NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương 8, phần 1

( 30-07-2015 - 07:31 AM ) - Lượt xem: 1068

Việc học tập ở năm thứ nhất được bắt đầu không phải với những môn lịch sử hấp dẫn của khoa như tôi đã tưởng, mà bằng một tuần học chính trị (kể từ thứ hai 25-10) cho toàn thể sinh viên của tất cả các khoa ngồi chật kín hội trường. Được ngồi nghe giảng trong hội trường lớn như vậy, tôi mới cảm nhận được rõ ràng là trường đại học thì khác với trường phổ thông như thế nào.

CHƯƠNG TÁM – GIẢNG ĐƯỜNG DƯỚI MÁI ĐÌNH

 

 

1. Đại học Sư phạm

 Tàu chạy khá chậm, đến ga nào cũng đỗ để nhận khách, nên các toa dần dần chật ních. Tôi bị  những người xung quanh lèn chặt, và chỉ cảm thấy dễ thở khi tàu về đến ga Hà Nội ngay trước lúc rạng đông. Rời khỏi ga, tôi lên chuyến tàu điện đầu tiên của ngày mới vừa hửng sáng chạy về Bờ Hồ, rồi chuyển sang tàu điện đi cửa ô Cầu Giấy. Đến trạm cuối cùng ở một ngã tư, tất cả hành khách xuống tàu và tôi phát hiện trong số đó có một chàng trai người thấp đậm xách túi hành lý, trông có vẻ một học sinh ở tỉnh về thủ đô để tìm trường học. Bắt chuyện với cậu ta, tôi đã có ngay người bạn đầu tiên sắp vào học cùng khoa cùng trường đại học với mình, tên là Dương Tín quê ở Ninh Bình. Tôi cùng Tín thuê chung một chiếc xích lô đi về nơi cần đến cách đó 2 km. Xe dừng lại trước một chiếc cổng rất to, trên hai trụ của nó gắn một tấm biển rất lớn: “Bộ Giáo dục-Trường Đại học Sư phạm Hà Nội-Cây số 8 đường Hà Nội-Sơn Tây”. Đi qua cửa hông cổng này, trình báo với nhân viên ở phòng thường trực, băng qua một khoảng sân rộng đến bên một chiếc bàn lớn đặt ở hành lang một dãy nhà lá có treo tấm băng đỏ “Nhiệt liệt chào mừng các sinh viên mới của trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, chúng tôi nộp các giấy tờ cần thiết cho nhân viên nhà trường ngồi ở đó, rồi ký tên vào một cuốn sổ, thế là đã chính thức trở thành sinh viên đại học. Tôi lập tức viết thư về nhà báo tin cho ba má biết.

Trên diện tích rộng hàng chục hectar, trường đại học của chúng tôi khác hẳn các trường phổ thông mà tôi đã trải qua. Từ cổng đi vào sẽ đối diện với một hội trường rất lớn. Được lợp bằng lá trên những cột gỗ và những mảng tường không mấy kiên cố, hội trường dốc từ ngoài vào trong kê hàng trăm băng ghế gỗ mộc rất dài có tựa lưng, đủ chỗ cho hàng nghìn người ngồi hướng về một sân khấu rộng có bục giảng và một chiếc đàn piano ba chân đặt trong một góc. Bên trái hội trường nổi bật 3 tòa nhà bốn tầng xây cùng một kiểu với mái ngói dốc, tường gạch quét vôi vàng và cửa sơn xanh, được gọi chung là “dãy nhà B”  với số hiệu mỗi nhà là B2, B3 và B4 dành cho các phòng chuyên môn và phòng ở của nữ sinh viên. Kế bên các tòa nhà cao tầng ấy là 2 khối nhà gạch mái ngói phục vụ ăn uống; mỗi khối gồm nhà bếp gắn liền với căng tin và nhà ăn hết sức rộng kê rất nhiều bàn ghế, đủ chỗ cho hàng trăm người cùng ăn một lúc. Bên phải hội trường là “dãy nhà A” gồm 7 tòa nhà bốn tầng cùng xây theo một kiểu với mái bằng, tường gạch quét vôi hồng và cửa sơn màu nâu, được mang các số hiệu nhà từ A1 đến A7 dành cho các văn phòng khoa và phòng ở của nam sinh viên. Xen giữa các tòa nhà cao tầng đồ sộ ấy là những dãy nhà lá khiêm tốn dùng làm giảng đường và lớp học của các khoa. Rải rác trong khuôn viên trường còn có khu nhà hiệu bộ hai tầng, thư viện, sân vận động, những dãy nhà tắm và nhà vệ sinh công cộng ở sát hàng rào cùng nhiều công trình phụ khác.

 Hơn 200 sinh viên năm thứ nhất khoa Lịch sử (gọi tắt là khối Sử1) được chia thành 4 lớp theo thứ tự Sử 1A, 1B, 1C và 1D. Tất cả các nam sinh viên trong khối được ở trong các phòng thuộc tầng 2 nhà A7, còn nữ thì ở bên dãy nhà B2. Tôi là thành viên lớp Sử 1B, được bố trí ở trong một phòng có 10 chiếc giường hai tầng bằng gỗ dành cho 20 người, mỗi giường đều có hộc chứa đồ giống như giường ở Công trường Muối. Không biết do ai quy định mà mỗi sinh viên đều tự viết họ tên vào một mảnh giấy hình chữ nhật, rồi dán nó vào thành giường mình. Tôi may mắn được ở tầng dưới một giường kê ngay cạnh cửa, nên ra vào rất thuận tiện lại đỡ phải leo trèo như những người ở tầng trên.

 Thành phần sinh viên trong khối hết sức đa dạng, khác hẳn với học sinh ở nhà trường phổ thông. Trước hết là những người vốn là học sinh vừa tốt nghiệp cấp 3 ở các tỉnh thành miền Bắc, gồm các bạn nam Cao Chí Bồ, Nguyễn Văn Chương,  Hà Trọng Cường, Nguyễn Ngọc Giao, Đỗ Trọng Khang, Phan Kế Minh, Trần Văn Nhương, Vũ Huy Phúc, Trần Văn Thạnh, Nguyễn Văn Thuyết, Nguyễn Văn Thưởng, Dương Tín, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Mạnh Tùng, Nguyễn Ngọc Vân…và các bạn nữ như Nguyễn Thị Kim Chi, Đỗ Thu Hà, Lê Kim Hải, Trần Thị Hải, Nguyễn Thị Hệ, Nguyễn Thiên Hương, Nguyễn Minh Lan, Vũ Thị Len, Hoàng Liên Minh, Nguyễn Nguyệt Nga, Dương Thu Nga, Phạm Tuyết Nhung, Nguyễn Thị Sâm…Tiếp đó là những bạn nữ từ các trường học sinh miền Nam được tuyển vào như Lê Thị Bừng, Trần Thị Hường, Trần Bích Phượng, Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thị Tịnh, Huỳnh Thanh Trúc… Lại còn có những sinh viên thuộc các dân tộc thiểu số miền Nam từ trường nội trú của họ đến học là các anh Dzu Đách, Ra Lan Nhe, Đinh Rõ, Trần Trách, U Spe…và các chị Đinh Thị Húa, Mai Xẩm…; còn sinh viên dân tộc thiểu số miền Bắc có các anh Chu Văn Định, Ma Văn Tình, Triệu Việt Vương… Hơn nữa, còn có cả một đội ngũ đông đảo sinh viên gốc cán bộ, bao gồm hiệu trưởng hiệu phó hoặc giáo viên các trường cấp I, cấp II cùng trưởng phó phòng ban thuộc các Sở hay Ty Giáo dục ở nhiều tỉnh thành hay nhân viên một số cơ quan đoàn thể được cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, như các anh Phạm Thanh An (tức Ầm hoặc Am), Nguyễn Xuân An, Nguyễn Văn Canh, Lê Tâm Doãn, Cao Đức Đạm, Nguyễn Giám, Nguyễn Văn Hạnh, Tạ Lộc, Tống Xuân Mậu, Tạ Mai, Lê Ngung, Nguyễn Văn Phàn, Nguyễn Huy Phấn, Nguyễn Đăng Phượng, Lê Đức Sương, Nguyễn Vũ Tích, Bùi Xuân Vịnh, Trương Vũ Xương… và các chị Bùi Kim Dung, Nguyễn Thị Hoạt, Đỗ Bích Khuê, Nguyễn Thị Nhàn, Đỗ Thị Phượng, Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Minh Tâm, Trần Kim Thoa, Nguyễn Thị Tuyến…Trong đó lại có một số cán bộ miền Nam tập kết như các anh Nguyễn Văn Công, Lê Văn Giáp (bị thương tật ở chân), Trần Trung Tuyên (đã tốt nghiệp trung cấp âm nhạc với nghệ danh Quang Mác); và mấy anh thuộc dân tộc thiểu số đi học như Cầm Văn Chu, Lò Văn Ninh, Trần Thiều, Doanh Thăng Xuân…Các chức vụ trong ban cán sự lớp cho đến tổ trưởng mỗi tổ đều do cán bộ đi học đảm trách. Lớp Sử 1B của tôi do anh Nguyễn Đăng Phượng làm lớp trưởng, còn các lớp phó là anh Trương Vũ Xương (phụ trách học tập) và anh Phạm Thanh An (phụ trách đời sống). Các cán bộ đi học đều nhận được giấy gọi nhập học trước bọn học sinh phổ thông chúng tôi cả tháng trời, nên họ đã được đón Bác Hồ và Tổng thống Ấn Độ  Prasat đến thăm trường khi chúng tôi còn đang ở nhà.

 Sự đa dạng về nguồn gốc nhập học dẫn đến sự chênh lệch nhau rất lớn về tuổi tác giữa các sinh viên. Nhỏ nhất là những bạn vốn là học sinh phổ thông ở Hà Nội, Hải Phòng và các thành thị khác, thường vào khoảng 17 đến 19 tuổi. Những sinh viên gốc học sinh nông thôn, học sinh miền Nam và miền núi thường lớn hơn, vào khoảng 20-25 tuổi. Dĩ nhiên là các vị cán bộ đi học ở độ tuổi từ 27 đến 36 trở thành bậc trưởng thượng của các lớp; trong đó người lớn tuổi nhất lại rậm râu sâu mắt trông thật già cả là Nguyễn Văn Phàn được bọn sinh viên trẻ nhất trí gọi bằng “bác” và xưng “cháu” ngon lành; riêng tôi còn phải xưng “cháu” với chú Nguyễn Xuân An, vì chú ấy nguyên là cán bộ của Sở Giáo dục Hải Phòng - đồng nghiệp của ba tôi, và với cô Bùi Kim Dung, vì cô này nguyên là đồng nghiệp của má tôi ở trường cấp I Nguyễn Tri Phương được cử đi học. Địa vị chính trị của sinh viên cũng khác nhau rất nhiều. Quá nửa số bạn trẻ xuất thân từ học sinh phổ thông đã là đoàn viên, trong đó nhiều nhất là những người gốc nông thôn và học sinh miền Nam; đa số cán bộ đi học đã là đảng viên hoặc cảm tình đảng. Nếu như thời học phổ thông lớp tôi chỉ có một người cảm tình đảng là anh Phao cùng với số đoàn viên có thể đếm trên đầu ngón tay, thì ở đây mỗi lớp đều có hàng chục đảng viên cùng số lượng cảm tình đảng và đoàn viên vượt trội so với số người chưa vào đảng vào đoàn như tôi.

 

 Sau khi hoàn tất mọi thủ tục nhập học, chúng tôi phải làm một bài kiểm tra chất lượng, có lẽ để nhà trường nắm trình độ đầu vào của sinh viên, chứ không phải là thi tuyển. Bài này không được trả cho sinh viên biết điểm, nhưng tôi tin chắc là mình đã làm tốt. Lúc bấy giờ tôi chỉ cảm thấy mình đã gặp may khi không phải thi tuyển mà vẫn được vào đại học. Mãi về sau, khi biết là mình đã được tuyển chọn qua lý lịch gia đình, tôi mới nhận ra rằng chính khóa của mình đã khởi đầu cho một đường lối tuyển sinh được gọi vắn tắt là “học tài-thi lý lịch”, hay “học tài-thi bố mẹ” với những hệ lụy nặng nề mà không ai chấn chỉnh được trong suốt một thời gian dài. Khi ấy, cổng trường đại học luôn rộng mở cho con cán bộ bước vào, riêng con của các “cốp” thì thường đi du học nước ngoài, cho dù học lực của họ như thế nào đi nữa; còn con nhân dân có được vào đại học hay không phải tùy thuộc vào việc cán bộ địa phương phê lý lịch của họ như thế nào, cho dù họ có học giỏi đến đâu chăng nữa.

 Buổi lễ khai giảng khóa học của chúng tôi được tổ chức trọng thể trên quy mô toàn trường. Hơn 2000 sinh viên năm thứ nhất thuộc 9 khoa Văn, Sử, Địa, Toán, Lý, Hóa, Sinh, Nga văn và Trung văn, mỗi khoa một khu vực riêng ngồi chật kín hội trường rộng mênh mông. Trước giờ khai mạc, dàn nhạc kèn đồng của sinh viên các lớp trên trình tấu những nhạc khúc cổ điển danh tiếng, xứng đáng với nền tảng văn hóa-nghệ thuật cao của một trường đại học. Khi các nhà lãnh đạo trường và các khoa bước vào hội trường, toàn thể sinh viên đứng dậy, bản “Vũ khúc Granada” rộn ràng sôi nổi vang lên hòa cùng tiếng vỗ tay dồn dập kéo dài chào mừng họ. Sau lễ chào cờ, thầy Hiệu trưởng Phạm Huy Thông bước lên bục đọc diễn văn khai giảng. Vóc người nhỏ nhắn, vầng trán cao với cặp kính dày, thầy có một khuôn mặt trí thức điển hình. Bằng giọng nói truyền cảm với ngôn từ khúc chiết, thầy nồng nhiệt chào mừng toàn thể các sinh viên mới của trường, kêu gọi mọi người quyết tâm học tập tốt, sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn do hoàn cảnh chiến tranh gây ra để vươn tới đỉnh cao khoa học. Từ lâu đã được nghe tên tuổi Giáo sư Phạm Huy Thông - vốn là một thi sĩ nổi tiếng với bài thơ “Tiếng địch sông Ô”, rồi trở thành một trí thức Việt kiều cao siêu với các văn bằng Tiến sĩ Luật và Thạc sĩ Sử-Địa từ Pháp về phục vụ đất nước, nay được thấy ông tận mắt và trực tiếp nghe những lời giáo huấn của ông, tôi cảm thấy tự hào khi mình đã trở thành sinh viên của một trường đại học do bậc thầy tài danh ấy lãnh đạo. Buổi lễ kết thúc bằng một chương trình văn nghệ đầy tinh thần chiến đấu của sinh viên các khoa, trong đó có màn hợp ca hai bài “Không cho chúng nó thoát!” của Hoàng Vân và “Sẵn sàng, bắn!” của Tô Hải, do sinh viên Sử 2 trình bày trên nền nhạc đệm piano.

 Tiếp theo buổi lễ của trường, khoa Lịch sử tổ chức một cuộc họp mặt với các sinh viên mới của mình tại một giảng đường đơn sơ được dựng bằng tranh-tre-nứa-lá, với những bộ bàn ghế đôi cho hai người cùng ngồi được đóng bằng gỗ tạp sơn màu nâu đỏ. Thầy Chủ nhiệm khoa Lê Văn Sáu - cũng là trí thức Việt kiểu ở Pháp về nước cùng đợt với thầy  Thông - trình bày về tổ chức và hoạt động dạy học của khoa. Các cán bộ giảng dạy của năm thứ nhất lần lượt đứng dậy để tự giới thiệu mình và về bộ môn mà mình phụ trách. Chúng tôi nhìn các thầy với lòng tôn kính và ngưỡng mộ đối với những học giả có tên tuổi mà lần đầu tiên mình mới được biết. Sau cùng, Bí thư khoa Lê Tông giải đáp mọi thắc mắc của sinh viên, rồi phổ biến một số công việc trước mắt cho chúng tôi thực hiện.

 

 Cuộc sống tập thể trong trường khá đầy đủ tiện nghi, xứng đáng với việc đào tạo những người trí thức tương lai của đất nước so với hoàn cảnh chung của xã hội. Khu nhà tắm và nhà vệ sinh công cộng tương đối sạch sẽ, có đủ chỗ và đủ nước dùng cho toàn thể cư dân trong trường. Căng tin phục vụ ăn sáng với món phở hoặc mì có thịt với giá 2 hào một bát vừa với túi tiền sinh viên, ngoài ra còn có thể mua xôi hoặc chuối. Trên những chiếc bồn dài dùng để rửa tay hoặc bát đĩa phía ngoài căng tin là hai đường ống song song có vòi vặn khóa được lắp đặt, một đường dẫn nước lạnh và đường kia là nước nóng có thể sử dụng bất cứ lúc nào. Chính đường ống nước nóng đó tạo nên sự khác biệt về tiện nghi ở một trường đại học so với các khu tập thể khác. Theo tiêu chuẩn ăn 15 đồng và 13,5 kg lương thực một tháng, hai bữa cơm chính ở nhà ăn đại học sư phạm không có gì hơn so với ở công trường Muối. Tuy nhiên ở đây không phải ăn cơm độn ngô, mà bữa trưa được ăn cơm trắng (mỗi suất 225 gam gạo theo lý thuyết) với một món mặn là chút ít thịt, cá hay đậu phụ và một thứ được sinh viên gọi là “canh toàn quốc” vì chỉ có toàn là nước nấu với một ít rau nêm mắm muối với chút mì chính, bữa chiều được ăn bánh mì (mỗi người một chiếc làm từ  225 gam bột theo lý thuyết) với một bát “xúp” có một vài mảnh thịt xương nấu với bí đỏ hoặc một thứ rau củ nào đó. Chế độ ăn như vậy không thể coi là tốt, nhưng thực khách trẻ tuổi dễ tính ít kêu ca, nên các bữa cơm ở nhà ăn tập thể rất đông người luôn có không khí vui vẻ. Ngoài giờ học, từ các tòa nhà dành cho sinh viên ở thỉnh thoảng lại vang lên tiếng hát, tiếng đàn guitar, violon, accordeon hoặc tiếng sáo biểu hiện tình yêu cuộc sống của tuổi trẻ. Riêng tầng 2 nhà A7 của chúng tôi còn có một cây đàn t’rưng do anh Uspe mang vào phòng ở để trình tấu những giai điệu đặc biệt của rừng núi  Tây Nguyên quê hương mình. Tôi cũng có lúc nổi hứng đóng góp một tiết mục kèn harmonica vào bản hòa tấu tự phát không cần nhạc trưởng ấy. Xen vào những tiếng đàn hát là tiếng súng thể thao nổ từng phát hoặc từng loạt từ một nơi nào đó trong khuôn viên nhà trường. Giờ nghỉ trưa đáng lẽ phải yên tĩnh, nhưng những tiếng súng ấy vẫn đột ngột vang lên từng đợt khiến tôi không thể ngủ.

 Trường có một thời khắc biểu hàng ngày rất chặt chẽ để sinh viên thực hiện. 5h30 kẻng báo thức vang lên gọi mọi người dậy rèn luyện thân thể theo bài thể dục buổi sáng 8 động tác do đài phát thanh truyền đi trên nền nhạc nhịp nhàng sôi nổi. Từ 6h đến 7h là thời gian dành cho vệ sinh cá nhân và ăn sáng. Buổi học sáng từ 7h đến 11h30; tiếp đó là bữa ăn trưa và thời gian nghỉ trưa. Buổi học chiều từ 13h30 đến 17h; sau đó là bữa ăn chiều và thời gian nghỉ buổi tối. Giờ học tối bắt đầu từ 19h cho đến 21h30. Nửa giờ sau thì tiếng kẻng vang lên báo hiệu giờ ngủ bắt đầu. Từ thời điểm này, các phòng phải tắt hết đèn cho mọi người ngủ, ai muốn thức học thêm thì không được làm ồn và phải ra ngoài để tận dụng ánh đèn hành lang hay ánh sáng của các ngọn đèn đường.

 

 Trường Đại học Sư phạm đào tạo giáo viên cấp III theo chương trình mỗi khóa học 3 năm. Khi chúng tôi nhập học thì sinh viên năm thứ 2 và thứ 3 đã đi sơ tán, nên chúng tôi chưa được giao tiếp với họ. Việc học tập ở năm thứ nhất được bắt đầu không phải với những môn lịch sử hấp dẫn của khoa như tôi đã tưởng, mà bằng một tuần học chính trị (kể từ thứ hai 25-10) cho toàn thể sinh viên của tất cả các khoa ngồi chật kín hội trường. Được ngồi nghe giảng trong hội trường lớn như vậy, tôi mới cảm nhận được rõ ràng là trường đại học thì khác với trường phổ thông như thế nào.

 Trong 3 ngày liền, các diễn giả trình bày hàng loạt vấn đề trong suốt hai buổi học cả sáng lẫn chiều. Mặc dù họ nói rất hăng say và hùng hồn, tôi vẫn không có hứng thú nghe giảng mà chỉ cảm thấy rất nhức đầu, vì phần lớn những điều họ nói mình đã được học trong các bài chính trị ở trường phổ thông, rồi được nghe đi nghe lại mãi trên báo đài. Tuy nhiên, cũng có một số ý mới khiến tôi lưu ý. Đã nghe chán chê về các phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Ba khoan”…nhưng tôi vẫn cảm thấy có phần hãnh diện khi được biết chính Đoàn TNLĐ trường Đại học Sư phạm Hà Nội là nơi khởi đầu phong trào “Ba sẵn sàng”. Đã nghe nhiều lần câu “Ra ngõ gặp anh hùng”, tôi vẫn thấy tự hào khi được nghe những lời ca ngợi của nữ văn sĩ Thụy Điển Sara Lidman: “Việt Nam là lương tâm của thời đại!”. Lời thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rằng “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý” cũng giúp tôi tăng thêm lòng yêu nghề đã chọn; còn câu “Càng yêu người bao nhiêu thì càng yêu nghề bấy nhiêu” của ông cũng là một ý rất sâu sắc và hết sức truyền cảm. Tôi cảm thấy hài lòng khi nghe diễn giả nói  “người giáo viên là kỹ sư tâm hồn”, và vui mừng khi được biết chính phủ sẽ ưu đãi ngành giáo dục bằng cách cấp học bổng cao nhất (22 đồng một suất) cho toàn thể sinh viên đại học sư phạm (ở các trường khác thì chỉ một số ít sinh viên được chọn cấp học bổng, mà mỗi suất tối đa chỉ 18 đồng). Điều duy nhất khiến tôi không tán thành là việc Đoàn TNLĐ nâng tuổi đoàn viên từ 26 lên 35 (đối với nam) và lên 30 tuổi (đối với nữ). Mặc dù diễn giả giải thích rằng việc này nhằm đáp ứng nguyện vọng sinh hoạt đoàn và tham gia phong trào “Ba sẵn sàng” của những người mới vượt qua tuổi thanh niên, tôi nghĩ với tuổi tác như vậy thì Đoàn trở nên quá già. Một đồng chí  tuổi 15 gần như là con cháu của một đồng chí 35 tuổi, mà hai người như vậy lại cùng là đoàn viên thanh niên thì thật là kỳ quặc. Không nói với ai về ý nghĩ của mình, nhưng tôi tự cảm thấy việc nâng cao tuổi đoàn viên khiến mình giảm hứng thú vươn lên Đoàn.

 

 Trường tôi ở vùng ngoại thành, chỉ cách trường Múa của dì Quỳ trong khu văn công Mai Dịch hơn một cây số, còn muốn đến Cậu Bính, dì Dung hay bác Ngọc ở nội thành thì có thể dùng tàu điện hay ô tô buýt. Nhờ đó, trong những ngày nghỉ tôi thường đến thăm các gia đình họ hàng thân thiết ấy (mặc dù ngày thường mọi người đều phải đi sơ tán, nhưng ngày nghỉ thì ai cũng tranh thủ về nhà). Gia đình dì Quỳ giờ đây lại đầm ấm như xưa, vì chú Trực từ Liên Xô đã trở về nhà, cùng đợt với các lưu học sinh Việt Nam tại “Đất nước của Lênin” được nhà nước gọi về trong năm 1964 vì sợ họ chịu ảnh hưởng của “chủ nghĩa xét lại Khơrútsốp” (theo tinh thần Nghị quyết 9 của Trung ương Đảng).

 Lần đầu tiên đến thăm cậu Bính kể từ ngày lên Hà Nội học, tôi được cả gia đình đón tiếp rất thân tình. Sau bữa cơm tối thứ bảy có đủ mặt cậu mợ cùng hai em Trí và Hương, chúng tôi đi xem kịch ở Nhà Hát Lớn. Hôm sau ăn sáng xong, cậu rủ tôi ra công viên Thống Nhất để bơi thuyền. Đó là lần đầu tiên mà tôi được chèo chiếc thuyền thoi pêrixoa trên mặt hồ Bảy Mẫu gió thổi mát rượi, một thú vui giải trí cao cấp mà ở Hải Phòng chưa có. Vừa chèo thuyền ngắm cảnh, cậu cháu tôi vừa trò chuyện thật là tâm đắc. Nhà cậu có một cái giá gỗ xếp đầy những quyển sách về mỹ thuật cùng những vở kịch nổi tiếng trên thế giới và trong nước. Nhờ số sách đó mà mỗi lần đến thăm cậu tôi lại có dịp học thêm về lịch sử mỹ thuật với rất nhiều tranh minh họa và thưởng thức những kịch bản rất hay từ thời Shakespeare cho đến các tác gia hiện đại.

 Đêm chủ nhật ngủ tại nhà cậu, tôi bỗng nằm mơ thấy ba ốm nặng rồi qua đời, khiến mình khóc thảm thiết, khi tỉnh dậy mi mắt vẫn còn ướt. Sáng hôm sau trở về trường, tôi sửng sốt thấy một tấm bảng đen đặt dựa vào bức tường ở phòng thường trực mang dòng chữ phấn trắng: “Lê Vinh Quốc lớp Sử 1B có điện”. Sợ rằng bức điện này thông báo cơn ác mộng đêm qua đã biến thành sự thật, tôi vừa mở phong bì vừa run. Đúng là bức điện do ba gửi cho tôi, nhưng không có tin xấu mà là tin tốt: “Car nhaf binhf an manhj khoer, ba mas mong con vui khoer vaf hocj taapj toots”. Dịch dễ dàng loại chữ điện tín đó thành câu văn bình thường, tôi thở phào nhẹ nhõm và biết rằng đó là cách ba trả lời bức thư tôi gửi về nhà từ tuần trước. Tuy nhiên, tôi vẫn suy nghĩ mãi về mối liên quan giữa giấc mơ với bức điện . Chắc rằng khi đánh điện tín ba đã nghĩ về tôi rất nhiều, nên đã truyền đi một dòng điện sinh học vô hình khiến tôi tiếp nhận nó mà biến thành giấc mơ của mình. Chỉ có điều khó giải thích là sự trái ngược về nội dung truyền tải giữa giấc mơ với bức điện. Dù sao đi nữa, tôi vẫn tin rằng “báo mộng” là một trong những hiện tượng “thần giao cách cảm” có thật, cho dù giữa nội dung giấc mơ với sự việc xảy ra trên thực tế không hoàn toàn khớp với nhau, mà có khi còn trái ngược nhau.

 Tôi nhanh chóng nhận ra sự khác nhau giữa cuộc sống ở Hà Nội với Hải Phòng. Do các đoàn văn công trung ương tập trung cả ở thủ đô, đời sống văn hóa tinh thần ở nơi đây có  khá hơn so với thành phố cảng, nên mọi người thường được xem kịch, xiếc và thưởng thức ca nhạc nhiều hơn. Từ khi về Hà Nội, tôi mới được trực tiếp làm khán thính giả của các nam ca sĩ nổi tiếng như Quý Dương, Trần Hiếu, Trung Kiên, Quang Hưng…và các nữ danh ca, từ Tường Vy gạo cội, Thanh Huyền danh tiếng đến Bích Liên, Mỹ Bình và Diệu Thúy mới nổi.

 Hà Nội đông dân hơn nên cuộc sống có vẻ hối hả bon chen hơn so với Hải Phòng; phương tiện vật chất của hai thành phố nói chung cũng gần như nhau, nhưng các gia đình họ hàng ở nơi đây thì có tiện nghi không bằng gia đình tôi ở dưới đó. Nhà cửa của các cậu các dì đều chật hẹp và thiếu tiện nghi sinh hoạt. Cậu Bính đã khéo cải tạo căn gác xép sân thượng của ngôi nhà 2 tầng tại số 6 phố Nguyễn Bỉnh Khiêm thành nơi ở gọi là “gác 3” với đủ chỗ ngủ, làm việc, đun nấu, ăn uống và tiếp khách, lại có cả cửa sổ nhìn ra hồ Thiền Quang để ngắm cảnh. Nhưng cả khu nhà này có đến 6 hộ gia đình cùng sinh sống mà chỉ có một bể nước dùng chung và một nhà vệ sinh  với 2 ngăn có hố xí thùng ở dưới đất, nên các việc tắm rửa, lấy nước và bài tiết hàng ngày đều không thuận tiện. Sáng nào mọi người cả nam lẫn nữ cũng  phải xếp hàng đông đúc trước cửa nhà vệ sinh, ai cũng cầm sẵn giấy chùi và cố kìm nén nhu cầu bức xúc của cơ thể, để chờ khi cửa mở có người xốc quần bước ra, thì mình lập tức ập vào thay thế nếu đã đến lượt. Nhà bác Ngọc ở trên tầng 2, muốn lên thăm bác phải đi qua tầng một, nơi có cả mấy gia đình ở chen chúc nhau trên từng chiếc giường kê san sát với nhau trong một căn phòng tối om. Tôi không hiểu gia đình bác tắm giặt, lấy nước nấu ăn và đi vệ sinh ở chỗ nào. Gia đình dì Quỳ ở một phòng trên tầng 2 trong khu tập thể trường Múa cũng phải xách nước từ dưới đất lên để đun nấu ngay ở hành lang và phải sử dụng khu nhà vệ sinh công cộng ngoài đồng cách xa nơi ở. Tại nơi “vệ sinh” đó, chẳng hiểu vì sao mà các nam nữ vũ công tương lai cứ mặc sức thả phân lung tung ngay trên nền nhà xí mà không trúng lỗ, thả cả trên đường đi khi chưa kịp đến nơi, nên mỗi lần “đi vệ sinh” là phải chịu đựng những sự hôi thối mất vệ sinh kinh khủng. Gia đình dì Dung ở khu tập thể Bờ Sông sử dụng bể nước chung cùng nhà vệ sinh công cộng cách phòng ở một quãng. Nhà vệ sinh này khá sạch lại có nhiều ngăn nên ít khi phải xếp hàng, nhưng xách nước từ bể công cộng về nhà để đun nấu là một việc rất vất vả.

 

Ngay từ những ngày đầu sống trong trường, tôi đã nhận ra rằng sinh viên sư phạm tức các nhà giáo tương lai cũng không phải là những con người mô phạm như người ta vẫn tưởng. Đã xảy ra mấy vụ mất cắp quần áo, tiền bạc và tem phiếu tại phòng ở của sinh viên, khiến mọi người phải họp phòng để tìm thủ phạm. Quan hệ giữa sinh viên với nhau cũng không hề đơn giản; đã bộc lộ những sự ghen tị  ngấm ngầm giữa những người có nguồn gốc khác nhau. Đã có lúc tôi nghe được người ta bình phẩm về mình là “bất hủ” vì hay nói năng bừa bãi. Bởi thế, tôi cảm thấy chán nản về sự phức tạp của cuộc sống, luyến tiếc tuổi học trò hồn nhiên trong trắng đã trôi qua, buồn nhớ gia đình cùng bè bạn cũ, và vô cùng thương nhớ Thanh Tâm. Trong tâm trạng ấy, tôi viết bài thơ với nhan đề “Dòng sông tình yêu” để kỷ niệm mối tình thầm lặng mà vô cùng tha thiết với cô láng giềng:

 

                              Buổi đầu gặp lại em

                              Bông hoa hồng mới nở

                              Ôi, ánh mắt dịu êm

                              Nụ cười như bỡ ngỡ.

 

                              Không phải hoa sặc sỡ

                              Em là hoa mỉm cười

                              Lay động tâm hồn người

                              Em là hoa hạnh phúc.

 

                              Tối tối em đi học

                              Ai đứng ngóng trông theo

                              Gió đông quét lá reo

                              Đuổi theo chân em bước.

 

                              Đường vắng tanh vắng ngắt

                              Gió lạnh rít từng hồi

                              Đêm tối mình em ngồi

                              Đèn soi tay em giặt.

 

                              Em hay chăng ánh mắt

                              Của ai dõi nhìn theo

                              Em nghe tim ai đập

                              Lòng chan chứa thương yêu.

 

                              Ôi, con đường phố nhỏ

                              Lặng im nhưng nói nhiều

                              Giữa đôi bờ cổng ngõ

                              Một dòng sông tình yêu…

                                                                    (Hà Nội 2-11-1965)

 

 Tiếp đó, lần đầu tiên trong đời tôi đã sáng tác một ca khúc với nhan đề “Nhớ chăng bạn ơi!” theo giọng la thứ, để miêu tả nỗi buồn thương lưu luyến tuổi thơ ấu đã trôi qua. Tôi gửi “tác phẩm” này cho Triệu kèm theo một bức thư, trong đó viết rằng dù chỉ được học trung cấp, bạn ấy hạnh phúc hơn tôi khi luôn được ở nhà cùng những người thân yêu nhất nơi thành phố quê hương. Trong thư trả lời, Triệu bảo ý nghĩ đó của tôi là kỳ quặc, vì cậu ấy muốn đi xa để học đại học như tôi mà không được; đồng thời cũng cho biết ca khúc của tôi được cậu ấy với Trần Bích Liên và cả anh Trần Ninh (anh ruột của Liên) cảm thấy thích, mặc dù có vài nhược điểm.

Thư của Triệu cùng bức điện của ba đã giúp tôi yên tâm hơn với cuộc sống hiện hành; nhưng những đợt gió mùa đông bắc kéo về tạo nên bầu không khí lạnh lẽo ảm đạm vẫn khiến tôi không dứt được nỗi buồn man mác.  

LÊ VINH QUỐC

 

Các Bài viết khác