NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương 8, phần 2

( 07-08-2015 - 10:36 PM ) - Lượt xem: 900

Tôi cũng suy nghĩ nhiều về câu nói của Đềcác: “Tôi tư duy nên tôi tồn tại” và vẫn chưa thật hiểu Mác đã “lộn ngược” phép biện chứng của Hêghen như thế nào… Nhưng cuối cùng, mọi người đều hiểu rõ rằng chỉ có chủ nghĩa duy vật biện chứng do Các Mác và Ăngghen sáng lập và Lênin phát triển là đúng đắn nhất.

  2. Triết học Mác-Lênin

 

Sau đợt học chính trị, môn học đầu tiên của chúng tôi là Triết học. Đây là một môn chung mà tất cả sinh viên ở mọi trường đại học đều phải học. Cũng như khi học chính trị, toàn thể sinh viên năm thứ nhất của tất cả các khoa lại ngồi kín hội trường để nghe giảng, nhưng giờ đây mỗi người còn được phát một cuốn giáo trình khổ lớn rất dày mà không có tên tác giả. Ngay từ bài “Nhập môn”, tôi đã nhận thấy môn này rất cao siêu và khó học, đúng như một người nào đó đã định nghĩa vui rằng “ triết học là môn học ngồi gãy cả lưng mà chẳng hiểu gì cả!”. Tuy nhiên, tôi nhận ra nhiều điều mới lạ mà trước đây mình chưa hề biết, nên rất chăm chú lắng nghe. Tôi đọc kỹ từng dòng trong cuốn giáo trình in roneo nhòe nhoẹt , chịu khó suy nghĩ làm đề cương để phát biểu ý kiến trong các buổi thảo luận tổ. Tổ trưởng của tôi chính là bác Phàn, nguyên hiệu trưởng một trường cấp I ở tỉnh Hà Bắc, người có chiếc đầu hói với bộ râu quai nón và cặp mắt sắc khiến người ta dễ liên tưởng đến hòa thượng Lỗ Trí Thâm trong Thủy Hử, ở cùng phòng với tôi và luôn phát huy khả năng lãnh đạo như một vị gia trưởng. Trong giờ nghiên cứu cá nhân, mọi tổ viên phải ngồi trên giường  mình để đọc giáo trình, ai làm việc riêng lập tức bị tổ trưởng nhắc nhở. Có lần tôi ngồi quay lưng về phía bác Phàn để bí mật đọc truyện thay cho giáo trình, nhưng bác vẫn phát hiện được và dõng dạc ra lệnh: “Anh Quốc, cất truyện đi!”. Trong giờ thảo luận, toàn tổ tập trung về phòng tổ trưởng, ngồi chật kín tầng dưới của 4 chiếc giường song  song với nhau từng đôi một. Bác Phàn nhường giường mình cho các nữ tổ viên từ dãy nhà B đến, chuyển sang ngồi cạnh các bạn nam trên chiếc giường đối diện. Tổ tôi là một tập hợp sinh viên từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng dần dần đã quen biết rồi cũng có vẻ thân thiết với nhau. Bên phái nữ, có cô Bùi Kim Dung (khoảng trên 30 tuổi, có nước da trắng trẻo với mái tóc dài rẽ ngôi cặp sau lưng và đôi mắt sắc sảo), chị Đinh Thị Húa (rất to con nhưng lại là một giọng ca vàng của đất Tây Nguyên hùng vĩ), chị Huỳnh Thanh Trúc ( nữ sinh miền Nam có vóc người thấp lẳn với khuôn mặt tròn đôn hậu, cặp mắt to đẹp và đôi môi tươi cười); các bạn Đỗ Thu Hà (quê Gia Lâm ngoại thành Hà Nội, khá xinh đẹp với cặp mắt to và mái tóc mềm mại để xõa ngang vai),  Nguyễn Thiên Hương (chắc là em út của lớp vì có ngày sinh trong tháng 7-1948; vóc người dong dỏng thon mảnh, khuôn mặt trắng trẻo xinh xắn với mái tóc tết đuôi sam và giọng nói ngọt ngào êm dịu đặc trưng của con gái Hà Nội)…Bên phái nam, có anh Trương Vũ Xương (nguyên hiệu trưởng trường cấp II Thụy Anh tỉnh Thái Bình, có vóc dáng cao gầy với vầng trán cao biểu lộ sự thông minh, đôi mắt to đẹp luôn nhìn thẳng với nụ cười luôn mở rộng trên môi cho thấy sự trung thực và thân thiện); các bạn Hà Trọng Cường (người thấp đậm săn chắc, tính tình vui vẻ hoạt bát đúng kiểu một chàng trai Hà Nội), Nguyễn Văn Tú ( hiền hậu chất phác và viết rất đẹp, đến từ một làng quê tỉnh Vĩnh Phúc), Đỗ Trọng Khang (khá đẹp trai với mái tóc cắt ngắn sớm điểm những sợi bạc, đến từ thị xã  Hà Đông)…Dưới sự điều khiển của vị tổ trưởng nghiêm khắc, mỗi tổ viên đều phải phát biểu ý kiến dựa trên đề cương đã chuẩn bị sẵn để ghi vào biên bản.

 Mặc dù không thích bị gò bó máy móc trong học tập, tôi vẫn phải thừa nhận cách quản lý điều hành của tổ trưởng có tác dụng thúc đẩy mọi người phải học nghiêm túc, không được phép lười biếng. Dần dần, chúng tôi đã biết triết học là gì và có bao nhiêu trường phái trong lịch sử của nó. Các tên tuổi của Platôn, Sôcrat, Aristôt, Đềcác, Hêghen… được nhắc tới, để mọi người nhận ra rằng các trường phái duy tâm hay “nhị nguyên luận” đều sai, chỉ trường phái duy vật là đúng. Khi thảo luận về vấn đề vật chất quyết định ý thức, cô Dung làm mọi người ngạc nhiên khi nêu thắc mắc: “ Ở lớp chỉnh huấn trong thời kháng chiến chống Pháp, cán bộ tuyên huấn của Đảng ta giảng về chủ nghĩa Mác đã nói rằng ‘tinh thần có trước vật chất có sau’, vậy là đúng hay sai?”. Mọi người ngạc nhiên nhưng không ai trả lời được câu hỏi này, phải ghi lại để nhờ thầy giải đáp. Riêng tôi nghĩ rằng thời ấy cuộc sống và chiến đấu gặp rất nhiều khó khăn gian khổ, người ta phải đưa tinh thần lên trên hết để động viên mọi người vượt mọi gian khó, nên đã giảng về chủ nghĩa Mác như vậy. Tôi cũng suy nghĩ nhiều về câu nói của Đềcác: “Tôi tư duy nên tôi tồn tại” và vẫn chưa thật hiểu Mác đã “lộn ngược” phép biện chứng của Hêghen như thế nào… Nhưng cuối cùng, mọi người đều hiểu rõ rằng chỉ có chủ nghĩa duy vật biện chứng do Các Mác và Ăngghen sáng lập và Lênin phát triển là đúng đắn nhất.

 

 Từ bài “Nhập môn” ấy, chúng tôi bước vào học Triết học Mác-Lênin với hai bộ phận là “chủ nghĩa duy vật biện chứng” và “chủ nghĩa duy vật lịch sử”. Chủ nghĩa duy vật biện chứng bao gồm 2 nguyên lý (nguyên lý về mối quan hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển), 3 quy luật (quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi, quy luật phủ định của phủ định) và 6 cặp phạm trù (cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức, nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực, tất nhiên và ngẫu nhiên). Ai cũng phải học thuộc định nghĩa của Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức của con người…”. Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một hệ thống lý luận về quy luật phát triển xã hội, bao gồm 4 học thuyết chính (học thuyết về tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, học thuyết về các hình thái kinh tế-xã hội của nhân loại, học thuyết về mối quan hệ giữa hạ tầng cơ sở với thượng tầng kiến trúc xã hội, học thuyết về đấu tranh giai cấp và cách mạng là động lực phát triển xã hội). Tất cả những kiến thức này đều nằm trong cuốn giáo trình in roneo đã được phát; và chúng tôi cũng chẳng phải tham khảo thêm một tác phẩm nào của Các Mác hay của Lênin, mặc dù các bộ “tuyển tập” của hai ông được xếp đầy trên giá sách của thư viện trường.

 Khi học kỹ giáo trình này, tôi nhận thấy lý tưởng cộng sản của Đảng-Bác mà mình đã liên tục được giáo dục trong hơn 10 năm học phổ thông, kể từ khi được quàng khăn đỏ rồi tu dưỡng vươn lên Đoàn, thì nay đã được bồi đắp bằng cả một hệ thống lý luận cao siêu. Qua đó, chúng tôi hiểu rằng lịch sử nhân loại nhất định phải trải qua 5 hình thái kinh tế-xã hội là cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, rồi lên cộng sản văn minh mà thời kỳ đầu của nó chính là xã hội XHCN. Chúng tôi còn nhận thức được rằng cái động lực đưa nhân loại tiến từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái cao hơn chính là đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội, nên mọi người cần phải trở thành những chiến sĩ cách mạng theo lý tưởng của Đảng ta để đi tiêu diệt chủ nghĩa tư bản và xây dựng CNXH. Tôi chỉ có chút băn khoăn liên quan đến giáo sư Trần Đức Thảo, một học giả danh tiếng về triết học Mác đã từng tranh luận với triết học hiện sinh của Giăng Pônsắc và Anbe Camuy tại Pháp, trở về nước tham gia kháng chiến chống Pháp rồi tham gia thành lập trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Một người như vậy mà không hiểu vì sao đã bị cách chức, bị cấm giảng dạy, cấm viết sách và giao tiếp với đồng nghiệp trong suốt nhiều năm qua. Chẳng lẽ triết học Mác của Trần Đức Thảo lại trái ngược với triết học Mác-Lênin của Đảng ta đến mức phải trừng trị ông như vậy? Hỏi về điều này, tôi chỉ được trả lời chung chung là ông ấy “dính” vào vụ Nhân văn-Giai phẩm. Khi ấy tôi vẫn chưa biết rằng bản Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (tháng 12-1963) của Đảng ta không chỉ nhằm “chống chủ nghĩa xét lại” của Khơrútsốp ở Liên Xô, mà còn đưa cả Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào tầm ngắm, để “bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin” do đồng chí Lê Duẩn xác định theo tư tưởng Mao Trạch Đông. Khi hỏi triết học hiện sinh là gì?, tôi cũng chỉ được giải thích rằng đó là loại tư tưởng “đồi trụy” của giai cấp tư sản thối nát đang giãy chết. 

Ở các niên khóa tiếp theo, chúng tôi sẽ còn được học thêm các môn “Kinh tế-chính trị học Mác-Lênin”,  “Chủ nghĩa xã hội khoa học” và “Lịch sử Đảng Lao động Việt Nam” để hoàn chỉnh về “nhân sinh quan” và “thế giới quan” của chủ nghĩa cộng sản. Từ đó, trong bất cứ ngành nào mà mình được đào tạo, sinh viên sẽ trở thành những chiến sĩ của “Đảng ta Mác-Lênin vĩ đại”. Mãi đến nhiều năm sau khi đã tốt nghiệp ra trường, tôi mới dần dần vỡ lẽ rằng cái gọi là triết học Mác-Lênin (hay chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung) có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Lênin và Quốc tế thứ Ba của ông đã giải thích chủ nghĩa Mác theo những quan điểm khác với các lãnh tụ của phong trào xã hội dân chủ của Quốc tế thứ Hai do chính Ăngghen thành lập; rồi Stalin lại giải thích chủ nghĩa Lênin theo ý riêng của mình; còn Mao Trạch Đông thì truyền bá tư tưởng của chính ông ta mà vẫn bảo đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, để rồi phê phán Khơrútsốp là “xét lại” chủ nghĩa này. Đó là chưa kể đến sự trái cựa giữa lý thuyết một đàng với áp dụng một nẻo. Nhiều năm sau nữa, tôi còn biết thêm rằng chính Karl Marx cũng có những quan điểm khác nhau theo từng giai đoạn của đời mình; ngay cả Quốc tế thứ Nhất mà ông là linh hồn trong ban lãnh đạo cũng có những phe phái khác biệt nhau. Vậy mà khi được học giáo trình triết học Mác-Lênin do Đảng ta biên soạn, tất cả chúng tôi đều hiểu rằng đó là một hệ thống tư tưởng thuần nhất và duy nhất đúng cho mọi người áp dụng mọi lúc mọi nơi, như một phép lạ (được Bác Hồ gọi là “cẩm nang”) để cải tạo xã hội loài người bằng việc đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản. Do đó, chúng tôi ngắm chân dung của Các Mác, Ăngghen và Lênin như hình ảnh của các bậc thần thánh linh thiêng, tương tự như Bác Hồ của ta vậy. Mấy năm sau, khi đã được học kỹ tiểu sử của các vị thánh ấy, tôi chợt nhận ra là họ đều thuộc thành phần “trí thức tư sản” theo sự phân loại của Đảng ta. Nếu sống trong thời đại mà Đảng ta mới ra đời, thì chính họ rất có thể đã bị “đào tận gốc, trốc tận rễ”, và dĩ nhiên sẽ bị Bác Mao xếp vào loại cặn bã nhất; riêng kiểu tóc và râu quá dài và rậm của Mác và Ăngghen sẽ khiến cho hai ông có thể gặp rắc rối với công an và “thanh niên cờ đỏ” ở nước ta lúc này đang hăng hái săn lùng những kẻ mặc quần ống tuýp và để tóc đít vịt.

 

Một buổi sáng, tôi đang trên đường đến căng tin để ăn điểm tâm thì bỗng có người từ phía sau choàng tay qua vai mình một cách thân ái. Vừa kịp nhận ra đó là Nguyễn Văn Thưởng bạn cùng lớp, tôi đã nghe anh ta khoe: “Mình được bầu làm phó bí thư chi đoàn rồi, cậu mừng cho tớ đi!”. Trước cử chỉ vồn vã bất ngờ của anh bạn gốc nông thôn mà mình ít tiếp xúc, tôi cũng vui vẻ đáp lại: “Hay quá! Thế thì đi ăn sáng cùng với tớ nhé!” Theo phép lịch sự, tôi chiêu đãi Thưởng một bát phở; còn anh ta điềm nhiên nhìn tôi trả tiền cho cả hai đứa như là nghĩa vụ của một thanh niên ngoài đoàn đối với một cán bộ đoàn vừa trúng cử. Để đáp lại sự thân thiện của tôi, Thưởng khuyên: “Cậu nên tu dưỡng vào đoàn đi, tớ sẽ ủng hộ!” Khi ấy tôi mới chợt nhận ra là mình lại quên xin giấy giới thiệu cảm tình đoàn ở trường cũ để mang nộp tại đây. Nhờ cuộc gặp bất ngờ này, tôi mới biết chi đoàn TNLĐ của lớp Sử 1B vừa tổ chức đại hội thành lập để bầu ra ban chấp hành do Huỳnh Thanh Trúc-học sinh miền Nam làm bí thư và Thưởng làm phó. Chi đoàn Sử 1B cùng với các chi đoàn 1A, C, D hợp thành Liên chi đoàn Sử 1 trong Đoàn khoa Sử trực thuộc Đoàn trường ĐHSP Hà Nội. Quan trọng hơn, chi bộ Đảng LĐVN của 4 lớp Sử 1 trực thuộc Liên chi bộ Khoa Sử cũng đã tổ chức đại hội thành lập, bầu ra ban chi ủy do đồng chí Nguyễn Thị Nhàn làm bí thư, các đồng chí Lê Ngung, Tạ Lộc, Nguyễn Vũ Tích, Nguyễn Xuân An đảm nhiệm các chức vụ phó bí thư và chi ủy viên, để lãnh đạo sinh viên trong toàn khối. Thông qua hệ thống tổ chức Đảng-Đoàn chặt chẽ như vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin trong thực tế tức đường lối lãnh đạo của Đảng ta đã được dẫn dắt đến từng con người cụ thể.

 

 Ngày 8-11, báo đài loan tin cầu Phú Lương nối liền đường sắt và đường bộ Hà Nội-Hải Phòng bị bom Mỹ đánh sập. Cây cầu sắt lớn này chỉ cách Hải Phòng 25km, gần nơi sơ tán của gia đình bác Khâm, và chính tôi vừa mới đi qua nó trên tàu hỏa 3 tuần trước đây để lên Hà Nội nhập học. Do vậy, khi biết tin nó đã bị phá, tôi cảm thấy bàng hoàng vì nghĩ rằng mình đã bị cắt đứt liên lạc với những người thân yêu nhất nơi thành phố cảng quê hương. Bị phân tán tư tưởng vì ý nghĩ đó, tôi học hành có phần chểnh mảng; rất may là môn triết học tạm ngưng khi chưa ôn tập và kiểm tra, để bước vào đợt huấn luyện quân sự 2 tuần theo kế hoạch của trường.

Bầu trời đang âm u lạnh lẽo bỗng chuyển sang nắng nóng gay gắt như để thử thách sức chịu đựng của những người tham gia đợt huấn luyện này. Hơn hai trăm sinh viên Sử 1 cả nam lẫn nữ với đủ mọi lứa tuổi nay đều được gọi là “chiến sĩ”, được phiên chế thành một “đại đội tăng cường” với 4 trung đội (tức là 4 lớp) và mỗi tổ trong lớp là một tiểu đội. Lần đầu tiên được học quân sự với những kiến thức mới lạ, tôi cảm thấy thích thú, nhất là khi được làm quen với những khẩu súng trường các kiểu các cỡ khác nhau của Pháp, Nhật, Nga và Trung Quốc được lưu trữ từ sau cuộc kháng chiến chống Pháp, nay phát cho sinh viên luyện tập.

Thứ hai 15-11 là ngày mở đầu đợt huấn luyện. Suốt ngày tôi cùng các bạn đồng đội đứng theo hàng ngũ, phơi mình dưới ánh nắng chang chang tóe lửa để nghe giáo viên “lên khoa mục”. Sau đó từng trung đội chia thành các tiểu đội để tập đội ngũ: nghiêm-nghỉ, chào, dậm chân tại chỗ, đi đều bước; rồi thì “Khám súng!”, “Mang súng!” v.v…Mặc quân phục nhưng không đeo quân hàm cấp hiệu, các giáo viên quân sự tỏ ra rất nghiêm khắc, bắt “quân lính” phải tập dưới nắng mà không cho tìm vào chỗ bóng râm. Buổi tối, các trung đội họp để rút kinh nghiệm tập luyện ban ngày.

 Thứ ba 16-11 trời tiếp tục nắng và chúng tôi tiếp tục tập đội ngũ với những đội hình phức tạp hơn: “Tiểu đội hàng dọc-trung đội hàng ngang”, “Trung đội hàng dọc-đại đội hàng ngang”…

 Sáng thứ tư 17-11 sương mù dầy đặc, cách xa 50m không trông rõ người. Khi sương tan, khí hậu trở nên mát mẻ thì chúng tôi lại không phải ra thao trường mà được học lý thuyết về “Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta” trong hội trường. Tôi đang ngủ gật vì bài giảng nhàm chán thì một nhân viên nhà trường đến báo có người thân tìm gặp. Hộc tốc chạy ra phòng thường trực ở cổng trường, tôi mừng rỡ thấy ba đang chờ đón mình ở đó. Ba về Hà Nội họp và chỉ tranh thủ thời gian ghé qua trường thăm tôi, nên hai cha con ngồi ngay tại đây nói chuyện. Tôi kể cho ba đủ mọi chuyện ở trường và vui mừng được ba cho biết cả nhà vẫn bình yên, giao thông giữa Hải Phòng với Hà Nội đã được nối lại bằng bến phà qua sông thay cho cầu Phú Lương đã hỏng. Ba khuyêntôi nên yên tâm để học tập tốt, rồi trao cho tôi một chiếc áo bông mới màu xanh lam may đúng kiểu dành cho đàn ông rất phổ biến lúc bấy giờ, cùng thư của má và của em Dũng. Đọc những dòng tình cảm mà má và em gửi gắm cho mình, tôi xúc động đến chảy nước mắt. Tiễn ba ra cổng lên chiếc xe “commăngca” đang đậu sẵn bên đường, tôi thấy lòng mình ấm lại.

Buổi trưa trời hửng nắng, chúng tôi lại ra thao trường. Chiều học bài “Xạ kích” với tư thế nằm bắn có bệ tì, rồi học cấu tạo của súng. Khi thực hành tháo lắp để lau chùi súng, tôi bị chiếc lò xo thép ép vào tay làm rách da chảy máu. Buổi tối mọi người lại lên hội trường học lý thuyết, nhưng tôi xin phép ở lại phòng để làm hai cái bia chuẩn bị cho ngày mai tập bắn. Đêm trong giờ ngủ, tiểu đội tôi nhận nhiệm vụ canh gác “doanh trại” nhà A7, lần lượt mỗi người một giờ thay phiên nhau cầm súng đứng gác trước cửa vào cầu thang của tòa nhà.

 

Sau một tuần tập luyện căng thẳng, tôi quyết định về thăm cậu Bính. Ăn xong bữa cơm chiều thứ bảy, tôi ra cổng trường thì gặp ngay cậu đứng đón mình ở đó bên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô quen thuộc. Cậu vào trường Múa thăm dì Quỳ, khi quay về ghé qua Đại học Sư phạm để thử xem có thể gặp được tôi không. Vậy mà thật lạ lùng, hai cậu cháu không hẹn trước mà đã gặp nhau ngay tại cổng. Lên chiếc xe đầy kỷ niệm để cậu đèo về, tôi được hưởng một buổi tối rất vui ở nhà cậu. Sáng hôm sau, vì hai cậu cháu lại ra hồ Bảy Mẫu chèo thuyền, nên tôi trở về trường muộn giờ. Về phòng thấy cửa đã khóa, tôi biết rằng mình đã bỏ lỡ cuộc hành quân ngày chủ nhật theo kế hoạch. Buổi tối trong giờ sinh hoạt tập thể, tôi bị trung đội phê bình về khuyết điểm này, và phải hứa hẹn sẽ không tái phạm.

 Tuần tiếp theo, cường độ luyện tập còn căng hơn tuần trước, nhưng may là thời tiết đã  trở nên dịu mát. Trọng tâm của tuần này là cuộc hành quân đêm thứ tư 24-11 của toàn đại đội trên chặng đường dài 5 km. Mọi người đều nai nịt gọn ghẽ, đeo ba lô có vòng lá ngụy trang và đội mũ cũng cài lá ngụy trang; các nam chiến sĩ đều vác súng, còn nữ thì mang gậy, lần lượt từng tiểu đội theo một hàng dọc qua cổng trường tiến ra đường. Đêm đầu tháng âm lịch, trời đầy mây không trăng sao nên tối đen như mực. Đi trên đường nhựa bằng phẳng thì hàng ngũ được duy trì rất đúng cự ly và tốc độ; nhưng khi rẽ ngoặt vào  làng hoặc băng qua bờ ruộng thì rất khó nhận ra mặt đường đất như thế nào, ngay cả đồng đội trước mắt cũng trở nên lờ mờ ẩn hiện, mà đoàn quân đi đến đâu thì chó sủa vang đến đấy, khiến ai cũng phải đề phòng những hàm răng của chúng. Vì thế, hàng ngũ trở nên lộn xộn khi có người đâm vào bụi tre, sa xuống rãnh nước, hoặc dẫm phải cứt trâu, làm bật lên những tiếng kêu hoặc những tràng cười đột xuất, mặc dù lệnh trên yêu cầu tuyệt đối im lặng. Tôi bước hụt xuống một cái hố nhỏ, bi trẹo bàn chân phải đau điếng nhưng vẫn cố gượng hoàn thành nốt chặng đường còn lại, mệt mỏi trở về trường cùng đồng đội với chiếc áo đẫm mồ hôi. Hôm sau lên phòng y tế khám, tôi mới biết chân mình đã bị bong gân. Với bàn chân liên tục đau nhức, tôi vẫn cố gắng tập luyện chăm chỉ để thực hiện chính xác các yếu lĩnh xạ kích: “ giương súng-tỳ vai-áp má- nheo mắt-lấy đường ngắm-nín thở-bóp cò”. Mãi đến khi được thực hành tại trường bắn, tôi mới phát hiện ra rằng những tiếng súng mà trước đây mình vẫn phải nghe là xuất phát từ đây, khi sinh viên các khoa khác tập quân sự; bây giờ đến lượt những người khác phải nghe tiếng súng của chúng tôi. Trong bài kiểm tra bắn đạn thật bằng súng thể thao Toz-8, tôi đạt loại giỏi với cả 3 viên đạn trúng vòng 10 của chiếc bia đặt cách xa 50m. Toàn đại đội chỉ có 5 người giỏi (từ 28 đến 30 điểm), trong đó có một nữ là Nguyễn Thiên Hương.

Chiều thứ sáu họp tổng kết đợt huấn luyện, tôi được đề nghị vào danh sách tặng thưởng danh hiệu “xuất sắc”, nhưng sau đó lại bị gạt ra vì hai lý do: tập thể dục buổi sáng không đầy đủ và vắng mặt trong cuộc hành quân ngày chủ nhật.

 

 Kết thúc đợt huấn luyện quân sự, từ ngày 29-11 chúng tôi chuyển sang học môn chung thứ hai của toàn trường là Tâm lý học. Sinh viên năm thứ nhất của tất cả các khoa lại tập hợp trong hội trường lớn để cùng nhau nghe giảng và cùng được phát một cuốn giáo trình in roneo như nhau, sau đó về phòng nghiên cứu cá nhân rồi lại thảo luận tổ. Được nghe những bài giảng hấp dẫn của hai giảng viên nổi tiếng là Phạm Hoàng Gia và Nguyễn Anh Tuấn, tôi cảm thấy rất thích môn này vì những kiến thức mới lạ của nó.

 Khi học về “Tâm lý học đại cương”, tôi đặc biệt hứng thú về cách phân loại 4 dạng khí chất con người dựa trên 4 kiểu hoạt động thần kinh cao cấp: xăngganh (sanguine) là dạng nồng nhiệt sôi nổi - do kiểu hoạt động thần kinh mạnh, điềm tĩnh và linh hoạt tạo thành; phơlết (phlegmatic) là lãnh đạm bình thản - do kiểu thần kinh mạnh, điềm tĩnh nhưng ít linh hoạt; côlê (choleric) là cương quyết nóng nảy - từ kiểu thần kinh mạnh mà không điềm tĩnh; và mêlăngcôlê (melancholia) là trầm tư sâu lắng - thuộc về kiểu thần kinh yếu. Chúng tôi tranh luận rất hăng về 4 loại khí chất này, rồi mỗi người sẽ âm thầm tự xếp mình và những người xung quanh vào một trong 4 kiểu hoạt động thần kinh ấy. Khi học về “Tâm lý trẻ em”“Tâm lý thanh niên”, tôi đặc biệt chú ý đến sự phát triển tâm lý trong độ tuổi dậy thì và sự nảy nở những “mối tình đầu” trong lứa tuổi học sinh. Tôi nhận thấy cuốn giáo trình và bài giảng của thầy đã trình bày lý thuyết rất hay về tình yêu tuổi học sinh với sự hồn nhiên, nồng nàn và trong sáng của nó. Nhưng khi giảng về cách thức áp dụng lý thuyết đó vào công tác giáo dục, các thầy vẫn cho rằng cần ngăn chặn tình yêu trong nhà trường, không phải bằng sự cấm đoán thô bạo, mà bằng các biện pháp tế nhị nhẹ nhàng. Theo quan điểm đó, bài giảng kết thúc bằng sự liên hệ đến phong trào “ba khoan” và một khẩu hiệu nhắn nhủ cánh nam giới rằng “hãy để yên cho nữ sinh học tập”. Đang say đắm trong mối tình tuyệt đẹp với Thanh Tâm, tôi không thể chấp nhận bất cứ một sự can thiệp nào nhằm ngăn chặn tình yêu tuổi học sinh. Vì thế, trong cuộc thảo luận tổ, tôi đã phân tích rằng nếu đã coi tình yêu đó là hồn nhiên và trong sáng, thì cần để nó phát triển tự nhiên và giữ nguyên sự trong sáng đó. Để bảo vệ quan điểm của mình, tôi dẫn ra những mối tình tuyệt đẹp ở lứa tuổi trăng tròn, từ Paven với Tônhia cho đến Thúy Kiều với Kim Trọng và nhiều đôi khác nữa, cho mọi người thấy rằng không có mối tình nào bị ngăn chặn hay phải thực hiện “ba khoan”. Các sinh viên là cán bộ đi học đều tán thành quan điểm của các thầy; còn các bạn trẻ trong tổ đều bày tỏ sự đồng cảm với ý kiến của tôi, nhưng cũng khuyên rằng khi làm bài thì tôi cứ nên viết theo quan điểm của thầy để tránh bị điểm xấu. Khi ấy tôi vẫn chưa biết rằng mọi lý thuyết khoa học đều phải phục tùng đường lối chính trị, nên mới diễn ra tình trạng lý thuyết một đàng mà áp dụng một nẻo như vậy. Rất may là đề bài kiểm tra thuộc chủ đề về “tâm lý trẻ em”, không đụng chạm đến vấn đề tình yêu trong nhà trường, nên tôi đã làm bài tốt.

 Những đợt gió mùa đông bắc dồn dập tràn về từ đầu tháng 12 đã làm cho thời tiết ngập chìm trong mùa đông lạnh giá, có hôm nhiệt độ xuống từ 5 đến 7 độ C. Trời đầy mây xám rắc mưa phùn xuống mãi khiến đường đất trong trường trở nên lầy lội. Gió hun hút thổi từng đợt uốn cong những hàng cây phi lao ven đường, tạt nước mưa vào mặt những người đang run rẩy trên đường vì giá rét. Ngồi học trong phòng mà cả bọn chúng tôi đều co ro trong áo ấm với chăn bông, mặc dù cửa kính đã đóng chặt. Cảnh trí mùa đông ảm đạm lại khêu gợi trong tôi nỗi buồn nhớ khôn nguôi về những ngày tháng êm đềm trong gia đình yên ấm, về người yêu thầm lặng mà mình luôn ghi khắc trong tim. Tôi đúng là một kẻ mang khí chất melancholia theo đúng nghĩa của từ đó.

Kết thúc bài kiểm tra tâm lý học vào chiều 11-12, tôi được cậu Bính đến đón về nhà nghỉ ngày chủ nhật, rồi trở về trường ôn tập triết học để chuẩn bị làm bài kiểm tra môn này. Ngày 14, sau khi hoàn tất bài kiểm tra triết học, chúng tôi lên hội trường nghe báo cáo thời sự, rồi nhận được lệnh chuẩn bị đi sơ tán. Các anh Trương Vũ Xương, Tạ Mai, Nguyễn Huy Phấn, Cao Đức Đạm và Nguyễn Giám đại diện 4 lớp được Khoa cử đi tiền trạm để chuẩn bị đón toàn khối tại nơi sơ tán. Suốt mấy ngày ở lại trường chờ đợi, chúng tôi phải lao động cật lực để vận chuyển sách, bàn ghế, bảng và các đồ dùng dạy học khác của khoa lên ô tô chở về nơi sơ tán; đồng thời tập một vở kịch và vài bài hát để có thể về trình diễn văn nghệ ở nơi ấy. Khi thấy công nhân bắt đầu tháo dỡ ngôi nhà Hội trường lớn, thì tôi nhận được thư của má trong chiếc phong bì dán con tem vẽ các loại súng phòng không bắn hạ máy bay địch với dòng chữ nổi bật về một chiến công: “ 500 máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc” (tính từ ngày 5-8-1964). 

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác