NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, chương 7, phần 2

( 05-06-2015 - 06:14 PM ) - Lượt xem: 393

Nhưng lúc này bên cạnh người mậu dịch viên ấy lại có thêm một cô gái nhỏ. Khi nghe tôi nói với mậu dịch viên:“ Chị cho mua một cân cà chua!”, cô gái nhỏ nhanh nhẹn nhặt những quả ngon đặt lên bàn cân rồi nhìn tôi một thoáng và miệng hơi mỉm cười. Khi bắt gặp ánh mắt với nụ cười ấy, tôi sửng sốt nhận ra cô gái này là ai và thầm nghĩ: “ Trời ơi, đây chính là em đấy sao!”.

2. Cô láng giềng

 

Chủ nhật 27-12 là sinh nhật lần thứ 17 của tôi. Hồi ấy ở miền Bắc hầu như không có phong tục tổ chức ăn mừng sinh nhật, và gia đình tôi cũng vậy. Nhưng ngày hôm đó tôi về nghỉ ở nhà và đã có những niềm vui bất ngờ.

Buổi sáng, cậu Bính từ Hà Nội đến thăm gia đình chúng tôi, rồi đạp xe đèo tôi đến cửa hàng bách hóa tổng hợp ở phố Hoàng Văn Thụ để chọn mua tặng tôi một đôi giày vải “bát kết cải tiến” không cao cổ. Tôi vừa mừng vừa ngạc nhiên không hiểu nhờ đâu mà cậu biết ngày sinh của mình để tặng món quà đột xuất như vậy. Trên đường về, cậu cháu tôi vui chuyện đến mức vô ý vượt qua đèn đỏ ở ngã tư, đành phải nộp 5 hào tiền phạt cho cảnh sát giao thông. Cậu Bính sống rất tình cảm và cư xử với mọi người hết sức tế nhị; riêng tôi vẫn được cậu dành cho một sự quan tâm đặc biệt. Đôi giày mới do cậu mua  tặng chính là món quà sinh nhật đầu tiên mà tôi được nhận trong đời.

 Buổi chiều, sau một giấc ngủ trưa say sưa trên chiếc giường thân thuộc kê ở gian tiền sảnh, tôi mang một chiếc làn cói sang quầy bán rau quả của Công ty Thực phẩm ở ngay trước nhà hàng Misô phía bên kia đường để mua hàng giúp má. Quầy này đã quá quen thuộc với gia đình tôi, kể cả cô mậu dịch viên đeo chiếc tạp dề màu xanh vẫn thường xuyên đứng bán hàng tại đó. Nhưng lúc này bên cạnh người mậu dịch viên ấy lại có thêm một cô gái nhỏ. Khi nghe tôi nói với mậu dịch viên:“ Chị cho mua một cân cà chua!”, cô gái nhỏ nhanh nhẹn nhặt những quả ngon đặt lên bàn cân rồi nhìn tôi một thoáng và miệng hơi mỉm cười. Khi bắt gặp ánh mắt với nụ cười ấy, tôi sửng sốt nhận ra cô gái này là ai và thầm nghĩ: “ Trời ơi, đây chính là em đấy sao!”. Không thốt nên lời, tôi lặng lẽ trả tiền cho mậu dịch viên để nhận số cà chua cho vào làn, rồi nhìn lại cô gái nhỏ một lần nữa, trong khi cô ấy quay đi chỗ khác ra vẻ không chú ý đến anh chàng khách hàng này. Xách làn về nhà, tôi mang theo trong đầu hình ảnh cô gái  ngẫu nhiên vừa được gặp lại và hồi tưởng về em.

Từ hồi còn học lớp 6 hay lớp 7, tôi thường thấy bên phía nhà hàng Misô một bé gái ăn mặc giản dị gọn gàng có vài nét xinh xắn với mái tóc tết đuôi sam trông như hai cái đuôi chuột, luôn bế bên hông một đứa em trai. Bé gái ấy tên Thanh Tâm, là con lớn  một gia đình cán bộ miền Nam tập kết ở trong Công ty Thực phẩm. Vì lần lượt có đến 3 đứa em trai, nên Tâm luôn xuất hiện trong tư thế bế em giúp mẹ. Khi được lên học cấp III, tôi hầu như không còn trông thấy Tâm nữa, và từ khi đi lao động ở công trường muối  thì hoàn toàn quên lãng cô bé này. Nay đột nhiên gặp lại Tâm, tôi sững sờ vì đó không còn là một bé gái, mà đã là một thiếu nữ tuyệt đẹp: mái tóc đen mượt hơi ngả sang màu nâu tết thành hai bím dầy khác hẳn hai cái đuôi chuột trước kia, khuôn mặt trái xoan trắng hồng với đôi môi tươi đỏ và cặp mắt nâu mở to hiền dịu được tô điểm bằng hai hàng mi cong, chiếc áo vet mỏng bằng kaki màu cà phê sữa mặc ngoài áo sơ mi màu xanh da trời ôm lấy thân hình nở nang tràn đầy sức sống. Nhìn người thiếu nữ ấy và liên tưởng tới bé Tâm xưa kia, tôi chợt hiểu một bông hoa bừng nở là như thế nào; rồi bỗng nghĩ  em giống hệt như “Cô láng giềng” trong bản tình ca bất hủ của Hoàng Quý:

 

                              Cô láng giềng ơi!

                              Không biết cô còn nhớ đến tôi?

                              Giây phút êm đềm ngày xưa kia khi còn ngây thơ…

                              Cô láng giềng ơi!

                              Tuy cách xa phương trời tôi không hề

                              Quên bóng ai bên bờ đường quê,

                              Đôi mắt đăm đăm chờ tôi về…

 

Giây phút gặp lại Tâm bên quầy hàng mậu dịch khiến tôi ngây ngất trong một niềm vui không gì sánh được. Từ đó, tên em Trần Thanh Tâm in sâu trong tâm trí tôi mãi mãi.

 

 Trở lại công trường Muối trong tâm trạng hết sức vui vẻ, tôi cảm thấy thân thiết với tất cả mọi người và quyết hoàn thành thật tốt công việc của mình trong ít ngày còn ở lại nơi đây. Khi đang chuyển tảng đất cho tôi, bỗng chị Khuyên hỏi: “ Chú Quốc có gì vui mà mặt mày tươi tỉnh thế?”. Tôi vội đáp: “ Có gì đâu chị, em vẫn bình thường mà!”. Nói vậy nhưng tôi hơi giật mình vì chị “vệ sinh viên” sắc sảo này quả thật có tài nhìn mặt mà đoán nội tâm. Đúng là tôi vẫn đang ngây ngất vui với hình ảnh cô láng giềng mới được gặp lại. Tôi thầm gọi tên Thanh Tâm và nghĩ về em với bao điều tốt đẹp: em xinh đẹp mà rất dịu dàng; em thật ngoan khi luôn giúp mẹ trông nom các em nhỏ; em thật tốt khi giúp đỡ cô mậu dịch viên bán hàng; tên em cũng đẹp như chính con người em… Không biết em còn nhớ đến tôi? Chắc là có nên mới dành cho tôi ánh mắt và nụ cười như vậy. Cùng với những ý nghĩ ấy, một niềm hạnh phúc nhè nhẹ dâng lên làm ấm lòng tôi. “Này, chú ý vào, đầu óc để đi đâu thế?”- chị Khuyên lại nhắc khi chuyển cho tôi một tảng đất mới. Tôi vội vã tập trung vào việc chuyển đất, tạm rời hình ảnh của Tâm nhưng vẫn giữ nguyên niềm vui trong lòng. Vào giờ nghỉ giải lao, hình ảnh em lại xuất hiện trong đầu khiến tôi cao hứng thầm hát bài “Đôi bờ”:

 

                              Đêm dài qua, dưới mưa rơi em mong chờ anh tới,

                              Cây cỏ hoa như nói nên lời-em hạnh phúc nhất đời.

                              Mình em riêng thắm thiết yêu anh với niềm tin thiết tha,

                              Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa…

                       

 Những ngày cuối của mình ở công trường diễn ra thật êm đẹp, khiến tôi cảm thấy lưu luyến với con người và cảnh vật nơi đây. Kết thúc buổi làm việc của ngày cuối năm, tôi ăn bữa cơm tập thể cuối cùng với anh Duyên và các đồng đội để chia tay với họ. Trở về lán thu dọn giường chiếu và sắp xếp đồ đạc, tôi đeo ba lô và đội mũ, chào tạm biệt mọi người rồi đi rủ Triệu và Tài cùng về thành phố. Thế là ba chúng tôi lại cùng ngồi trên một chuyến xe nhưng lần này với mục đích khác nhau: Triệu và Tài về chỉ để nghỉ tết dương lịch; còn tôi thì về nhà hẳn, nhưng sẽ có dịp quay lại công trường thăm các bạn ấy, vì còn tháng lương cuối cùng với phiếu chuyển lương thực và thực phẩm của mình ở đó chưa lĩnh được.

 

 Khi cùng hai người bạn đeo kính cận đi trên chuyến xe này, tôi chưa thể biết được rằng  vào tháng 4 năm mới Triệu cũng được thôi việc về nhà, còn Tài thì đến tháng 7 cũng từ biệt công trường trở về để đi học. Các bạn học khác cùng đi với tôi trong đợt lao động tình nguyện ấy cũng sẽ lần lượt từ biệt công trường để bước sang một giai đoạn khác của đời mình. Chỉ riêng có anh em Đoàn Điệp và Đoàn Điệt là gắn bó lâu bền nhất với vận mệnh của công trường muối Đồ Sơn, có lẽ cho đến khi nào được chính thức ghi vào lý lịch rằng mình thuộc về thành phần giai cấp công nhân, và có thể còn ước vọng thầm kín là được trở thành đảng viên cộng sản.  Các bạn ở nông trường Vinh Quang cũng sẽ lần lượt rời khỏi nơi ấy do những hoàn cảnh khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Chỉ riêng Đỗ Bắc Giang còn làm việc ở đó hết năm này sang năm khác, có lẽ cùng theo một mục đích như hai anh em họ Đoàn. Nhiều năm sau, những người con gia đình tư sản ấy (cũng như những người con các gia đình địa chủ) sẽ hiểu rằng: mặc dù đã hết sức tu dưỡng rèn luyện bản thân từ đội viên lên đoàn viên rồi lao động thực tế dài ngày ở công trường và nông trường, nhưng mình vẫn không được lột xác hoàn toàn để trở thành con người thuộc giai cấp công nhân hay bần cố nông. Trong bản khai lý lịch của mỗi  người, ở mục “thành phần bản thân” bạn có thể khai mình là học sinh rồi trở thành công nhân, nhưng ở mục “thành phần gia đình” thì vẫn phải khai là tư sản (mặc dù cha mẹ mình đã được cải tạo) hoặc địa chủ (nếu cha mẹ không được sửa sai sau cải cách ruộng đất), chưa kể một số lý lịch còn yêu cầu khai đến cả ông bà nội ngoại. Do đó, những người nắm quyền lực trong tay sẽ sử dụng bản lý lịch này theo cách riêng của họ. Nếu có thiện ý với bạn, họ sẽ chỉ quan tâm đến “thành phần bản thân”, còn nếu không muốn chấp nhận, họ sẽ sử dụng “thành phần gia đình” để loại bạn. Ba tôi là một cán bộ cách mạng từ thời tiền khởi nghĩa, đã và đang đảm nhiệm nhiều trọng trách ở trung ương và thành phố, nhưng trong các kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố Hải Phòng ông luôn bị gạt ra khỏi danh sách đề cử vào Thành ủy vì “thành phần gia đình địa chủ”, mặc dù ông đã giải thích rõ trong lý lịch rằng mình chỉ là “con hoang” và đã “thoát ly gia đình” từ rất sớm. Khi ông có dự định tổ chức cho giáo viên học khiêu vũ, những kẻ ghen ghét ông đã căn cứ vào đó để tuyên truyền là ông còn vương vấn với thói ăn chơi tư sản hoặc “tạch-tạch-sè”, lại còn bịa đặt rằng vợ ông tức má tôi vốn là “gái nhảy”!

 Chuyến đi lao động tình nguyện ở công trường và nông trường đã trở thành kỷ niệm vô cùng sâu sắc trong đời của mỗi học sinh từng tham gia trong đó. Nhiều năm sau, khi những người tình nguyện trẻ tuổi ngày ấy đã trở thành những ông bà trung niên đảm đương những cương vị khác nhau trong xã hội, họ vẫn không giải thích được rằng do đâu mà có chuyến đi đặc biệt này. Đó là chủ trương của Đảng và nhà nước Việt Nam, hay chỉ là việc Đảng ta hưởng ứng phong trào đưa thanh niên trí thức đi lao động cải tạo do Bác Mao phát động từ năm 1963? Mọi người nghiêng theo giả thuyết rằng Đảng ta phải hưởng ứng một phong trào do Đảng Tàu phát động. Giả thuyết này có vẻ rất hợp lý, nhất là khi phong trào này được tiến hành mạnh nhất ở Hải Phòng, nơi có rất đông Hoa kiều sinh sống. Nhưng nó vẫn không lý giải được tại sao học sinh trường Kiều Trung (vốn toàn là Hoa kiều) lại chẳng có ai xung phong đi lao động. Dù sao đi nữa, mọi người đều thống nhất với nhau là mình đã bị lừa và cũng nhận rõ những ai đã lừa mình trong vụ này.

 

 Năm mới 1965 đến cùng với một tin chiến thắng ở miền Nam: Trong trận Bình Giã diễn ra tại tỉnh Phước Tuy cách Sài Gòn 67 km từ ngày 28 đến 31-12-1964, hai trung đoàn Quân Giải Phóng phối hợp với dân quân du kích đã tấn công tiêu diệt 2000 binh lính thuộc 4 tiểu đoàn quân lực VNCH cùng 28 cố vấn Mỹ, phá hủy 37 xe quân sự, bắn rơi 24 máy bay địch. Tin về chiến thắng Bình Giã được truyền bá rất nhiều trên báo chí và đài phát thanh, lại có cả một bộ phim thời sự về chiến dịch này được công chiếu rộng rãi tại các rạp, khiến cho không khí mừng đón năm mới Ất Tỵ tràn ngập niềm vui chiến thắng.

 Gia đình tôi đón tết nguyên đán năm ấy cũng rất vui. Sau khi tôi xuống công trường nhận tháng lương cuối cùng và hoàn tất thủ tục cắt chuyển phiếu lương thực và thực phẩm về nhà, gia đình có thêm các tiêu chuẩn mua hàng tết. Mọi người đều mừng về việc tôi được trở về từ công trường, mà không ai trách tôi yếu hèn khi phải xin thôi việc. Má còn khen tôi giỏi vì đã chịu đựng nổi công việc nặng nề ở công trường, lại còn có lương mang về đóng góp với gia đình. Chính số lương này góp cùng số tiền tiết kiệm sẵn có đã đủ để má mua thêm cho gia đình một chiếc xe đạp cũ nhưng vẫn còn tốt nhãn hiệu “Peugeot” (khi ấy vẫn có thể mua được “xe ngoài” tuy cũ nhưng với giá cao hơn nhiều so với “xe mậu dịch” bán theo phiếu cung cấp cho cán bộ đạt tiêu chuẩn mua). Mặc bộ sơ mi trắng, áo sợi đen với quần kaki màu vàng nhạt mà lại được đi xe đạp Peugeot, tôi cảm thấy hãnh diện về sự sang trọng của mình.

 Trước khi trở lại nơi sơ tán, má mua được một con gà trống ở mậu dịch theo tiêu chuẩn hàng tết của gia đình, mang về nhốt trong lồng và dặn anh em tôi ở nhà nhớ cho nó ăn. Nhưng sắp đến ngày tết con gà bỗng bỏ ăn, ỉa cứt trắng và nằm ủ rũ. Ba bảo nó đã bị “rù”, phải giết thịt ngay kẻo không nó sẽ chết thì mình hết được ăn. Vì không biết cách làm thịt gà, tôi muốn chờ má về giải quyết; nhưng ba bảo tôi cố gắng làm, không nên chờ đợi nữa. Nhớ lại cách làm của má, tôi liền nhóm lò mùn cưa để nấu một ấm nước sôi, rồi gọi em Hùng vào phụ giúp. Hùng cầm chắc căp chân và đôi cánh, tôi cầm lấy đầu gà, nhổ lông cổ nó rồi dùng dao cắt tiết. Nhưng vì cắt không đúng chỗ nên tiết chảy ra rất ít, mặc dù tôi đã cắt hết một vòng da xung quanh cổ nó. Con gà bỗng quẫy đạp dữ dội và thoát khỏi tay hai anh em tôi chạy vụt ra vườn kêu quang quác. Tôi với Hùng phải truy đuổi và bao vây rất lâu, dồn nó vào trong hầm trú ẩn rồi mới bắt lại được. Vừa lúc đó má đèo em Dũng từ nơi sơ tán về, thế là việc giết gà lại vào tay má một cách tốt đẹp. Cùng với con gà đó, “Bìa mua hàng Tết” của gia đình theo tiêu chuẩn cán bộ loại C còn có nhiều ô cho phép chúng tôi được mua thêm 1 kg thịt lợn; 0,5 kg đậu xanh; 2 bó lá dong; hai hộp “Mứt Tết” (mỗi hộp 250 gram bao gồm mứt lạc, mứt bí, mứt dừa, mứt cà rốt, mứt sen và một quả hồng khô); mấy gói chè “Ba Đình”“Hồng Đào”; hai bao thuốc lá “Điện Biên”“Tam Đảo”; một miếng bóng bì; mấy lạng miến cùng vài gói nhỏ mì chính và hạt tiêu; một phong pháo gồm 100 quả pháo tép kết thành tràng; tất cả đều do mậu dịch quốc doanh chế biến và bán theo giá cung cấp. Ngoài ra, “ Sổ đăng ký mua lương thực” của gia đình còn được cấp thêm 2 kg gạo nếp dùng cho dịp Tết.

 Sáng 30 tết, má gói bánh chưng rồi đặt nồi nấu. Buổi chiều, má lại tranh thủ ra chợ hoa rồi hoan hỉ mang về mấy chậu hoa cực rẻ, theo giá bán đổ bán tháo để người bán vớt vát được đồng nào hay đồng ấy trước lúc tan chợ. Đêm giao thừa cả gia đình tôi lại đi dạo vườn hoa, rồi về nhà đốt pháo và nghe thơ chúc tết của Bác Hồ qua radio:

 

                              Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới,

                              Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,

                              Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,

                              Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,

                              Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,

                              Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,

                              Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi!

                              Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công!

 

Những ngày tết này trùng với dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Đảng, nên mọi người tha hồ được thưởng thức những chương trình văn nghệ ca ngợi Đảng-Bác, mà nổi bật là bài thơ mới sáng tác của Chế Lan Viên Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”. Kể lại những thời khắc vẻ vang chói sáng trong trường kỳ lịch sử dân tộc,“khi Nguyễn Trãi làm thơ và  đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn, khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc, Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…”, tác giả bảo rằng đó chưa phải là những ngày đẹp nhất, để khẳng định “những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả”, bởi vì:

 

                              Buổi đất nước của Hùng Vương có Đảng,

                              Mỗi người dân đều được thấy Bác Hồ.

 

Bài thơ có giọng rất hào sảng với những hình ảnh vô cùng hoành tráng, khiến tôi cảm thấy Chế Lan Viên đã đạt đến tuyệt đỉnh của nghệ thuật ca ngợi Đảng-Bác, có thể sánh ngang với “đỉnh cao muôn trượng” của Tố Hữu.

Tôi cũng có nhiều kỷ niệm êm đẹp trong đời, nhưng không thể biết ngày nào là đẹp nhất, mà chỉ biết rằng được sống giữa tình thương yêu của cha mẹ và những người xung quanh là hạnh phúc vô cùng. Đã từng mơ tưởng về một cô bạn học xinh đẹp dễ thương hồi học cấp II, nay tôi thực sự rung động cả tâm hồn đối với cô láng giềng vừa được gặp lại. Gia đình em sống trên gác tòa nhà Misô của Công ty Thực phẩm đối diện với nhà tôi. Trên ấy là cả một khu tập thể gồm nhiều phòng dành cho các gia đình cán bộ của công ty; nhưng tôi chỉ chú ý đến 2 căn phòng luôn mở rộng cửa nhìn ra phố Hồ Xuân Hương, một căn thuộc gia đình cô Ghinh, còn căn kế bên là của gia đình cô Nhu chính là má của Tâm. Nhà Misô còn có một cái sân xi măng với chiếc cổng phụ mở ra phố Hồ Xuân Hương xế cổng nhà tôi và một bể nước lớn trong sân có vòi vặn khóa cho nước chảy ra ngoài để mọi người trong khu tập thể cùng sử dụng. Đó cũng là nơi Tâm thường ra vào hoặc ngồi giặt quần áo hay rửa bát rửa rau giúp má. Có những đêm mưa phùn gió bấc, thấy Tâm vẫn đội nón lá ngồi giặt quần áo bên bể nước dưới ánh đèn chiếu qua màn mưa, tôi cảm thấy trong lòng dào dạt dâng lên tình yêu thương em vô hạn. Một hôm em đứng bên song cửa trên gác chải mái tóc  vừa dày vừa dài lại rất mượt mà, rồi cẩn thận tết thành hai chiếc đuôi sam. Tôi đứng bên cổng nhà nhìn em không chớp mắt, bỗng nhiên em quay sang nhìn tôi với đôi môi mỉm cười như hôm nào. Ánh mắt chúng tôi giao nhau trong một thoáng, mà như ẩn chứa đầy tình cảm từ cả hai phía. Có lẽ đó là một trong những ngày đẹp nhất của tôi.

 Sau tết ít ngày, má tôi được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam, thế là ba và má đã trở thành hai đồng chí của nhau trong gia đình chúng tôi. Cùng thời gian này, một bài hát mới mang tên “Hành khúc Giải phóng” của Lưu Nguyễn và Long Hưng từ miền Nam vừa gửi ra đã vang lên qua giọng hát Trần Thụ và dàn đồng ca Đài tiếng nói Việt Nam. Tôi ưa thích ngay âm điệu hùng tráng mà thiết tha cùng ca từ rất gợi cảm của nó:

 

                              Quê ta miền Nam sôi sục căm thù

                              Đau thương giục lòng ta máu đòi nợ máu.

                              Công nông mau vùng lên, trí thức mau cùng tiến

                              Biển Đông sấm dậy thủy triều dâng cao

                              Toàn nhân dân trỗi dậy như thủy triều…

 

 Đúng như ca khúc này đã miêu tả, phong trào cách mạng miền Nam khi ấy đã dâng lên như thủy triều ở khắp nông thôn thành thị, khiến cho chính quyền Sài Gòn lâm vào cơn hấp hối nguy kịch, nên Hoa Kỳ buộc phải tiến hành các chiến dịch giội bom miền Bắc, đồng thời mang quân sang trực tiếp tham chiến ở miền Nam để cứu vãn tình thế cho VNCH.

Ngày 7-2, quân giải phóng tấn công một căn cứ quân sự  ở Pleiku, tiêu diệt 8 cố vấn Mỹ, làm bị thương hơn 100 quân Mỹ-ngụy và phá hủy 10 máy bay. Để trả đũa cuộc tấn công ấy, không lực Hoa Kỳ đã tiến hành chiến dịch “Mũi tên rực cháy” (Flaming Dart): 83 lần chiếc máy bay Mỹ xuất phát từ các tàu sân bay ở vịnh Bắc Bộ đã oanh tạc dữ dội thị trấn Vĩnh Linh ở phía Bắc khu phi quân sự và thị xã Đồng Hới thuộc tỉnh Quảng Bình. Hỏa lực phòng không của quân đội nhân dân Việt Nam đã bắn rơi 1 máy bay và bắn bị thương 8 chiếc khác của địch. Ngày 11-2, sau khi quân giải phóng tiêu diệt 23 sĩ quan Mỹ và làm bị thương 21 tên khác trong một doanh trại ở Quy Nhơn, gần 100 lần chiếc máy bay Mỹ lại oanh tạc thị xã Đồng Hới cùng các hải cảng và sân bay ở đây. Bộ đội phòng không cùng dân quân địa phương đã giáng trả quyết liệt, bắn rơi 3 máy bay Mỹ, bắt sống một phi công là thiếu tá Robert H. Schumaker và phát hiện xác chết một phi công nhảy dù xuống biển là trung úy Edward Andrew Dickson. Thế là đám mây đen chiến tranh đã lại phóng sấm sét xuống lãnh thổ miền Bắc, nhưng vẫn còn cách xa Hà Nội và Hải Phòng.

 Trong tháng 2-1965, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam liên tục biến động. Mưu toan đảo chính  của đại tá Phạm Ngọc Thảo bị Hội đồng Quân lực gồm các tướng trẻ ngăn chặn kịp thời; nhưng chính Hội đồng này lại ép buộc tướng Nguyễn Khánh phải từ bỏ mọi chức vụ để đi lưu vong nước ngoài dưới danh nghĩa “Đại sứ lưu động”, trao lại quyền lực cho một chính phủ dân sự. Rồi chỉ 3 tháng sau, Hội đồng này sẽ xóa bỏ luôn chính phủ dân sự đó để đưa trung tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm Quốc trưởng và thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng chính phủ.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác