NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương 7, phần 6

( 28-07-2015 - 04:39 PM ) - Lượt xem: 684

Chuyến tàu này không quá đông khách, nên tôi chọn đươc một chỗ ngồi tốt bên cửa sổ và có chiếc bàn con gắn ngay dưới thành cửa. Không để ý tới những người ngồi bên cạnh và trước mặt mình, tôi lấy từ ba lô ra cuốn nhật ký đặt lên bàn và mở bút để ghi lại những giây phút bắt đầu rời khỏi thành phố thân yêu

6. Mảnh vải ngụy trang

 

Một chiều đầu tháng 8, khi tôi đang dắt em Dũng đi dọc theo vỉa hè phố Hồ Xuân Hương để đưa nó đến rạp xem phim, thì bất ngờ gặp Tâm đi ngược chiều từ phía trước tiến lại. Khác với những lần đột xuất gặp nhau trước đây em thường ngượng nghịu quay mặt đi, lần này Tâm mạnh dạn mở cặp mắt nâu tuyệt đẹp nhìn thẳng vào mắt tôi. Lẽ ra đã có thể hỏi thăm em vài câu, nhưng rồi cũng như những lần gặp trước, tôi lại câm như hến mà lảng tránh ánh mắt em và tiếp tục tiến bước để em cũng lặng lẽ đi qua. Được một đoạn, tôi quay đầu nhìn lại thì thấy em cũng quay lại nhìn tôi! Hạnh phúc tràn ngập trong lòng, nhưng một lần nữa tôi lại phải tự cật vấn mình: Tại sao? Mình sợ gì mà không nói được với em đôi lời? Chẳng phải em đã cả gan nhìn thẳng để khuyến khích mình hãy mạnh dạn lên đó sao? Khi ngồi bên Dũng trong rạp xem bộ phim tuyệt hay của Liên Xô nhan đề “Khúc nhạc Ukraina”, tâm trí tôi vẫn pha trộn hình ảnh của Tâm với những hình ảnh đang hiện lên trên màn bạc: các cô gái Ukraina xinh đẹp cài hoa trên mái tóc, mặc các bộ váy áo dân tộc đầy màu sắc, đang múa rất đẹp và hát những bản dân ca làm say đắm lòng người dưới ánh trăng dát bạc nơi thảo nguyên huyền ảo.

 Tháng 8 lặng lẽ trôi qua, tôi vẫn không nhận được tin tức gì về việc thi đại học, nhưng lại có một tin nổi bật từ chiến trường miền Nam gửi ra. Ngày 18-8, thử nghiệm chiến thuật “Tìm-Diệt” của Bộ Tư lệnh Mỹ, lữ đoàn TQLC số 9 Hoa Kỳ với 5.500 binh sĩ đã tiến hành cuộc hành quân “Ánh sao” (Starlite) nhằm bao vây để tiêu diệt một trung đoàn chủ lực của Quân Giải phóng và bộ đội địa phương với quân số 1.500 người tại thôn Vạn Tường, xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Trong trận đánh ác liệt tại nơi đây, Quân Giải phóng đã loại khỏi vòng chiến hơn 900 quân Mỹ, bắn cháy 22 xe tăng và xe bọc thép, hạ 13 máy bay địch và thoát khỏi vòng vây của chúng. (Người Mỹ thừa nhận về phía mình có 45 người chết và 203 người bị thương, nhưng đã tiêu diệt được khoảng 600 quân cộng sản Bắc Việt).

 Sau chiến thắng Vạn Tường, bạn tôi Nguyễn Đăng Chúc nhận được giấy gọi, nhưng không phải để đi thi đại học, mà là đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Việc này chứng tỏ lý lịch gia đình bạn ấy đã được giải oan. Chúc đã tu dưỡng rất tốt, nay lại có thêm tấm gương Nguyễn Văn Trỗi để noi theo, nên tôi tin rằng khi được gọi nhập ngũ bạn ấy sẽ hồ hởi phấn khởi lên đường với tinh thần “Ba Sẵn Sàng” của Đoàn để chiến đấu hy sinh cho lý tưởng Đảng. Sau này tôi mới biết rằng Chúc vẫn mơ tưởng đến giảng đường đại học mà không hề muốn đi bộ đội, nên đã tìm cách uống một thứ thuốc gì đó cho mắt bị vàng để khi khám tuyển sẽ bị loại. Nhưng cậu ấy vẫn trúng tuyển vào bộ binh, mặc dù sức khỏe không đạt loại A mà chỉ là B1. Nguyễn Đăng Chúc cùng hai bạn đã nhập ngũ từ trước là Đỗ Văn Hoan và Ngô Như Thân lần lượt đi chiến đấu tại chiến trường miền Nam, sẽ lần lượt được Đảng-Bác ghi công để nhân dân đời đời nhớ ơn liệt sĩ. Tôi được nghe kể rằng khi nhận được giấy báo tử của Đỗ Văn Hoan, gia đình bạn ấy không có sẵn bức chân dung nào thích hợp với liệt sĩ để đặt lên bàn thờ, nên phải dùng tạm bức ảnh chụp Hoan đang tham gia phong trào diệt ruồi khi còn quàng khăn đỏ. Còn  lúc nhận được giấy báo tử của Nguyễn Đăng Chúc, mẹ bạn ấy đã trào nước mắt rồi nói đúng một câu: “ Nếu biết trước thế này, thì hồi đó tôi đã không cất giấu sổ gạo, mà cứ để cho nó tình nguyện đi lao động công trường còn tốt hơn!”. Nhiều năm sau, gia đình được biết Chúc bị tử thương đúng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân ở chiến trường Quảng Trị cùng hơn bốn chục đồng đội được mai táng trong một nghĩa trang chung, nhưng không tìm được nấm mồ của chàng trai tội nghiệp ấy.

 

 Do hoàn cảnh chiến tranh, lễ mừng Quốc khánh năm nay được tổ chức rất giản dị, cho dù là năm chẵn theo cách tính những dịp kỷ niệm. Những khẩu hiệu đỏ rực được chăng ngang các đường phố:  “Nhiệt liệt chào mừng Quốc khánh lần thứ 20 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!”, “Tinh thần Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 bất diệt!”, “Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!”, “Hồ Chủ tịch muôn năm!”…; các ca khúc truyền thống cách mạng và kháng chiến được phát dồn dập trên đài; vở kịch “ Nổi Gió” của Đào Hồng Cẩm ca ngợi cách mạng miền Nam chống Mỹ-Ngụy, được đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị trình diễn trên sân khấu Nhà hát Lớn và truyền thanh trên đài… Đúng ngày 2-9 chỉ có mít tinh nhỏ, không có duyệt binh, diễu hành và cũng không bắn pháo hoa. Các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Chính phủ trong dịp này đều kêu gọi toàn quân toàn dân phát huy lòng tự hào dân tộc và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trên cả hai miền Nam-Bắc. Theo hướng đó, một câu thành ngữ mới được lan truyền khắp nơi để kích thích tinh thần chiến đấu của nhân dân:“Ra ngõ gặp anh hùng”. Câu này sẽ được khắc sâu vào tâm khảm mọi người, bao gồm cả nam phụ lão ấu ở miền Bắc cũng như ở vùng giải phóng miền Nam. Nhờ đó, ai cũng lâng lâng tự hào rằng mình thuộc về một dân tộc anh hùng đang đứng trên tuyến đầu chống Mỹ được toàn thế giới ngưỡng mộ, nên sẽ sẵn sàng thể hiện sự anh hùng của chính mình khi có điều kiện.

Như thường lệ, sau lễ Quốc khánh sẽ là dịp khai giảng năm học mới náo nức vui tươi; nhưng giờ đây năm học mới bắt đầu có nghĩa là giáo viên và học sinh, sau 3 tháng hè tranh thủ về nhà ở thành phố, sẽ phải trở lại nơi sơ tán dài ngày để dạy học. Trong một buổi sáng buồn tẻ, tôi tiễn má cùng em Dũng đi về xã An Hồng; rồi trong một buổi chiều trước một cơn bão sắp ập đến, tôi đạp xe đưa em Hùng ra bến ô tô đi về huyện Vĩnh Bảo. Chỉ còn lại ba và tôi ở nhà, nhưng ba thường xuyên đi công tác suốt ngày, nên tôi luôn cảm thấy buồn vì gia đình trống vắng. Nhưng còn buồn hơn khi nhìn sang bên kia đường, tôi không thấy Tâm trong suốt mấy ngày liền. Năm nay Tâm đã lên lớp 8 của trường cấp III, có thể em đã phải đi sơ tán theo trường.

 

 Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh nước CHND Trung Hoa, một chương trình điện ảnh  Trung Quốc được tổ chức trong tất cả các rạp ở Hải Phòng, nổi bật là bộ phim “Đứng gác dưới ánh đèn nê ông”. Vì phim này được dựng theo vở kịch cùng tên đã biểu diễn ở nước ta từ năm ngoái, nên rất đông khán giả háo hức muốn được xem phim của Trung Quốc khác với kịch do Việt Nam diễn như thế nào. Phim sẽ được khởi chiếu vào đúng ngày kỷ niệm 1-10, nhưng vé đã được các rạp bán ròng rã từ nhiều ngày trước rồi. Mãi đến  trước hôm khởi chiếu tôi mới đi mua, nên phải chạy qua mấy nơi mới tìm được một rạp còn đủ 5 vé cùng hàng ghế, để dành cho cả nhà đi xem khi mọi người trở về đông đủ vào tối thứ bảy.

 Gần trưa ngày 1-10, tôi nấu cơm và đang rán một xanh đậu phụ trong bếp thì nghe thấy một loạt tiếng nổ rền, thoạt tiên tưởng là sấm, nhưng khi nghe còi báo động rú vang thì biết rằng đó là tiếng súng phòng không bắn máy bay Mỹ. Rút vội thanh củi cháy ra khỏi lò mùn cưa và dập tắt nó, tôi chạy ngay ra sân và chứng kiến nhiều người ngoài đường  đang hoảng hốt chạy vào hầm nhà tôi. Có người mặt mũi tái mét, chân tay bủn rủn lại bế cả con thơ, chui vào hầm rồi mới lấy lại được bình tĩnh. Anh Thành sửa xe đạp đã trở thành đội viên tự vệ đeo băng đỏ trên cánh tay và đội chiếc mũ sắt cũ từ thời Tây để lại, đứng trên vỉa hè thổi còi hướng dẫn mọi người chạy vào nơi trú ẩn. Khi tôi vừa chui vào hầm thì từng tràng tiếng súng nổ dậy lên khiến căn hầm rung rung và bụi cát trên trần lả tả rơi xuống. Tôi cảm thấy sợ hãi khi tưởng tượng rằng có thể một quả bom Mỹ sẽ rơi trúng hầm này. Nhưng rất may là cho đến lúc còi báo yên cất lên vẫn chưa nghe tiếng bom nổ; mọi người thở phào chui ra và bàn tán rằng có thể 1 (hoặc 2) máy bay địch đã bị hạ. Tôi lại vào bếp thì thấy những miếng đậu trong chiếc xanh đặt trên lò mùn cưa đã bị cháy sém - hậu quả mà tôi phải chịu sau cuộc “oanh tạc” vừa qua!

Buổi tối cơm nước xong, ba rủ tôi đi chơi. Có lẽ đó là lần duy nhất trong đời mà hai cha con tôi sóng đôi đi dạo phố dưới ánh đèn đường, rồi vào rạp “Tân Việt” ở phố Hai Bà Trưng cùng xem bộ phim màu “Đại náo Thiên cung” do Trung Quốc mới sản xuất dựa theo tiểu thuyết “Tây du ký”. Trên đường về, ba cùng tôi bình luận về bộ phim vừa xem, rồi nói  nhiều chuyện khác. Tôi nhận được những lời khuyên bổ ích của ba về việc học hành, cuộc sống, chiến tranh và cả tình yêu nữa; vậy mà vẫn không dám hé cho ba biết tình cảm của mình đối với Tâm. Về nhà đúng 11 giờ đêm, tôi xúc động nhận thấy ba yêu tôi rất nhiều, và tôi cũng yêu ba vô hạn.

 Chiều muôn hôm sau là ngày thứ bảy, má và hai em tôi trở về. Thế là cả nhà lại được quây quần bên mâm cơm gia đình đầm ấm, rồi cùng đi xem phim bằng vé đã mua sẵn. Đó sẽ là lần cuối cùng mà cả gia đình 5 người chúng tôi ngồi bên nhau trong một rạp để cùng thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, dù nó chỉ là một sự minh họa cho đường lối chính trị của Bác Mao. Tối hôm sau, trong bữa cơm đủ mặt gia đình, ba tôi bỗng trầm giọng xuống để nói với cả nhà: “Khi người ta đang sống trong hạnh phúc, thì ít ai biết đấy là hạnh phúc. Chỉ khi bị rời khỏi cái hạnh phúc ấy, thì người ta mới tiếc những gì đã mất”. Tôi hiểu ý ba: trong những năm hòa bình, gia đình tôi có cuộc sống sum họp nhưng ai cũng coi đó là việc bình thường; chỉ đến khi có sự chia ly trong hoàn cảnh chiến tranh, thì mọi người mới nhận ra cuộc sống sum họp gia đình chính là hạnh phúc. Chia sẻ ý nghĩ với ba, tôi nhớ mãi câu nói ấy.

 Rạng sáng thứ hai 4-10, tôi lại đưa má và các em trở lại nơi sơ tán. Sau bữa cơm tối, ba tôi khoác ba lô ra ga để lên tàu đi công tác tại thủ đô; nhà còn lại mình tôi trong một đêm khuya yên ắng lạ thường. Bầu trời tối đen ảm đạm được tô điểm bằng mấy vì sao mờ cùng ánh trăng nhợt nhạt khuất sau những đám mây đầy hơi nước. Tháp Đồng hồ Ba chuông điểm 11 tiếng ngân vang, đường phố vắng tanh vắng ngắt khiến cho tiếng dế kêu trong vườn nghe rõ mồn một. Một chiếc ô tô “commăngca” của quân đội chạy qua đường, rồi chẳng thấy chiếc xe nào nữa. Có tiếng xich sắt khóa cánh cổng vào sân nhà Misô, tôi nhìn qua bên đó mà không hề thấy bóng dáng của Tâm, chắc em cũng đã đi sơ tán. Mang theo nỗi buồn của sự chia ly, tôi chìm vào giấc ngủ.

 

 Xa cách vài chục km trong khoảng một tuần rồi sẽ gặp lại chưa phải là một cuộc biệt ly, nhưng sự trống vắng hiu quạnh xung quanh nỗi cô đơn của mình đã khiến tôi rất buồn. Suốt mấy ngày tiếp theo, tôi nghĩ ra nhiều trò để giết thời gian rồi lang thang ngoài phố, có khi đến nhà Triệu chơi, ăn cơm rồi ngủ lại nhà bạn, khi lại đến nhà bác Khâm đọc sách và trò chuyện với anh Tín mà cũng không vơi bớt nỗi buồn. Thấy vậy, anh Tín thu xếp cho tôi thay anh dạy bổ túc văn hóa để có niềm vui. (Hồi ấy các buổi tối thứ hai và thứ năm hàng tuần được quy định dành cho các lớp bổ túc văn hóa của cán bộ công nhân viên).

 Tối thứ bảy 9-10, ba má và các em lại có mặt ở nhà làm tôi cảm thấy  vui như tết. Tuyệt hơn nữa là buổi sáng chủ nhật tôi lại được tiếp cận với Tâm. Đang ngồi trong phòng khách, tôi bỗng thấy Tâm bước qua sân nhà mình rồi thản nhiên vắt một mảnh vải màn nhuộm màu xanh lá cây lên sợi dây thép mà gia đình tôi vẫn dùng để phơi quần áo, rồi đi lên gác tìm chị Hương. Tôi rạo rực cả người, nhưng vẫn không dám ra gặp, mà đợi mãi cho đến khi em quay về mới dám bước ra để nhìn theo em.

 Vào giờ ngủ trưa, tôi lặng lẽ ra sân, đến trước mảnh vải của Tâm đang phơi trên dây thép, dùng hai tay ấp nó vào mặt mình và hôn mãi nó. Đó là mảnh vải ngụy trang phòng không mà học sinh các trường phải luôn mang theo để sẵn sàng khoác lên người khi có báo động, vậy mà tôi cảm thấy nó thơm vô cùng. Nhà Tâm chẳng thiếu gì chỗ phơi, nhưng em đã mang nó sang phơi ở nhà tôi  để gửi gắm trong đó biết bao nhiêu tình cảm, khiến tôi ngây ngất hôn mảnh vải như được hôn chính người yêu say đắm của mình. Chỉ có điều không ngờ được, là nụ hôn tượng trưng ấy lại trở thành cử chỉ giao tiếp cao nhất giữa hai kẻ yêu nhau lặng thầm trong suốt một năm qua. Đến tối thì không thấy mảnh vài thân thương ấy nữa, chắc em đã sang lấy nó về lúc nào mà tôi chẳng biết.

 

 Sáng thứ năm 14-10, tôi đang xem lại giáo án để chuẩn bị đi dạy lớp bổ túc văn hóa buổi tối thì có nhân viên bưu điện chuyển đến một bức thư gửi đích danh mình: Giấy báo nhập học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Chờ đợi cuộc thi đại học đã lâu, nhưng khi nhận được giấy báo này tôi vẫn cảm thấy hết sức bất ngờ, trong lòng dậy lên biết bao cảm xúc lẫn lộn. Tôi ngạc nhiên và vui mừng vì mình đã được gọi thẳng vào học đúng với nguyện vọng mà không cần qua kỳ thi tuyển sinh đại học. Rồi lại dâng lên trong lòng sự lưu luyến và nhớ thương khi biết rằng mình sắp phải xa gia đình, bè bạn cùng thành phố thân yêu, với cả sự ân hận sâu sắc vì mình đã không kịp bày tỏ nỗi lòng với Tâm để cùng em có một lời hẹn ước yêu thương. Tôi lập tức viết thư cho Nguyễn Đắc Đồng để thông báo tin đặc biệt này cho cậu ấy.

Buổi chiều, tôi ăn mặc chỉnh tề, mang theo giáo án và đạp xe đến nhà anh Tín. Một cảnh hoàng hôn rực đỏ, với những ráng vàng chói chang hắt lên nền mây đen cuồn cuộn in bóng xuống dòng sông Lấp lung linh ánh mặt trời sắp lặn, tạo cho tôi một cảm giác bất an và nỗi buồn tê tái. Anh Tín khen tôi soạn giáo án tốt và chúc mừng tôi được đi học đại học. Sau bữa cơm chiều ăn cùng bác Khâm và anh chị Tín (có cháu Quang nằm trong nôi bên cạnh), tôi đến trường Trần Phú để dạy lớp bổ túc văn hóa lần đầu tiên và cũng là cuối cùng.

 Tôi dành cả ngày thứ sáu để làm thủ tục cắt chuyển hộ khẩu, lương thực và thực phẩm; cho đến chiều hôm sau thì mọi việc hoàn thành. Buổi tối, trong bữa cơm đủ mặt cả gia đình, mọi người vui vẻ trò chuyện quanh việc tôi được đi đại học. Cơm nước xong, tôi đạp xe đến Triệu và gặp cả Liên ở đó. Chúng tôi nói chuyện rất nhiều về những kỷ niệm thời học sinh mà cả ba đứa đều vô cùng lưu luyến, rồi cùng nhau hình dung về tương lai phía trước. Thật may là cả Triệu và Liên cũng đã nhận được giấy gọi nhập học. Rất khuya tôi mới từ biệt hai bạn và trở về nhà khi ba má và các em tôi đã ngủ, còn phòng ở của gia đình Tâm bên nhà Misô cũng đã tắt đèn. Ngồi một mình trong phòng khách, tôi mở cuốn nhật ký và tâm sự với nó về những kỷ niệm tuổi học trò, về tình cảm gia đình, tình bạn và tình yêu mà có lẽ mình sắp phải giã từ để bước sang một chặng đường mới của cuộc đời. Nước mắt tôi đã rơi trên những dòng tâm sự ấy.

 Sáng chủ nhật 17-10, đứng bên gốc cây nhãn nhìn qua tường về phía nhà Tâm, tôi lại được ngắm nhìn em đứng chải tóc bên khung cửa sổ. Chúng tôi trao đổi ánh mắt với nhau thật lâu, em còn mỉm cười làm điệu với tôi rồi mới quay vào. Tôi muốn lao sang bên ấy để được gặp và nói với em mấy lời tạm biệt; nhưng rồi lại cảm thấy như thế là quá đột ngột, vì từ trước đến giờ đã có lần nào mình thực sự gặp gỡ mà nói được điều gì với em đâu? Thế là cơ hội cuối cùng để trao cho em một lời ước hẹn đã trôi qua. Thanh Tâm ơi, em đã bày tỏ tình cảm với anh kín đáo mà rõ ràng đến thế; vậy mà chẳng hiểu tại sao anh lại ngu xuẩn đến mức không dám hò hẹn để thổ lộ với em rằng anh yêu em vô bờ bến! Để cho mối tình trong sáng tuyệt vời của hai chúng mình trôi qua, anh mang tội với em suốt đời. Buổi chiều, tôi dùng dao khắc lên thân cây phượng trong vườn hai chữ in “T” và “Q” lồng vào nhau làm dấu ấn kỷ niệm; rồi ngắt một ngọn lá cây mọc trên hầm trú ẩn, kẹp nó vào một cuốn Tự điển đặt trong tủ sách của ba để lưu dấu ngày ra đi này.

Buổi tối, má nấu một bữa “ăn tươi” để cả nhà cùng vui và tiễn tôi đi học. Ba tặng tôi  một chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu “Nikles” rất cũ mà vẫn còn chạy tốt, dặn tôi phải  năng viết thư về nhà. Má giúp tôi thu xếp đồ đạc rồi hai mẹ con cùng ngồi xe đạp ra ga. Tàu khách thời chiến chỉ chạy ban đêm vì ban ngày sợ bị máy bay địch oanh tạc; tôi mua vé chuyến khởi hành lúc 0 giờ. Má ngồi mãi bên tôi trên chiếc ghế dài tại phòng chờ của nhà ga, căn dặn tôi đủ điều về giữ gìn sức khỏe, tiền bạc và tem phiếu. Chưa bao giờ tôi cảm nhận được tình mẫu tử sâu sắc như những giờ phút đưa tiễn này. Tôi giục má về vì trời đã quá khuya, nhưng má cứ nấn ná mãi cho đến khi tiếng loa của nhà ga vang lên mời quý khách ra tàu. Tôi đứng lên chào má rồi đeo ba lô bước ra, má vẫn đứng bên cửa soát vé nhìn theo cho đến khi tôi bước lên tàu.

 Chuyến tàu này không quá đông khách, nên tôi chọn đươc một chỗ ngồi tốt bên cửa sổ và có chiếc bàn con gắn ngay dưới thành cửa. Không để ý tới những người ngồi bên cạnh và trước mặt mình, tôi lấy từ ba lô ra cuốn nhật ký đặt lên bàn và mở bút để ghi lại những giây phút bắt đầu rời khỏi thành phố thân yêu:

 

 12 giờ đêm 17-10, chính xác là 0 giờ 45 phút ngày 18-10, tàu bắt đầu chuyển bánh. Những đường ray, phố xá, khóm cây, nhà máy quen thuộc của Hải Phòng trong đêm lần lượt lùi lại phía sau. Chắc má đã về đến nhà và còn thức, trong khi ba và các em tôi đang ngủ ngon; và Tâm nữa, chắc em vẫn đang say sưa ngủ phải không? Sáng mai, khi lên đường đi sơ tán, em sẽ không thể ngờ được rằng anh đã ở một nơi cách xa em hàng trăm cây số. Chưa biết đến bao giờ chúng mình mới gặp lại nhau, anh chỉ còn biết mong sao cho em được suốt đời hạnh phúc.

 Tàu qua ga Thượng Lý rồi qua khu Sở Dầu với hàng chục bể chứa xăng dầu khổng lồ đứng sừng sững nối tiếp nhau trong bóng đêm mờ ảo. Thế là tôi đã để lại phía sau mình thành phố thân yêu cùng những kỷ niệm êm đẹp nhất của quãng đời học sinh, mà dấn bước về phía tương lai…

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác