đàn giỏi hát hay lại có trình độ nhạc lý vững vàng nên được cử làm Trưởng ban văn nghệ của Khoa. Lê Bào đã dàn dựng thành công một bản hợp xướng ca ngợi nghề giáo nhan đề “Bài ca Sư phạm” của nhạc sĩ Văn Nhân - thầy dạy nhạc của trường - để đội văn nghệ khoa trình diễn và toàn thể sinh viên trong Khoa đều thuộc:

 

                    Bình minh sưởi ấm trái tim ta, như đàn chim bay khắp nơi,

                    Gió bay đi mang theo lời ca yêu cuộc đời của đoàn ta.

                    ……………

                    Đoàn giáo viên ra đi, về bốn phương xa xôi,

                    Đi theo tiếng non sông đang gọi ta.

                    Giơ bó đuốc xua tan bóng đêm mờ tối,

                    Chỉ đường người dân đi tới

                    Đỉnh đồi văn hóa ngày mai.

                    Bao kỹ sư tâm hồn đang xây đắp tương lai đẹp tươi.

                    Ngàn lời ngợi ca nghề ta,

                    Vinh quang thay nghề của ta!

 

Thỉnh thoảng, ban văn nghệ Khoa lại tổ chức các buổi biểu diễn để thầy trò cùng vui với nhau và cũng để phục vụ nhân dân địa phương. Các hoạt động thể thao trong Khoa cũng khá sôi nổi với các trận đấu bóng chuyền, bóng bàn và cả bóng đá. Các chàng trai gốc Tây Nguyên luôn chiếm đa số trong đội tuyển bóng chuyền, Hà Trọng Cường nổi bật ở hàng tiền đạo trong đội tuyển bóng đá, còn tôi cũng có vị trí trong đội bóng bàn của lớp, của khối 1 và của Khoa.     

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác