NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương 7, phần 5

( 27-07-2015 - 04:55 PM ) - Lượt xem: 497

Biết rất rõ rằng nếu được đi du học nước ngoài thì mình sẽ có một tương lai tươi sáng; nhưng tôi lại không muốn sống xa gia đình, lo ngại nhất là phải xa cách Tâm. Chỉ một ngày không được thấy em, tôi đã cảm thấy bứt rứt bồn chồn; vậy mà phải xa em đằng đẵng suốt bao nhiêu năm ở nơi chân trời góc bể thì chịu làm sao được

5. Chọn nghề

 

Cùng với tình yêu nồng cháy với cô láng giềng, vấn đề thiết thân với tôi lúc này là chọn trường để dự thi đại học. Tôi tự cảm thấy mình đủ khả năng để học và làm nhiều nghề khác nhau, nay phải chọn lấy một thì quả là rất khó. Tôi vẫn coi hội họa và âm nhạc chỉ là những thú vui giải trí và vẫn thích đi học lịch sử như năm ngoái đã dự định, nhưng khi thấy không có bạn nào cùng sở thích với mình, thì lại hoang mang không dám quyết định. Sự luyến tiếc khôn nguôi về quãng đời học sinh trong trắng, tình cảm sâu đậm với các thầy cô và bạn học, cùng với những cuốn sách rất hay của Makarenko đã thôi thúc tôi chọn nghề sư phạm để có thể gắn bó suốt đời với mái trường thân yêu. Nhưng khi thấy chẳng có bạn nào chọn nghề này cùng với mình, tôi lại do dự không dám quyết. Tôi tâm sự về ý định chọn nghề sư phạm của mình với thầy Hàm. Nhưng người thầy mà tôi luôn quý trọng và muốn noi theo ấy lại không khuyến khích tôi kế tục sự nghiệp của chính ông! “Nếu cậu già giặn hơn, khoảng ngoài 20 tuổi chẳng hạn, thì tôi đồng ý; nhưng hiện nay cậu còn quá trẻ, nhất định sẽ gặp nhiều khó khăn trong công tác giáo dục khi tốt nghiệp ra trường”- thầy giải thích như vậy, rồi khuyên tôi thi đại học Bách khoa. Sự giải thích của thầy khiến tôi phải suy nghĩ, nhưng lời khuyên của thầy lại không hợp ý tôi.  Trong khi đó, hai bạn Trần Trọng Triệu và Trần Bích Liên hình như đã thống nhất với nhau để quyết định xin học trường nào. Tôi biết vì sao Liên chỉ dám xin học trung cấp Dược, nhưng chẳng hiểu vì sao Triệu không định thi đại học mà chỉ xin học trung cấp Kế toán. Hỏi mãi mới được cậu ấy cho biết lý do: ông nội Triệu đã từng làm chánh tổng dưới chế độ cũ, vì vậy nếu xin thi đại học sẽ khó được chính quyền địa phương chấp nhận. Tôi vô cùng tiếc cho hai bạn không thể vượt qua ngưỡng cửa đại học chỉ vì lý lịch gia đình, nhưng vẫn rất băn khoăn về việc chọn nghề cho chính mình. Hỏi ý kiến gia đình, tôi được ba má bảo hãy tự quyết định theo ngành nghề mà mình thích. Thế rồi thời hạn nộp hồ sơ dự thi đại học đã kề cận buộc tôi phải quyết định dứt khoát. Tối 17-5, sau khi đi học về tôi thức thật khuya để hoàn tất hồ sơ và ghi rõ trong đó nguyện vọng xin thi vào khoa Lịch sử của trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

 Cuối tháng 5, các trường học bắt đầu nghỉ hè, học sinh lớp 10 chuẩn bị thi tốt nghiệp còn tôi tiếp tục ôn tập chờ ngày thi đại học. Đông đảo giáo viên và học sinh từ nơi sơ tán lục tục trở về thành phố, nên má và hai em tôi lại thường xuyên có mặt ở nhà. Một buổi chiều tôi dạy em Dũng học theo sách “Vần Vỡ lòng”, rồi chơi đàn măng đô lin để cùng hát với em những bài mà nó đã thuộc từ khi học mẫu giáo: “Ra vườn hoa em chơi”, “Xòe bàn tay đếm ngón tay”, “Một con vịt xòe  ra hai cái cánh”, “Đội kèn tí hon”…Dũng bỗng bảo tôi: “ Những bài này làm em nhớ trường Mầm Non quá! Nhớ cô giáo, nhớ các bạn từ hồi em còn bé tí ti...” Rồi nó kể lại rất nhiều kỷ niệm trong 3 năm học ở đó. Thật bất ngờ về ký ức tuổi thơ sâu sắc của đứa em mới lên 7 tuổi, tôi dắt Dũng đi dạo phố để đến thăm trường cũ của em. Trường Mầm Non xinh xắn giờ đây đã trở thành một cái kho chứa nông-hải sản của thành phố. Những vườn hoa ở đó vẫn còn nhưng cỏ cây đã lụi tàn; những chiếc cầu tụt, đu quay trong sân chưa bị tháo dỡ nhưng phủ đầy bụi và lá khô. Dũng đứng tần ngần khá lâu bên những di vật thân quen ấy rồi nói với tôi: “Bây giờ em chỉ muốn được học lại ở trường này!” Hoài niệm buồn tiếc về trường cũ của Dũng khiến tôi chạnh lòng cảm thương em. Ôi, chiến tranh đã xâm phạm cả vào hạnh phúc tuổi thơ của các em lứa tuổi mầm non!

Tháng 6 mở đầu bằng một tin chiến thắng lớn từ miền Nam gửi ra: trong trận đánh tại thị trấn Ba Gia (huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi) từ 29 đến 31-5, Quân Giải phóng đã đánh tan 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn khác của Quân lực VNCH, giết và làm bị thương 915 tên địch, bắt sống 270 tên. Mọi người bàn tán rằng quân ta chiến thắng ở miền Nam thì thế nào không quân Mỹ cũng leo thang ném bom miền Bắc ác liệt hơn. Ba tôi lên Hà Nội họp, đưa cả má và em Dũng cùng đi thăm thủ đô suốt mấy ngày. Khi mọi người trở về, ba bảo tôi: Bộ Giáo dục đang triển khai kế hoạch đưa học sinh đã tốt nghiệp phổ thông đi học đại học ở Liên Xô và các nước XHCN khác; nếu con muốn đi du học nước ngoài thì chuẩn bị khám sức khỏe để làm hồ sơ nộp lên Bộ. Tin của ba lại khiến tôi phải suy nghĩ rất nhiều để lựa chọn giữa hai con đường: thi đại học trong nước hay đi du học nước ngoài?

 

Biết rất rõ rằng nếu được đi du học nước ngoài thì mình sẽ có một tương lai tươi sáng; nhưng  tôi lại không muốn sống xa gia đình, lo ngại nhất là phải xa cách Tâm. Chỉ một ngày không được thấy em, tôi đã cảm thấy bứt rứt bồn chồn; vậy mà phải xa em đằng đẵng suốt bao nhiêu năm ở nơi chân trời góc bể thì chịu làm sao được. Để tự thuyết phục mình đi du học, tôi phải dùng lý trí để nghĩ ra những lý do nhằm chế ngự tình cảm của mình đối với Tâm. Trước hết là lời dạy của các thầy cô mà tôi vẫn nhớ đinh ninh, rằng tình yêu tuổi học trò tuy rất nồng nàn nhưng cũng dễ phai nhạt khi đôi lứa xa cách nhau, vì thế học sinh không nên yêu đương để ảnh hưởng đến học tập (có thầy còn tuyên bố cấm yêu trong nhà trường). Tiếp đó là sự bất hòa giữa dân tập kết Liên khu 5 (trong đó có Quảng Ngãi quê em) với dân Nam Bộ (bao gồm Bến Tre quê tôi) đang tồn tại trên miền Bắc. Sau cùng vẫn là chiếc khăn quàng đỏ không cho phép tôi được yêu khi em còn là TNTP. Nhưng các lý do ấy đều bị tình cảm của tôi bác bỏ. Về tình yêu tuổi học trò, dù cho quan hệ của bao cặp đôi khác có thể tàn phai vì xa cách, tôi khẳng định tình yêu giữa mình với Tâm sẽ bền vững suốt đời. Tôi vẫn đinh ninh rằng tình yêu nảy nở một cách tự nhiên, không thể nói nên hay không nên yêu, không thể “khoan yêu” hay cấm yêu được; và tình yêu không làm ảnh hưởng xấu đến việc học tập, mà những cặp yêu nhau còn có thể giúp nhau học tập tốt hơn.  Sự bất hòa giữa dân Liên khu 5 với dân Nam Bộ đối với tôi chẳng có nghĩa lý gì. Tôi đã từng yêu thích ca khúc “Liên khu 5 yêu dấu” của Phan Huỳnh Điểu, nay được biết quê hương Tâm ở nơi ấy, tôi càng cảm thấy mình yêu quý dân Liên khu 5 hơn nữa. Chỉ còn chiếc khăn quàng đỏ khiến tôi bị dằn vặt vì không dám thổ lộ tình cảm với em, thì tôi đành chờ đợi em lớn lên, chứ không thể vì nó mà hết yêu em.

 Một hôm bước vào một cửa hàng sách trên phố Hoàng Văn Thụ để xem các sách mới và tem mới trưng bày ở đây, tôi gặp một chuyên gia Liên Xô đang trao đổi gì đó với cô mậu dịch viên mà hai người không hiểu ý nhau vì bất đồng ngôn ngữ. Tôi nghe không đầy đủ, nhưng cũng hiểu được ông người Nga ấy nói gì, nên đã mạnh dạn đến làm “phiên dịch” cho hai người. Xong việc, ông chuyên gia cảm ơn rồi khoác vai tôi cùng đi dạo phố để cùng nhau trò chuyện, dĩ nhiên bằng tiếng mẹ đẻ của ông. Trước lúc chia tay, vị chuyên gia cho biết mình là một “shakhchior” và mong sẽ được gặp lại tôi tại quê hương ông. Về nhà, tôi phải tra tự điển mới biết ông ấy là một “thợ mỏ”; nhưng từ cuộc gặp ngẫu nhiên với vị chuyên gia ấy, tôi cảm thấy quý mến người Nga, tự tin ở trình độ ngoại ngữ của mình và cũng thích được đi du học tại Liên Xô. Thế rồi khi được thấy hình bóng thân yêu của Tâm, tôi lại chỉ muốn được ở nhà bên em mãi mãi.

Trong tâm trạng tiến thoái lưỡng nan, tôi cầu mong ba má giúp mình chọn được quyết định đúng. Nếu ba má ra lệnh cho tôi phải đi nước ngoài, tôi đành tuân lệnh mà chấp nhận yêu Tâm trong không gian xa cách. Nhưng vì tôi không dám bày tỏ hết nỗi lòng thầm kín của mình với hai cụ, nên ba má chỉ nói: “Con hãy tự mình cân nhắc và quyết định!”. Cuối cùng, tôi quyết không thể xa rời Tâm, nên đã bỏ không làm hồ sơ xin đi du học, với lý do sợ sức khỏe của mình kém không chịu đựng nổi khí hậu lạnh ở nước ngoài. Ba má vui vẻ chấp nhận, nhưng chính tôi sau này sẽ không tránh khỏi hối tiếc về quyết định đó.

 

Cuối tháng 6, đúng lúc cây nhãn ở nhà đang chín rộ để có thể trèo hái hàng ngày, tôi bất ngờ được gặp lại cậu Bính khi cậu đến nhà thăm gia đình chúng tôi nhân một chuyến đi mua xe đạp.

 Theo chế độ của nhà nước, mỗi cán bộ công nhân viên trong suốt cuộc đời công tác của mình được mua một chiếc xe đạp theo giá cung cấp (thường là xe “Thống Nhất” của Việt Nam hoặc một số loại xe khác của các nước XHCN). Khi nào có xe bán, Sở thương nghiệp sẽ thông báo cho các cơ quan bình chọn người được cấp phiếu mua xe. Thông thường, việc bình chọn diễn ra rất căng thẳng khi phải so sánh tiêu chuẩn của nhiều người trong cơ quan để chọn ra người xứng đáng nhất. Nhưng lần này, chiếc xe được thông báo thuộc loại xe nhỏ dành cho thiếu nhi do Liên Xô sản xuất, nên những người trong danh sách bình chọn không đấu tranh quá quyết liệt mà có thể nhượng bộ, với hy vọng để dành tiêu chuẩn của mình cho những đợt bình chọn sau sẽ được mua những xe ưng ý hơn. Nhờ  đó, thủ trưởng cơ quan là ba tôi được nhận phiếu mua xe đợt này. Nhưng ba biết rằng  cậu Bính ở Hà Nội đang rất cần xe đạp để phục vụ cho cuộc sống gia đình một chốn đôi nơi trong hoàn cảnh sơ tán, mà cậu chờ mãi vẫn chưa được phân phối xe. Thế là ba gửi thư nói cậu chuẩn bị tiền để xuống Hải Phòng mua xe.

 Đi tàu hỏa về nhà tôi, cậu Bính mang tặng ông anh rể một tác phẩm của cậu là bức tranh sơn dầu khá lớn, vẽ cảnh đồi núi với ruộng bậc thang ở Tây Bắc rất đẹp. Khi ba trao tờ phiếu mua xe cho cậu, tôi cũng chìa tay xin được xem và nhận thấy nó quả là đáng quý: Hội đồng Phân phối Xe đạp của Sở Giáo Dục Hải Phòng (gồm các đại diện  của “Bộ tứ” lãnh đạo là Ban Giám đốc sở, Ban chấp hành Đảng đoàn Giáo dục, Ban chấp hành Công Đoàn Sở và Ban chấp hành Đoàn TNLĐ Sở ) duyệt cấp cho ông Lê Văn Nguơn “Phiếu mua xe đạp cung cấp”. Để bảo đảm rằng người được mua xe chỉ sử dụng nó cho công việc nhà nước, trên phiếu còn ghi rõ: “Cấm mua bán” chiếc xe đạp được mua theo phiếu này. Phiếu do một vị Phó Giám đốc Sở thay mặt Hội đồng ký tên và đóng dấu đỏ chói.

 Mang phiếu đến trình duyệt tại cửa hàng mậu dịch Kim khí-Điện máy, cậu Bính đã mua được chiếc xe đạp mới tinh, được gọi là xe “Thiếu nhi Liên Xô” với giá 200 đồng, lại còn được cấp kèm theo nó một cuốn “Sổ mua phụ tùng xe đạp”. Chiếc xe đạp này có cỡ vành bánh chỉ 600 so với cỡ 650 hoặc 680 của các xe bình thường dành cho người lớn. Cậu Bính vốn có tầm vóc khá cao to, nên trông cậu đi xe này giống như tiết mục “gấu đi xe đạp” trong rạp xiếc; nhưng cậu vẫn tỏ ra rất hài lòng và thích thú với một chi tiết của nó: xe không cần tay phanh, chỉ cần đạp ngược là nó sẽ dừng lại.

 Ngày hôm sau, cậu gắn vào khung xe miếng bìa viết ba chữ “Xe xin số”, rồi rủ tôi cùng lên xe đi xin đăng ký cho nó. Tại Phòng Cảnh sát Giao thông thuộc Sở Công An Hải Phòng, sau khi xem kỹ phiếu mua xe kèm theo Biên lai bán xe của cửa hàng Kim khí-Điện máy, các sĩ quan công an cho phép làm thủ tục đăng ký. Chiếc xe được công an cấp “số khung” và đóng chìm con số đó trên đuôi khung xe bằng một dụng cụ đặc biệt. Sau khi cậu Bính nộp tiền “thuế đăng ký”, các giấy tờ cần thiết để cấp biển số đăng ký xe cho “ông Lê Văn Nguơn” cũng được hoàn tất, trong đó có “phiếu hẹn” ghi rõ 10 ngày sau đến nhận biển đăng ký. Cậu hỏi thêm rằng khi tặng chiếc xe này cho một người ở Hà Nội, thì việc chuyển đăng ký xe cho người đó sẽ được thực hiện như thế nào? Phía công an trả lời: về nguyên tắc, xe được mua ở tỉnh thành nào thì phải đăng ký và sử dụng tại  tỉnh thành đó, không được mua bán qua nơi khác; nếu muốn trao tặng xe thì chủ nó phải làm đơn nêu rõ lý do chính đáng (và cam kết không bao giờ xin mua xe  khác nữa), để “Bộ tứ” của cơ quan xét duyệt và ký tên đóng dấu thì mới được chuyển xe từ Hải Phòng về Hà Nội đăng ký lại theo tên chủ mới.

 Không thể ở lại Hải Phòng thêm 10 ngày để chờ nhận biển số đăng ký xe, cậu Bính gửi tôi tờ “phiếu hẹn” để nhận biển số giúp cậu; rồi gửi lại cả chiếc xe để chờ có dịp thuận tiện thì chuyển nó lên hộ cậu. Ngay sau ngày tôi nhận được chiếc biển đăng ký để lắp vào khung chiếc xe của cậu, thì ba tôi đi Hà Nội họp và nhân đó đã mang theo xe cho cậu. Còn việc chuyển đăng ký xe từ tên ba ở Hải Phòng sang tên cậu ở Hà Nội có được thực hiện hay không, cậu làm cách nào để mua được phụ tùng xe đạp bằng cuốn sổ do Hải Phòng cấp cho ba tôi, thì tôi không bao giờ được biết.

 

 Qua việc mua xe của cậu Bính, tôi mới hiểu chiếc xe đạp có giá trị như thế nào đối với đời sống của cán bộ nhà nước. Nhiều năm sau, tôi sẽ biết chắc rằng ba tôi  không hề được phân phối mua thêm bất cứ một chiếc xe đạp nào khác ngoài chiếc đã nhường cho cậu. Rất may là chiếc xe công của ba cũng được cấp một cuốn “Sổ mua phụ tùng xe đạp” như những chiếc xe được mua theo phiếu, để có thể mua phụ tùng thay thế cho từng bộ phận của xe đó theo giá cung cấp. Về sau, sổ này được cải tiến thành “Bìa mua phụ tùng xe đạp”, được thiết kế giống như phiếu vải hay phiếu thực phẩm, chia thành 20 ô, mỗi ô ghi tên một loại phụ tùng (săm, lốp, xích, líp, moay ơ, pô tăng, pê đan…) để có thể cắt từng ô ra khỏi bìa khi đã được mua thứ phụ tùng ghi trong đó. Việc bình chọn ai trong cơ quan được mua xích líp hay săm lốp xe cũng do“Bộ tứ” đảm nhiệm. Người có nhu cầu cấp thiết nhất trong cơ quan sẽ được duyệt mua theo sổ (hoặc bìa) này; mỗi lần phê duyệt chỉ được mua một thứ, lần sau sẽ đến lượt người khác.

 Trong khi chờ được bình chọn mua phụ tùng mới, các chủ xe với sự trợ giúp của các thợ sửa xe đạp luôn biết cách tận dụng những phụ tùng hư hỏng vì quá hạn sử dụng: săm thủng chỗ nào thì vá chỗ ấy, vá đi vá lại hàng chục lần vẫn dùng được, vá “sống” nhiều rồi thì chuyển sang “vá chín” cho chắc ăn; lốp mòn có chỗ sắp hoặc đã thủng thì cắt một khúc lành ở một chiếc lốp đã bỏ đi mà lót vào chỗ đó; xích mòn thì “lộn xích” hoặc chặt bớt mắt xích nối lại; líp hỏng thì tháo ra sửa lại chỗ bị hỏng… Nhờ đó, “sửa chữa xe đạp” trở thành một nghề để nhiều người kiếm sống trong xã hội, mà những ai có trương bảng “Vá Chín” hay “Lộn Xích” thường có thu nhập khả quan hơn. Những người hành nghề này lại có một ưu thế đặc biệt: họ ít khi bị gom vào các hợp tác xã để làm ăn tập thể. Có lẽ các cán bộ quản lý kinh tế của Đảng ta cũng nhận ra rằng: khi xe mình bị hỏng mà gặp ngay một thợ sửa xe bên đường thì thuận tiện hơn là phải dắt (hoặc vác) nó đi loanh quanh để tìm kiếm một hợp tác xã sửa chữa xe đạp nào đó. Đành rằng những người lao động cá thể này thỉnh thoảng cũng có mánh khóe kiếm tiền bất chính, chẳng hạn như bí mật đục thêm những lỗ thủng vào chiếc săm đang vá để bắt khách hàng phải trả thêm tiền vá những lỗ đó, nhưng dù vậy vẫn chưa đủ để trở thành nguy cơ dẫn  họ tiến lên chủ nghĩa tư bản.

 

 Tháng 7 mang đến cho tôi nhiều tin tức mới. Trong số các bạn bè của tôi, Bùi Trọng Tài chính thức giã từ công trường Muối và nhận được giấy gọi về Trường Ngoại giao ở Hà Nội học ngoại ngữ ngay từ đầu tháng, để chuẩn bị đi du học tại Liên Xô. Tiếp đó, Nguyễn Thế Đề cũng nhận được giấy gọi tương tự và đến tạm biệt tôi để đi Hà Nội. Họ hàng nhà tôi cũng có thêm một nhân vật mới: ngày 22-7 gia đình anh Tín đã sinh hạ một cậu con trai tuấn tú đặt tên là Lục Đình Quang. Trong khi đó, không quân Mỹ bắt đầu leo thang, vượt khỏi vùng “cán xoong” và vĩ tuyến 20 để  đánh phá những mục tiêu khác trên toàn miền Bắc. Ngày 24-7, các tên lửa SAM2 của bộ đội phòng không Việt Nam lần đầu tiên xuất trận đã bắn rơi một chiếc máy bay F4 của Mỹ trên bầu trời tỉnh Hà Tây gần cửa ngõ thủ đô.

 Nhưng tôi vẫn chẳng nhận được tin tức mới nào cho chính mình. Kỳ thi đại học mọi năm thường được tổ chức vào cuối tháng 6 hay đầu tháng 7, nhưng thời điểm ấy trong năm nay đã trôi qua mà vẫn chưa có thông báo gì cho các thí sinh. Tuy vậy, tôi cũng không lo lắng  mà luôn cảm thấy hạnh phúc khi được sống trong gia đình với đầy đủ những người thân, và mỗi ngày vẫn được trông thấy em yêu để cảm nhận em luôn ở gần mình. Cả Tâm và chị Hương đều đang nghỉ hè, nên em sang nhà tôi gặp chị nhiều lần hơn trước khiến tôi càng thêm sung sướng. Chị Hương mới học xong lớp 8 ở trường học sinh miền Nam nhưng đã 22 tuổi, nên tôi luôn coi chị như một người bạn lớn để chuyện trò về học tập, cuộc sống và cả tình yêu tuổi trẻ. Tôi thầm mong một sự ngẫu nhiên nào đó khiến cho mình và Tâm đến gặp chị cùng một lúc, để hai đứa được dịp trò chuyện với nhau một cách tự nhiên. Nhưng hỡi ôi, sự ngẫu nhiên ấy không xảy ra, mặc dù Tâm hoặc tôi thường gặp riêng chị ấy nhiều lần. Vì quá ngây thơ nhút nhát, tôi không biết rằng muốn có một cuộc hẹn hò thì phải có sự chủ động sắp xếp, nếu không do chính mình, thì cũng phải nhờ người khác giúp.

LÊ VINH QUỐC

 

Các Bài viết khác