NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU, Chương 7, phần 1

( 04-05-2015 - 06:56 PM ) - Lượt xem: 622

so sánh với những đoàn viên komsomol rời bỏ công trường Baiarơca bị coi là phản bội lý tưởng và bị đốt thẻ đoàn, hay những đoàn viên trốn khỏi công trường ở vùng Viễn Đông trong tiểu thuyết “Dũng cảm” bị truy đuổi như những kẻ đào ngũ, tôi nhận ra việc kết thúc đợt xung phong tình nguyện đi lao động của mình thật dễ dàng, khác hẳn với những trường hợp ở Liên Xô.

CHƯƠNG BẢY- TIẾNG CÒI BÁO ĐỘNG

 

1. Người tình nguyện trở về

 

 Ngay sau sự kiện ngày 5-8-1964, trên sân khấu ngoài trời và trên làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam đã vang lên những ca khúc “Giặc đến nhà ta đánh” của Đỗ Nhuận, “Phải đánh lũ giặc Mỹ” của Trọng Loan, “Không cho chúng nó thoát” của Hoàng Vân, “Sẵn sàng, bắn!” của Tô Hải và “Đánh đích đáng” của nhạc sĩ  mới xuất hiện Ngô Sỹ Hiển:

 

                    Đánh đích đáng, đánh đích đáng!

                    Bọn Mỹ xâm lược phải cho chúng những đòn đau.

                    Đánh đích đáng , đánh đích đáng,

                    Bọn đế quốc Mỹ, phải đánh cho chúng hết ngông cuồng.

                    Vùng biển của ta đâu có phải ao nhà của chúng,

                    Trời xanh của ta không cho chúng kéo đến hành hung….

 

 Những giai điệu và ca từ như vậy đã khích động tinh thần chiến đấu chống Mỹ của toàn quân và toàn dân chẳng kém gì một lời tuyên chiến. Nghe những câu hát sau đây của Hoàng Vân, ai cũng cảm thấy sôi máu chiến đấu để tiêu diệt quân thù:

 

                     Ta giăng lưới lửa trên trời, ta tung lưới thép ngoài khơi

                     Chắc tay súng, bộ đội và dân quân sẵn sàng:

                     Không cho chúng nó thoát! Không cho chúng nó thoát!

                     Súng vươn nòng sấm sét đang chờ chúng nó tới.

                     Không cho chúng nó thoát! Không cho chúng nó thoát!

                     Chúng bay vào sẽ không có đường ra.

 

 Để động viên toàn dân sẵn sàng chiến đấu, khẩu hiệu “Mỗi người làm việc bằng hai” được Đảng bổ sung bằng các khẩu hiệu “Tay cày-tay súng” (dành cho nông dân) và “Tay búa-tay súng” (cho công nhân). Tại thủ đô, Thành Đoàn TNLĐ Hà Nội phát động phong trào thanh niên “Ba sẵn sàng” chống Mỹ cứu nước: sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng chiến đấu-hy sinh; sẵn sàng đi đến bất cứ nơi đâu Tổ Quốc cần. Được Trung ương Đoàn mở rộng để áp dụng trên toàn miền Bắc, phong trào này có hiệu lực còn mạnh hơn một lệnh tổng động viên. Các khẩu hiệu của Đảng cùng phong trào của Đoàn lại được tiếp thêm nhiều cảm xúc bằng ca khúc “Sẵn sàng chiến đấu” của Lưu Hữu Phước:

 

                              Chuẩn bị sẵn sàng đi chiến đấu

                              Cánh tay liềm búa tay bút ta thi đua

                              Chị vững tay liềm đồng lúa,

                              Anh vững tay búa công trường

                              Sẵn sàng chờ nghe tiếng Đảng gọi lên đường…

 

 Sau khi phong trào “Ba sẵn sàng” được phát động, lực lượng “Thanh niên xung phong” được nhanh chóng thành lập, có trang phục và phiên chế thành các đơn vị như quân đội nhưng được trang bị các dụng cụ lao động để phục vụ các hoạt động quân sự.

Ở công trường Muối Đồ Sơn, công nhân tiến hành lao động xã hội chủ nghĩa để đào những hố cá nhân sâu trên 1m và rộng đủ cho người chui lọt vào ngồi trong đó (thường được gọi là hầm “tăng xê”) rải rác bên các lán, bên những nơi tập trung công cộng và dọc hai bên con đường chính dẫn ra cổng công trường bộ. Một số hào giao thông cũng được đào ở những nơi cần thiết. Các hố và hào như thế cũng đươc nhân dân địa phương đào dọc hai bên con đường ô tô Hải Phòng- Đồ Sơn để bất cứ ai trên đường đều có thể nhảy ngay xuống đó trú ẩn mỗi khi có máy bay địch đến ném bom. Có lẽ các tỉnh thành khác ở miền Bắc cũng đều đào hầm hào như vậy.

Chủ nhật về nhà, tôi giúp ba má cắt giấy thành những hình hoa văn đẹp rồi bôi hồ dán chặt chúng vào tất cả các ô cửa kính, để  phòng khi bom nổ làm vỡ kính thì các mảnh thủy tinh không văng ra gây tác hại. Đó chính là kinh nghiệm có từ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, được chính quyền phổ biến cho toàn dân áp dụng. Chiếc hầm bên cạnh vườn nhà tôi nay được quét dọn sạch sẽ, trở thành nơi trú ẩn rất tốt cho tất cả mọi người trong nhà. Hầm này được xây dựng từ thời chiến tranh thế giới để chủ nhà người Pháp ẩn nấp tránh bom Mỹ giội xuống quân Nhật ở Hải Phòng, vẫn được giữ nguyên trong chiến tranh Việt-Pháp và những năm hòa bình vừa qua, nay lại được dùng để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh mới chống Mỹ. Trưa hôm ấy, một cuộc diễn tập báo động phòng không được tiến hành bằng một hồi còi dài âm vang phát ra từ đỉnh tháp nước ở trung tâm thành phố. Ba má và mấy anh em tôi chạy ra hầm cùng lúc với những người từ trên gác chạy xuống: bác Năng cùng chị Hương con gái bác, bác Chương cùng chị Nhĩ con nuôi bác và mấy chú ở phòng tập thể. Căn hầm còn thừa chỗ cho chừng ấy con người trú ẩn. Không ai tỏ ra lo lắng về cuộc chiến tranh sắp tới, ngược lại mọi người trò chuyện với nhau rất vui vẻ. Khi còi báo yên cất lên, tất cả ra khỏi hầm và chúng tôi nhìn thấy hai chiếc máy bay màu trắng bạc với sải cánh hình con én bay qua bầu trời trong xanh kéo theo hai làn khói trắng rất dài. Đó là hai chiếc máy bay phản lực chiến đấu MIG17 của Không quân Nhân dân Việt Nam lần đầu tiên được trông thấy trên bầu trời miền Bắc.

 Vào năm học mới, các trường cấp I, mẫu giáo và cả nhà trẻ nhận được lệnh sơ tán khỏi khu vực nội thành, còn các trường cấp II và cấp III được phân tán vào các trường cấp I đã bỏ trống. Trường cấp I Nguyễn Tri Phương sơ tán về xã An Hồng (thuộc huyện An Dương ở ngoại thành Hải Phòng) cách trung tâm thành phố về phía Tây khoảng 10 km, nên má tôi phải đưa em Dũng cùng đi theo trường. Tại đây, má được sắp xếp ở trọ trong nhà dân địa phương như mọi giáo viên khác và giảng dạy trong các lớp học đặt tạm ở một số nơi công cộng. Cứ đến cuối buổi chiều thứ bảy hàng tuần má đạp xe đèo em về nhà nghỉ ngơi, đến sáng thứ hai đầu tuần lại đạp xe  về nơi sơ tán.

 Trong thời gian này tại Sài Gòn, các tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát dự định tiến hành đảo chính nhưng bị Nguyễn Khánh trấn áp. Để giữ vững chính quyền, tướng Nguyễn Khánh dựa vào Hội đồng Quân nhân Cách mạng do mình làm chủ tịch để thâu tóm mọi chức vụ tối cao của quân đội và chính phủ, trở thành  Quốc trưởng kiêm Thủ tướng kiêm Tổng tư lệnh và Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH.

 

Đám mây đen chiến tranh dường như đã phủ kín bầu trời, nhưng rồi đợi mãi mà vẫn chưa thấy sấm sét bùng nổ tiếp. Cỏ lại mọc quanh những miệng hầm tăng xê, một số hầm còn trở thành nơi sinh sống của ếch nhái và mây đen có vẻ tan dần để nhịp sống trở lại bình thường. Số lần phát các ca khúc chiến đấu trên đài phát thanh giảm dần, nhường chỗ cho các bài hát ca ngợi công cuộc xây dựng CNXH tăng lên, mà nổi bật là“Quảng Bình quê ta ơi”- một sáng tác mới của Hoàng Vân:

 

                              Nếu ai hỏi vì sao quê hương chúng ta nhiều ngói mới?

                              Rằng có đắng cay nên chừ mới có ngọt bùi!

                              Nếu ai hỏi vì sao quê hương chúng ta đồng lúa tốt?

                              Có nhớ những ngày cơ cực, tối tăm ngày xưa?

                              Quảng Bình (khoan khoan hò khoan)

                              Bao mến thương (khoan khoan hò khoan)

                              Đã mười năm rồi, quê ta bao đổi thay rồi!...

 

 Mọi việc ở công trường Muối vẫn  diễn ra đều đặn hàng ngày, nhưng đối với tôi đó là những ngày tháng nặng nề và buồn bã. Trong khi vác đất đắp bờ kênh hay dùng vồ đập đất để bảo quản bờ ruộng muối, tôi luôn suy nghĩ về những con người và sự việc diễn ra hàng ngày xung quanh mình và cảm thấy sợ hãi trước cuộc sống thực tế vô cùng phức tạp, khác hẳn với những gì mình đã hình dung khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Trước kia tôi cứ tưởng mọi sự xấu xa xảo trá của con người chỉ có trong chế độ cũ “người bóc lột người”, còn dưới chế độ mới thì “người với người là bạn” và ai cũng tu dưỡng và rèn luyện để trở thành “con người mới xã hội chủ nghĩa” theo lý tưởng của Đảng; nhưng thực tế giờ đây lại không phải vậy. Trước kia tôi cứ tưởng chỉ có chế độ cũ của thực dân phong kiến mới đầy rẫy áp bức bất công, còn chế độ mới của ta thì con người luôn được đối xử thân ái công bằng; nhưng thực tế trước mắt lại khác. Tôi cảm thấy thật là bất công khi những người có tài thực sự lại bị cấm cửa vào đại học chỉ vì lý lịch gia đình, còn những kẻ chỉ giỏi khua môi múa mép lại nhờ vào lý lịch mà thẳng đường thăng tiến danh vọng. Cuộc đời chỉ còn là một mớ hỗn độn đầy rẫy giả tạo và lừa bịp, ai khôn thì tránh được sự lừa bịp đó, còn những ai ngu ngốc thì cứ việc nướng đời mình theo ý muốn của kẻ khác. Mang nặng tâm tư của một kẻ bị lừa, tôi không còn thấy một ý nghĩa tốt đẹp nào trong việc lao động trên công trường, nên không thể động viên mình phấn đấu vươn lên bằng những hình ảnh và lời ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng được nữa. Vì vậy, tôi làm việc không hăng hái, khi quá mệt hoặc đau ốm thì xin nghỉ. Tôi còn lo lắng rằng: nếu kéo dài cuộc sống ở đây thì mình sẽ biến thành một kẻ chỉ biết ăn no vác nặng, mọi kiến thức văn hóa sẽ bị quên hết, khiến cho ước muốn vào đại học không thể thực hiện được. Bởi thế, tôi thầm mong sẽ được rời khỏi nơi đây trở về nhà càng sớm càng tốt.

 

Trung tuần tháng 10, tại Liên Xô đã diễn ra cuộc chính biến lật đổ N.S. Khơrutsôp để đưa Lêonit Ilich Brêgiơnep lên thay làm Tổng bí thư Đảng và A.N. Côxưghin làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ngay sau đó báo chí và đài phát thanh lại đưa tin Trung Quốc vừa thử thành công một quả bom nguyên tử, đưa nước này vào danh sách 5 cường quốc có vũ khí hạt nhân cùng với Mỹ, Liên Xô, Anh và Pháp. Những sự kiện đó được dư luận miền Bắc rất quan tâm, nhưng vẫn chưa chấn động bằng việc mới diễn ra ngay tại miền Nam Việt Nam: một chiến sĩ biệt động của ta tại Sài Gòn tên là Nguyễn Văn Trôi (sau được gọi chính xác là Nguyễn Văn Trỗi), người thất bại trong kế hoạch bí mật đặt bom ở cầu Công Lý dự định ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong chuyến công du của ông này ở miền Nam hồi tháng 5, đã bị địch bắt và thi hành án tử hình vào sáng ngày 15-10. Trước lúc bị trói vào cọc hành hình trong khám Chí Hòa, Nguyễn Văn Trỗi từ chối việc rửa tội của một linh mục, không chịu  bịt mắt để hiên ngang nhìn thẳng vào cái chết một cách phi thường. Những phút cuối cùng của anh đã được miêu tả chi tiết trong thơ Tố Hữu:

 

                              Anh thét lớn: “Hãy nhớ lấy lời tôi:

                              Đả đảo đế quốc Mỹ!

                              Đả đảo Nguyễn Khánh!

                              Hồ Chí Minh muôn năm!

                              Hồ Chí Minh muôn năm!

                              Hồ Chí Minh muôn năm!”

                              Phút giây thiêng, Anh gọi Bác ba lần!

                              Súng đã nổ. Mười viên đạn Mỹ

                              Anh gục xuống. Không. Anh thẳng dậy

                              Anh hãy còn hô: “Việt Nam muôn năm!”

                              Máu tim anh nhuộm đỏ đất anh nằm!

 

Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi nhanh chóng đi vào các ca khúc “Lời anh vọng mãi ngàn năm” của Vũ Thanh, “Toàn dân nhớ lời anh” của Đỗ Nhuận... Nghe tin tức, đọc thơ và nghe các bài hát ngợi ca anh Trỗi, tôi vô cùng xúc động và cảm phục anh. Nguyễn Văn Trỗi đã tu dưỡng và giác ngộ đến mức hiến dâng cả cuộc đời mình cho lý tưởng của Đảng-Bác, đúng như lời tuyên thệ của mỗi thanh niên khi được kết nạp vào Đoàn (ở miền Nam, Đoàn mang tên “Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng”). Kẻ thù không buộc được anh rửa tội theo tục lệ của đạo Thiên Chúa, vì trong trái tim anh đã thấm nhuần lý tưởng mà Đảng-Bác đã trao cho. Đối với anh, hình búa-liềm trên cờ đỏ mới là thiêng liêng chứ không phải chiếc thánh giá của vị linh mục. Anh không cầu Chúa mà 3 lần hô to tên Bác trước lúc tiếp nhận cái chết như một người tử vì đạo. Do đó, sau khi hy sinh, anh đã được thừa nhận là đảng viên cộng sản (ở miền Nam, Đảng ta mang tên “Đảng Nhân dân Cách mạng”) và được Bác Hồ ban khen:

     

                         Vì Tổ quốc, vì nhân zân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh zũng đấu

                         tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt

                         của anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi

                         người yêu nước, nhất là các cháu thanh niên học tập.

 

 Lời khen của Bác được dùng làm đề từ cho cuốn ký sự “Sống như Anh” do Trần Đình Vân viết về sự tích chói sáng của Nguyễn Văn Trỗi, theo lời người vợ góa của anh là chị Phan Thị Quyên kể lại. Sách này về sau được dựng thành bộ phim truyện “Nguyễn Văn Trỗi” để giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam sống theo gương người anh hùng ấy. Tôi nghĩ rằng chị Quyên sẽ suốt đời chung thủy để tôn thờ anh Trỗi trong trái tim mình; nhưng về sau chị lại có cuộc sống riêng hạnh phúc với người chồng thứ hai. Có lẽ việc tôn thờ người chồng lý tưởng không thể thay thế nhu cầu được sống bình thường của một người phụ nữ trẻ tuổi.

 

Tấm gương anh Trỗi thật chói lọi, nhưng ở công trường Muối Đồ Sơn tôi không  thể noi gương anh, vì nơi đây chẳng có ai lao động theo chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Sau mấy ngày làm việc trong thời tiết giá lạnh của một đợt gió mùa đông bắc mang theo mưa phùn, tôi lại bị đau đầu và cảm thấy sức mình không thể làm tiếp được nữa. Sáng hôm ấy, tôi xin phép nghỉ để đi khám bệnh. Trong lúc ngồi ở bệnh xá chờ đến lượt mình, tôi bỗng thấy ông Khanh, người đã giới thiệu sự tốt đẹp của công trường Muối ở hội trường Thành đoàn cho các “thanh niên tình nguyện” tập trung ở đó ngày nào, bước vào. Anh y tá thường trực bắt tay ông rồi giới thiệu: “Đồng chí Thư ký Công đoàn thay mặt Đảng ủy và Ban chỉ huy công trường đến thăm bệnh nhân!”. Nghe vậy, một vài bệnh nhân xì xào với nhau: “Sắp có bão to!” (có lẽ do lãnh đạo chưa bao giờ đến thăm công nhân). Ông Khanh tỏ vẻ quan tâm và hỏi han từng người. Thấy thiếu một cánh cửa sổ ở phòng bệnh nhân, ông quát anh y tá: “Các anh làm ăn cẩu thả thế à? Trời rét thế này người khỏe còn co ro trong chăn mà để bệnh nhân nằm mở toang cửa sổ như vậy ư? Tôi phải phản ảnh ngay việc này với Ban chỉ huy mới được!”. Anh y tá vâng dạ xin nhận khuyết điểm, còn ông Khanh quay sang hỏi tôi đau ốm thế nào mà cũng tới đây? Tôi trả lời ông qua quýt cho xong chuyện. Đối với tôi, ông này cùng một giuộc với những kẻ đã lừa mình đi lao động, bằng cách nói toàn những cái hay cái tốt của công trường mà lờ đi những khó khăn cực nhọc mà công nhân phải chịu đựng.

 Đến lượt mình vào khám, tôi lại bị ông y sĩ đòi xuất trình giấy giới thiệu của đội trưởng. Tôi phải viết cam đoan là đã được đội trưởng cho phép rồi, ông ta mới khám, cấp thuốc trị đau đầu và cho giấy nghỉ ốm 2 ngày. Từ hôm đó, cứ một vài tuần tôi lại phải lên bệnh xá khám bệnh để có thể được nghỉ một vài ngày. Anh Duyên rất thông cảm với tình trạng sức khỏe của tôi, nên sẵn sàng cho phép tôi nghỉ đột xuất như vậy. Một hôm anh bảo tôi: “Nếu cậu cảm thấy không đủ sức tiếp tục lao động ở đây, thì làm đơn xin thôi việc luôn, tớ sẽ chứng nhận cho!” Được lời như cởi tấm lòng, tôi lập tức viết đơn xin thôi việc vì lý do sức khỏe, đưa anh Duyên ký xác nhận rồi tìm gặp Mai Xuân Phú để nhờ anh chuyển đơn lên Ban chỉ huy Công trường. Anh Phú bảo tôi nộp thêm mấy tờ giấy nghỉ ốm để làm bằng chứng, rồi vui vẻ hứa rằng sẽ sớm có quyết định của Ban chỉ huy.

Quả nhiên quyết định của Ban chỉ huy công trường đã đến ngay giữa tháng 12, cho phép tôi nghỉ việc từ ngày đầu năm mới. Thế là tôi chỉ còn phải ở lại đây 2 tuần nữa, vừa làm việc vừa chờ hoàn tất thủ tục cắt chuyển các tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm và lĩnh tháng lương cuối cùng. Khi so sánh với những đoàn viên komsomol rời bỏ công trường Baiarơca bị coi là phản bội lý tưởng và bị đốt thẻ đoàn, hay những đoàn viên trốn khỏi công trường ở vùng Viễn Đông trong tiểu thuyết “Dũng cảm” bị truy đuổi như những kẻ đào ngũ, tôi nhận ra việc kết thúc đợt xung phong tình nguyện đi lao động của mình thật dễ dàng, khác hẳn với những trường hợp ở Liên Xô.

 

 Tối thứ bảy sau bữa cơm chiều, tôi và Triệu lại cùng nhau trên đường về thành phố. Lần này chúng tôi đèo nhau trên xe đạp (do cậu Phương em Triệu mang đến cho anh mình từ hôm trước). Trời tối dần, xe lại không có đèn và chuông, đèn đường cũng không có mà Triệu bị cận thị phải đeo kính, nên tôi cầm lái đạp xe cho Triệu ngồi sau. Tôi thông báo với Triệu rằng mình đã được cho thôi việc trở về nhà, Triệu mừng cho tôi và bảo rằng cậu ấy cũng sẽ xin thôi việc nếu có cơ hội. Khi trời tối mịt, chúng tôi mới phát hiện ra rằng đi trong bóng tối như vậy thật nguy hiểm. Thỉnh thoảng một chiếc ô tô chạy ngược chiều chiếu đèn pha lóa mắt khiến tôi phải dừng xe nép sát vào bờ đê. Ô tô qua khỏi thì chẳng còn nhìn thấy gì ở xung quanh nữa, mà những chiếc xe đạp chạy ngược xuôi trên đường đều không có đèn, nên đã vài lần chúng tôi suýt đụng vào xe của người khác. Vì thế, chúng tôi phải oang oang nói chuyện thật to, rồi lại thay nhau hát hết bài nọ đến bài kia để những người đi xe khác nghe tiếng mà phòng tránh. Chương trình ca nhạc bất đắc dĩ ấy kéo dài cho đến khi chúng tôi vượt qua cầu Rào tiến vào thành phố rực sáng ánh đèn đường.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác