NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, chương 7, phần 3

( 08-06-2015 - 04:47 PM ) - Lượt xem: 410

Tôi đã hình dung ra công việc trong ngày của Tâm, và luôn tự hỏi “lúc này em đang làm gì?” để có thể dõi theo em đến đúng nơi cần tìm. Ôi, em đúng là một thiếu nữ “đẹp người-đẹp nết”; với em, tôi hiểu rõ câu “ ruộng sâu trâu nái, không bằng con gái đầu lòng” có ý nghĩa như thế nào

3. “Sấm rền”   

 

Về sống ở nhà thật thảnh thơi, nhưng tôi cảm thấy không hài lòng với cảnh ăn không ngồi rồi. Do má thường ở chỗ sơ tán, nên tôi trở thành nội trợ của gia đình với những việc đi mậu dịch xếp hàng mua thực phẩm, nấu cơm, giặt giũ…Ngoài ra, tôi còn rất nhiều thời gian rảnh rỗi để làm những việc khác thích thú hơn. Tôi làm quen với anh Khái, một thanh niên khá đẹp trai là con cháu trong gia đình cụ Kính cũng là chỗ hàng xóm láng giềng với gia đình mình. Là một người yêu âm nhạc và rất thích ca hát, anh hướng dẫn tôi chơi ghi ta và cho mượn luôn chiếc đàn để tập. Tôi lại tìm được cuốn “Tự học guitar” do nhạc sĩ Tạ Tấn biên soạn với nhiều trích đoạn của bậc thầy guitar cổ điển Ferdinando Carulli và học theo từng bài trong đó. Sau vài tháng say mê tập luyện, tôi đã tương đối thành thạo về những thế tay của các hợp âm để có thể đệm đàn cho chính mình hoặc người khác hát, đồng thời độc tấu được 2 bản nhạc yêu thích là “Flot du Danube” và “Chitarra Romana”. Tiếp đó, tôi tập mandoline và nhanh chóng trở nên điêu luyện với loại đàn rất dễ chơi này.

Tôi lại có nhiều thời gian để đọc sách và đã lần lượt lôi từ tủ sách của ba ra cả một bộ sách của nhà giáo dục Xô Viết nổi tiếng A. X. Makarenko đã được dịch sang tiếng Việt: “Bài ca Sư phạm”, “Cờ trên tháp”, “Cuốn sách của những người làm cha mẹ”, “Lời khuyên các vị phụ huynh”. Sách giáo dục mà tác giả này viết như những tác phẩm văn học nên đọc rất hấp dẫn. Chính những cuốn sách này đã khiến tôi cảm thấy rằng dạy học là một nghề rất hay và giáo dục con người đúng là một nghệ thuật. Tôi cũng tìm đọc cả cuốn “Giáo dục học” của I. A. Kairov, nhưng đây là một cuốn sách lý luận cao siêu khó hiểu nên chỉ đọc vài trang tôi lại phải cất vào tủ. Đúng lúc tôi lôi ra cuốn “Dao có mài mới sắc” (do nhà thơ Xuân Diệu ký tên gửi tặng ba) và chuẩn bị đọc,  thì anh Tín đến nhà chơi và trao đổi với tôi về chuyện chọn nghề nghiệp để thi đại học. Anh cho rằng học sư phạm để ra làm giáo viên cũng rất tốt. Tiếp đó, anh xin ba má tôi cho phép đón em Dũng cùng đi sơ tán với gia đình anh tại xã Phú Thái thuộc huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương. Nhận thấy nơi ấy cách trung tâm thành phố Hải Phòng đến 25 km nên rất an toàn, ba má tôi liền đồng ý và gửi ngay cho anh một số tiền với bọc quần áo cùng tem gạo và phiếu thực phẩm của Dũng. Thế là em Dũng leo lên xe đạp để anh Tín đèo đi luôn, và sẽ ở  nơi sơ tán ấy với sự chăm sóc chu đáo của bác Khâm trong hơn một tháng, rồi sẽ lại được má đón về.

 

 Ngày 2-3-1965, hàng trăm lần chiếc máy bay của không quân và hải quân Hoa Kỳ xuất phát từ các sân bay ở Thái Lan và từ 3 hàng không mẫu hạm Mỹ đậu ở vịnh Bắc Bộ, có sự phối hợp của một phi đoàn 19 máy bay ném bom thuộc Không lực VNCH do đích thân tướng Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy, đã ồ ạt tấn công oanh tạc tan nát thị xã Đồng Hới, trút bom xuống cảng Nhật Lệ, cảng Sông Gianh cùng thuộc tỉnh Quảng Bình và đảo Cồn Cỏ - một vị trí tiền tiêu của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở ngoài khơi tỉnh Quảng Trị. Bộ đội phòng không cùng dân quân địa phương đã anh dũng chiến đấu bắn rơi tại chỗ 6 máy bay địch, bắt sống một phi công Mỹ là trung úy Hayden J. Lockhard. Cuộc oanh tạc này là sự khởi đầu cho một chiến dịch to lớn của không quân và hải quân Mỹ mang tên “Sấm Rền” (Operation Rolling Thunder) đánh bom liên tục dài ngày trên lãnh thổ VNDCCH. Chiến dịch này trước hết đánh vào các tỉnh Bắc Trung bộ, mà Mỹ và VNCH gọi là vùng “cán xoong” từ vĩ tuyến 20 độ Bắc trở vào, còn VNDCCH gọi là “Liên khu 4 cũ” (Thanh-Nghệ-Tĩnh) kéo dài qua Quảng Bình cho đến đặc khu Vĩnh Linh ở bờ Bắc sông Bến Hải (vốn thuộc tỉnh Quảng Trị). Mục tiêu của chiến dịch nhằm ngăn chặn mọi con đường chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam.

Ngày 8-3, hai trung đoàn thủy quân lục chiến Mỹ với hơn 3500 binh lính và sĩ quan đã đổ bộ vào Đà Nẵng để chính thức tham gia cuộc chiến chống cộng sản tại VNCH. Số lượng quân Mỹ tham chiến sẽ ngày càng tăng nhanh cho đến 3 năm sau sẽ đạt tới con số khổng lồ hơn nửa triệu người. Một số nước đồng minh của Mỹ cũng góp quân tham chiến như Úc, Nam Triều Tiên, Tân Tây Lan…

 Trước tình hình chiến tranh bùng lan dữ dội trên miền Bắc, Đảng và Chính phủ  quyết định chuyển mọi hoạt động nơi đây sang chế độ thời chiến. Nhiều cơ quan xí nghiệp bắt đầu di dời khỏi thành phố chuyển về nông thôn để tránh bị oanh tạc. Các trường phổ thông cấp III và cấp II đã phân tán vào các trường cấp I, nay giảm giờ học từ 50 phút mỗi tiết xuống còn 45; đồng thời mỗi trường đều chia làm hai: một nửa đi sơ tán ra các huyện ngoại thành, nửa còn ở thành phố dần dần chuyển thời gian học từ ban ngày sang ban đêm. Trong thành phố, nhiều hầm trú ẩn tập thể được xây dựng; các hố cá nhân trên vỉa hè được đào thêm rất nhiều, được làm kiên cố hơn bằng những đoạn xi măng cốt sắt hình ống, có nắp đậy cũng bằng xi măng với 2 lỗ thông hơi để người ngồi bên trong có thể thở.

 Phối hợp với phong trào “Ba Sẵn Sàng” của Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào “Ba Đảm Nhiệm” để động viên toàn thể lực lượng phụ nữ phục vụ chiến tranh: đảm nhiệm sản xuất, công tác thay cho nam giới đi chiến đấu; đảm nhiệm gia đình, khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu; đảm nhiệm phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết. Phong trào này được Bác Hồ đặc biệt quan tâm và cho đổi tên thành “Ba Đảm Đang”, lại được tiếp thêm cảm xúc với ca khúc “Trai anh hùng, gái đảm đang” của Đỗ Nhuận:

 

                              Đất anh hùng gái đảm việc chung thay thanh niên

                              Giữa lứa tuổi khi mái đầu còn xanh

                              Yêu nước em càng yêu anh đi.

                              Việc nhà trọn mọi bề, góp công dựng thôn quê

                              Việc đồng hợp tác xã gánh vác chẳng nề.

                              Ơ…Vui bước lên đường Ba Sẵn Sàng

                              Anh đi công tác, xóm làng Ba Đảm Nhiệm em lo…

 

Nhiều ca khúc khác, nổi bật là“Đường cày đảm đang” của An Chung cũng giúp cho phong trào bay bổng khiến chị em phụ nữ tăng thêm lòng hăng hái:

 

                              Từ ngày anh đi việc đồng em giỏi giang

                              Ruộng cấy chăng dây cây lúa thẳng hàng

                              Đào đắp mương dẫn nước quanh làng

                              Tiếng hát Ba Đảm Đang (ứ-ư)…

                               ….

                               Cùng vì quê hương, lời Bác còn vang

                               Giết giặc! Anh sẵn sàng

                               Cứu nước! Em đảm đang

                               Dù bao gian khổ, tiếng ca thêm rộn ràng…

 

Để nam nữ thanh niên không phân tán tư tưởng vào tình cảm riêng tư và đỡ phải lo gánh nặng gia đình mà tập trung mọi nỗ lực cho chiến tranh, Đoàn Thanh niên phối hợp với Hội Phụ nữ còn phát động phong trào “Ba Khoan” : khoan yêu, khoan cưới và khoan đẻ. Tinh thần chỉ đạo thực hiện phong trào là: những ai chưa có người yêu thì hãy “khoan yêu”, tức là chưa nên đi tìm người yêu; những cặp đã trót yêu rồi thì “khoan cưới”, để chờ đến ngày chiến tranh thắng lợi; còn những cặp đã trót cưới rồi thì phải tìm ra được cách nào đó để “khoan đẻ”. Hồi ấy thủ tục đặt vòng tránh thai cho phụ nữ rất nhiêu khê, mà việc cấp phát bao cao su cho  nam giới luôn bị hạn chế theo tiêu chuẩn cán bộ công nhân viên, còn ở nông thôn thì hiếm có ai được biết đến những dụng cụ hiện đại đó, nên việc “khoan đẻ” thường chỉ được thực hiện bằng ý chí của cả hai vợ chồng. Tuy vẫn còn mù mờ về những bí mật liên quan đến sự sinh đẻ của người lớn, nhưng từ những trải nghiêm của bản thân, tôi đã hiểu rõ rằng tình yêu là loại tình cảm riêng tư và cao quý của con người, nó nảy nở tự nhiên và vô cùng mãnh liệt để dẫn đến hôn nhân và sinh đẻ, mà chẳng ai có quyền và có thể cấm đoán hay kiềm chế được. Vì thế, tôi cho rằng “phong trào” này vừa ngu xuẩn lại vừa thô bạo nên sẽ chẳng đạt được kết quả gì. Khi ấy tôi vẫn chưa nhận ra rằng dưới chế độ ta  mọi thứ riêng tư của con người đều không được chấp nhận, nên không thể có tình yêu riêng tư tự nhiên nào được phép tồn tại ngoài sự quản lý của Đảng, Đoàn và Hội. Việc theo dõi đời sống tình cảm nam nữ luôn được tiến hành một cách chặt chẽ và hứng thú, nên những cặp yêu nhau thường phải quan hệ lén lút như đang làm một việc tội lỗi, ngoại trừ cặp nào đã báo cáo với tổ chức để được công nhận rằng họ đang “tìm hiểu” nhau. Trong hoàn cảnh đó, mặc dù chưa có nhạc sĩ nào đủ cảm hứng để sáng tác một bài hát ca ngợi“Ba Khoan”, nhưng phong trào này vẫn đi vào đời sống  của thanh niên nam nữ theo cách riêng của nó: các cặp tình nhân luôn bí mật giữ gìn quan hệ của họ sao cho không bị phát hiện, nhiều cặp đã thực sự hoãn cưới cho đến ngày chiến thắng; những hiện tượng “ăn cơm trước kẻng” (tức là trai gái ngủ với nhau khi chưa cưới) bị phê bình kiểm điểm đến nơi đến chốn trước tập thể; những cô gái bỗng dưng có thai cùng anh chàng đồng tác giả của thai nhi đó đều bị thi hành kỷ luật và cắt hết mọi danh hiệu thi đua vì tội “quan hệ nam nữ bất chính”, ngang với tội “hủ hóa” của những kẻ ngoại tình (hồi ấy muốn được nạo thai phải làm đơn với đủ chữ ký của cả hai vợ chồng nộp cho tổ chức, vì vậy các cặp vụng trộm không thể thủ tiêu bằng chứng tội lỗi của mình); những đôi vợ chồng trẻ mà sinh đẻ lúc này cũng bị phê bình nhắc nhở. Có một câu chuyện được lưu truyền trong dân gian kể rằng một cô gái phạm tội quan hệ nam nữ bất chính đã tự kiểm điểm trước tập thể: “Em cứ tưởng cái ấy là của em thì em muốn cho ai dùng cũng được, chứ nếu biết nó là của tổ chức thì em đã cất kỹ chẳng dám cho sờ!”.

 Vào lúc này, “Tay cày-tay súng” và “Tay búa-tay súng” không chỉ là khẩu hiệu treo tường, mà đã thật sự biến thành hành động. Các nam nữ nông dân thuộc đội ngũ dân quân địa phương vừa dắt trâu vác cày vừa mang súng đạn ra đồng để “làm việc bằng hai”. Khi máy bay Mỹ đến ném bom, họ bỏ cày cầm súng ngắm bắn máy bay địch hoặc xung phong bắt phi công Mỹ nhảy dù xuống đất. Các nam nữ công nhân trong đội tự vệ cũng mang theo súng đạn đến xí nghiệp. Khi còi báo động vang lên, họ lập tức tắt máy và cầm súng chạy đến vị trí chiến đấu để nghênh tiếp máy bay địch. Vùng ven biển Liên khu 4 cũ đã có cả những khẩu đội pháo binh gồm toàn nữ dân quân giao tranh với tàu chiến Mỹ đậu ngoài khơi. Lại còn có những đội lão dân quân gồm toàn các cụ già sử dụng súng trường mà bắn rơi máy bay Mỹ, được nhạc sĩ Đỗ Nhuận ca ngợi trong bài “Hát mừng các cụ dân quân” rất lạc quan vui nhộn. Ở các vùng giải phóng tại miền Nam, Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng họp Đại hội và đề ra phong trào “Năm Xung phong”: xung phong tiêu diệt nhiều sinh lực địch, xung phong tòng quân và tham gia du kích, xung phong đi dân công và tham gia Thanh niên Xung phong phục vụ tiền tuyến, xung phong đấu tranh chính trị và chống bắt lính, xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội. Trước bấy nhiêu phong trào khí thế như vậy, Mỹ-Ngụy chỉ biết “đôn quân bắt lính” và tác chiến theo bài bản chính quy thì đối phó làm sao nổi!

                              

 Giở sách vở cũ ra để ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh đại học, tôi nhận thấy mình đã quên không ít kiến thức, nên buộc phải cố gắng rất nhiều. Trở lại học hành cùng sách vở, tôi cảm thấy luyến tiếc vô cùng quãng đời học sinh tươi đẹp đã lùi về quá khứ; nhưng những diễn biến của chiến tranh lại lôi cuốn tôi theo dõi tình hình thời sự hàng ngày qua báo chí và đài phát thanh. Nhờ đó, tôi luôn nắm được số máy bay địch bị bắn rơi trên miền Bắc, nhận biết được các loại máy bay chiến đấu Mỹ ( A4 “Chim ưng nhà trời”, F105 “Thần sấm”, F4 “Con ma”, F8 “Thập tự quân”…) và cả các loại bom Mỹ giội xuống miền Bắc (bom tấn, bom tạ, bom chờ nổ, bom bươm bướm, bom bi…). Các tin tức chiến sự cũng khiến tôi háo hức muốn đóng góp phần mình cho việc bảo vệ Tổ quốc. Tôi cảm thấy tự hào về Không quân Nhân dân Việt Nam khi được biết những chiếc máy bay MIG17 lần đầu tiên xuất trận vào ngày 3-4 đã bắn cháy 2 máy bay Mỹ trên bầu trời Thanh Hóa. Khâm phục người nữ dân quân nhỏ bé Ngô Thị Tuyển dưới mưa bom đã vác một lúc 2 hòm đạn nặng 98 kg tiếp tế cho bộ đội phòng không bảo vệ cầu Hàm Rồng bắc trên sông Mã, tôi cũng rất xúc động trước gương hy sinh quên mình cứu bạn của liệt sĩ thiếu niên Nguyễn Bá Ngọc cũng ở tỉnh Thanh thân yêu. Tôi còn biết cả các loại súng phòng không của ta, từ các cao xạ pháo 37 ly (tiểu cao), 57 ly (trung cao) và 85 ly (đại cao) cho đến các loại trọng liên 12,7 ly và 14,5 ly. Mỗi khi trông thấy một đội tự vệ vác súng hoặc gậy tập chạy vũ trang trên đường phố, tôi lại cảm thấy mình bơ vơ lạc lõng, và muốn gia nhập một tổ chức nào đó để có thể tham gia chiến đấu khi cần.

Nhưng mọi ý nghĩ của tôi vẫn tập trung vào cô láng giềng mà mình luôn thầm yêu trộm nhớ. Tôi mơ tưởng rằng nếu có một tổ chức tương tự như “Đội cận vệ Thanh niên” ở Liên Xô, để mình với Tâm cùng nhau tham gia chiến đấu như Ôlêch Kôsêvôi với Ulia Grômôva thì thật tuyệt (có lẽ những nam nữ anh hùng trong chiến tranh và cách mạng ở Liên Xô vẫn yêu nhau mà không phải báo cáo với tổ chức hay thực hiện “Ba Khoan”!). Cứ ở trong nhà học bài, đọc sách, tập đàn hay làm việc gì đó được một lúc, tôi lại phải ra sân, ra vườn hay ra cổng trông sang nhà Misô với hy vọng được nhìn thấy em. Nhưng rồi lại có một cô gái khác tên Xuân là con cô Sáu Liên - Trưởng Cửa hàng thuộc Công ty Thực phẩm - cũng xuất hiện trên gác tòa nhà ấy. Cùng trạc tuổi, tầm vóc và cũng để tóc dài tết đuôi sam như Tâm, Xuân cũng thường trao đổi ánh mắt với tôi, có lẽ do nghĩ rằng tôi để ý đến cô ấy. Thỉnh thoảng, hai cô con gái của thầy Trần Quốc Bảng cũng sang khu nhà tôi vì những lý do cá nhân. Cô em Trinh Thuần còn nhỏ, còn cô chị Trinh Thục cùng độ tuổi với Tâm và cũng rất xinh đẹp. Nhưng chẳng cô nào thu hút được tôi, vì trái tim tôi đã trao trọn vẹn cho Thanh Tâm rồi.

 Tôi đã hình dung ra công việc trong ngày của Tâm, và luôn tự hỏi “lúc này em đang làm gì?” để có thể dõi theo em đến đúng nơi cần tìm. Ôi, em đúng là một thiếu nữ “đẹp người-đẹp nết”; với em, tôi hiểu rõ câu “ ruộng sâu trâu nái, không bằng con gái đầu lòng” có ý nghĩa như thế nào. Giữa hai đứa chúng tôi dường như đã có một sợi dây đồng cảm vô hình, dù chưa thốt nên lời. Nhiều năm sau, tôi mới biết các nhà khoa học đã chứng minh được rằng giữa những người có tình cảm với nhau luôn tồn tại một “dòng điện sinh học”. Chính dòng điện ấy đã gắn bó hai chúng tôi với nhau, dù chưa hề trò chuyện cùng nhau. Tôi không dám thổ lộ tâm tình của mình với bất cứ ai, ngoại trừ một lần hé mở với Triệu rằng: “Mình bắt đầu đọc một cuốn tiểu thuyết mới!”. Trong tiếng Nga, chữ “roman” vừa có nghĩa là “tiểu thuyết” lại vừa là “mối tình”. Chắc chắn Triệu hiểu tôi đã bắt đầu một mối tình mới, nhưng không biết với ai.

 

Vừa say mê cô láng giềng, vừa ham thích âm nhạc và mê mải tập đàn, lại vừa phải làm nhiều việc linh tinh hàng ngày, nên việc ôn tập chuẩn bị thi đại học của tôi đạt hiệu quả rất thấp. Vì thế, tôi quyết định viết đơn gửi về trường cũ Ngô Quyền của mình để xin học dự thính. Có lẽ nhờ uy tín của ba mà đơn của tôi được trường chấp thuận nhanh chóng. Khi ấy một nửa số lớp của trường (trong đó có lớp 8 của em Hùng tôi) đã sơ tán về huyện Vĩnh Bảo; các lớp còn lại dời sang trường cấp I Minh Khai và dạy học vào ban đêm. Thế là từ 11 tháng 4 tôi lại được đến trường thân yêu với tư cách là thành viên mới của lớp 10C đặt trên gác trường Minh Khai và tối tối ngồi học dưới ánh sáng đèn. Các bạn ở lớp đón nhận tôi một cách thân thiện pha chút tò mò về một học sinh lớp trên đã tốt nghiệp mà nay lại vào học dự thính.

 Anh chàng bí thư chi đoàn lớp đã đến gặp tôi với tình cảm nồng nhiệt, bảo tôi mang nộp giấy chứng nhận cảm tình đoàn để tham gia sinh hoạt trong “tổ tu dưỡng” của lớp; rồi còn nhờ tôi chuẩn bị  kể  chuyện tình nguyện đi lao động ở công trường Muối Đồ Sơn cho cả lớp nghe để mọi người học tập tinh thần “Ba Sẵn Sàng”. Tôi hứa sẽ tìm nộp giấy chứng nhận để tham gia tổ tu dưỡng, nhưng từ chối việc kể chuyện mình đi công trường. Chắc cậu ta nghĩ rằng tôi “khiêm tốn” không muốn nói về mình; nhưng thật ra tôi chẳng biết kể chuyện gì cho họ nghe: tôi không thể đóng vai một “thanh niên tình nguyện” gương mẫu cho các bạn ấy học tập (như Chu Văn Mười đã làm với chúng tôi đúng dịp này năm ngoái); và cũng không thể nói với các bạn rằng mình đã bị lừa (vì Đoàn không muốn nghe một chuyện như vậy!).

   Trong buổi học tiếp theo, tôi lại được thầy Hàm dạy về “Nguồn gốc loài người” với câu pha trò được tôi nhớ mãi: “Miếng thịt ở đầu con mắt của mỗi người chứng tỏ rằng chỉ một tí nữa là chúng ta đã biến thành gà!”. Thầy trò chuyện rất vui vẻ với tôi và còn hỏi rằng nếu tôi còn giữ tập đáp án sinh vật năm ngoái thì cho thầy mượn lại. Các giáo viên dạy lớp 10 năm nay thay đổi khá nhiều so với năm ngoái, nhưng ngoài thầy Hàm ra, tôi vẫn còn được học lại một số thầy cũ nữa: thầy Vũ (vật lý), thầy Giao (địa), thầy Viện (sử), thầy Kiên (chính trị)…

 

 Qua cuộc gặp với bí thư chi đoàn, tôi nhận thấy sự tồn tại của tổ tu dưỡng chứng tỏ lớp này làm công tác phát triển Đoàn còn chặt chẽ hơn lớp tôi hồi trước. Về nhà, tôi tìm được đáp án sinh vật năm ngoái để gửi lại thầy Hàm, nhưng lục mãi mà không tìm được tờ giấy chứng nhận cảm tình đoàn (khi đi công trường tôi cũng không nhớ mang theo, nên giờ đây không biết nó nằm ở đâu!). Dù vậy, tôi vẫn được tham gia sinh hoạt trong tổ tu dưỡng, vì bí thư chi đoàn đã đọc thấy tên tôi trong danh sách cảm tình đoàn lưu trong hồ sơ của Đoàn trường. Xin học dự thính chỉ là để ôn tập chuẩn bị thi đại học, nay bỗng nhiên tôi lại được tham gia tu dưỡng vươn lên Đoàn, kể cũng hay! Tình hình chiến tranh khiến tôi lại mơ tưởng đến tổ chức đoàn để tham gia chiến đấu, mà quên đi vụ lừa thanh niên trí thức tình nguyện đi lao động. Tôi đã ghi lại trong cuốn nhật ký những sự việc liên quan đến tu dưỡng như thế này:

 

Ngày 15-4.

 Do “Hội diễn văn nghệ Mùa Xuân” khai mạc, cả lớp được nghỉ học để một số bạn đi tham gia biểu diễn các tiết mục của trường. Hầu hết các bạn trong tổ tu dưỡng có mặt trong danh sách các diễn viên, tiếc rằng tôi lại không có tên trong đó. Buổi sáng, tôi cưỡi xe đạp đi tiếp tế thực phẩm cho má ở An Hồng, lúc về bị ngược gió nên đạp rất mệt. Buổi tối thật vui vì có Trần Trọng Triệu dẫn Trần Bích Liên đến chơi.

Ngày 16-4.

 Làm 2 bài kiểm tra học kỳ đầu tiên, kết quả khá.

Ngày 17-4.

 Sáng sớm vác gậy đến lớp để tham gia cuộc “chạy vũ trang” chuẩn bị chiến đấu. Không hiểu do đâu mà mình lại khỏe thế, chạy không kém gì ai. Nếu cần đi chiến đấu thật, chắc mình cũng theo kịp mọi người. Buổi trưa má đèo Dũng từ nơi sơ tán về. Đến tối tôi lại đi học, cuối buổi ở lại sinh hoạt tổ tu dưỡng (gồm 7 người); tôi cảm thấy tiếc rằng trước đây mình đã không chú ý tu dưỡng để được đứng trong hàng ngũ Đoàn. Bây giờ thì muộn rồi, nhưng vẫn cần cố gắng.

Ngày 19-4.

 Tổ tu dưỡng cử người dạy bài hát “Khúc quân hành” của Phan Thế cho cả lớp. Chúng nó loay hoay mãi mà không hát đúng đươc câu cuối “Bầu trời mỗi ngày lại sáng chiếu trên khắp cả miền Nam”. Đối với tôi, câu ấy quá dễ (chỉ cần xướng âm đúng trường độ và cao độ của “chùm ba” trên ba chữ “khắp-cả-miền” là xong) nên mình cũng định ra tay cứu chúng, nhưng rồi lại dụt dè không dám xung phong.

Ngày 20-4.

 Cuối buổi học ở lại họp lớp, tổ tu dưỡng bị phê phán do thất bại của cuộc dạy hát tối hôm qua. Đáng lẽ tôi có thể cứu vãn được tình thế, nhưng mình lại làm ngơ, thật ngu xuẩn, phải mau mau gạt bỏ tính dụt dè vô lý ấy đi mới được.

 

Đúng là tôi rất dụt dè, nhưng cũng vì chúng nó không nhờ đến mình. Khi người ta không nhờ mà mình lại xung phong ra vẻ nổi trội hơn người thì tôi không thích. Đó cũng chính là cách “tu dưỡng” của tôi: sống chân thật theo bản chất mình có, không cần phô trương  với cấp trên để mình được chú ý.  

Chỉ sau vài tuần đi học lại, các kiến thức cũ của tôi bắt đầu được khôi phục. Mặc dù cũng có lần được thầy gọi lên bảng mà lại không thuộc bài, tôi đã làm tốt hầu hết các  bài kiểm tra học kỳ và cảm thấy tin tưởng về triển vọng học tập  của mình.

 

 Các bạn trong lớp mới của tôi đều là những người tốt trong một tập thể cũng rất tốt, nhưng họ không thay thế được các bạn cũ vốn đã có tình cảm sâu đậm đối với tôi. Từ sau khi rời công trường Muối trở về, Triệu thường xuyên đến nhà tôi chơi, và cũng nhiều lần tôi đến nhà Triệu để chép các bài hát đã sưu tầm của cậu ấy. Chúng tôi gặp nhau hàng ngày với tình cảm thắm thiết như anh em ruột thịt; có những bữa hai đứa cùng ăn cơm và ngủ lại nhà bạn như người trong gia đình. Bu Triệu nấu ăn rất ngon nên mỗi lần được ăn cơm ở nhà bạn ấy tôi thật sự thích thú. Dần dần, nhà tôi trở thành nơi tụ họp của các bạn cũ, trong đó có những bạn chưa hề đến nhà tôi trong suốt những năm cùng học. Trần Bích Liên là bạn nữ đầu tiên đến thăm tôi tại nhà khi cùng đi với Triệu. Suốt 6 năm cùng học, tôi thấy Liên không có gì nổi trội cả về nhan sắc, học vấn hay tài năng; nay được trò chuyện với bạn ấy, tôi nhận ra Liên hết sức hiền hậu và chân thật, có thể tâm sự đủ mọi điều như đối với một người tri kỷ. Liên vẫn mong được vào đại học Dược để nối nghiệp bố, nhưng năm ngoái đã bị loại vì thành phần gia đình tư sản, nên năm nay rất lo không hiểu có hy vọng gì không. Tôi cũng tìm đến nhà Đặng Minh Quang 3 lần mà không gặp được cậu ấy, và mãi về sau cả bọn chúng tôi cũng không biết anh chàng học sinh miền Nam này trôi nổi ở nơi nào.

 Chiều ngày Quốc tế Lao động 1-5, tôi vô cùng ngạc nhiên thấy Nguyễn Thế Đề lần đầu tiên đến thăm mình. Mặc dù đã có lúc tôi ngồi cạnh cậu ấy trong lớp học, nhưng chúng tôi không thân nhau lắm; không ngờ Đề lại đến để cùng bàn với tôi về hướng chọn trường chuẩn bị thi đại học. Buổi tối được nghỉ học, tôi cùng Triệu và Nguyệt đến rạp “1-5” mua vé vào xem bộ phim“Người chiến sĩ trẻ” do Điện ảnh Việt Nam mới sản xuất, kể về anh hùng đánh xe tăng Cù Chính Lan. Vào rạp thì thấy có thầy Hàm, thầy Vũ, thầy Giao và thầy Chi mà tôi gọi bằng chú cùng xem. Tan buổi chiếu, chúng tôi lại được trò chuyện rất thân mật với các thầy. Ba hôm sau, Triệu bất ngờ dẫn Nguyễn Đức Bút - anh bạn ở công trường Muối - đến thăm tôi ở nhà. Bút thân với Triệu nên tôi cũng coi cậu ấy như bạn mình. Bút cho biết rất nhiều công nhân công trường đã lên đường đi bộ đội, và chính mình cũng có thể được gọi nhập ngũ, nhưng cậu ấy vẫn mong được đi học trung cấp.

 Ba ngày sau nữa, vào một buổi sáng tôi bất ngờ gặp lại Phạm Đình Thịnh trên đường phố; thế là hai đứa kéo nhau đến bờ hồ Quần Ngựa bên Nhà hát Nhân dân tâm sự với nhau đủ mọi chuyện trên đời. Chiều hôm đó, Tôi cùng Thịnh với Phùng Văn Minh và cả Trần Bang Hiển (10A) kéo đến nhà Triệu. Hai chàng sinh viên cùng trường Đại học Giao thông Vận tải là Minh và Hiển thi nhau kể cho chúng tôi nghe về cuộc sống và học tập ở trường mình; Thịnh kể về trường Trung cấp Kiến trúc; còn tôi với Triệu thì cho các bạn biết cuộc sống và lao động ở công trường Muối Đồ Sơn là như thế nào. Chúng tôi rút ra kết luận rằng cuộc sống ở đâu cũng đầy khó khăn phức tạp, khác hẳn với thời học sinh đầy hạnh phúc mà đứa nào cũng cảm thấy luyến tiếc. Minh cho biết thêm rằng chính Phạm Thanh Lê mới gặp nhiều gian truân hơn cả bọn chúng tôi. Được nhận vào làm kế toán của Công ty Xuất Nhập khẩu nhưng bị coi là “con nhà tư sản nòi”, Lê buộc phải chấp nhận một cuộc “thử thách tinh thần cách mạng” do Đảng ủy và Giám đốc công ty quyết định: họ cử Lê đi công tác biệt phái tại vùng “tuyến lửa” Liên khu 4 cũ. Thế là cô gái 17 tuổi múa dẻo, hát hay, đàn giỏi ấy đeo ba lô lên tàu thẳng tiến đến Nghệ An, nơi suốt ngày đêm phải hứng chịu những trận mưa bom khủng khiếp của không lực Hoa Kỳ. Chẳng hiểu nhờ đâu mà Lê vẫn trụ vững được ở nơi khốc liệt này, mặc dù đã 3 lần suýt chết vì bom.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác