NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - Chương 2 (phần 6)

( 24-12-2013 - 09:15 AM ) - Lượt xem: 561

Vào một buổi trưa hè năm 1954, tôi bỗng nghe tiếng bác Đoàn Nồng từ ngoài đường gọi to: “Anh Nguôn ơi, hòa bình rồi!”. Ba tôi từ trong nhà chạy vụt ra ôm chầm lấy bác. Hai người vừa khóc vừa cười vỗ vào lưng nhau thùm thụp. Cảnh tượng ấy khắc ghi đậm nét trong tâm trí tôi, dù mãi về sau tôi mới biết đó đúng là một thời điểm lịch sử: cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp đã kết thúc bằng Hiệp định Giơnevơ, hòa bình lập lại trên đất nước Việt Nam đầy máu lửa

6. Hòa bình lập lại

 

Một hôm tôi với em Hùng đang chơi trong nhà, bỗng nhiên có người bước vào, dắt theo một chiếc xe đạp. Đó chính là ba tôi, nhưng vì vắng ba lâu quá nên chúng tôi chẳng còn nhớ mấy, chỉ buông đồ chơi đứng nhìn. Khi ba gọi: “Quốc, Hùng lại đây với ba!”, chúng tôi mới chạy lại để ba ôm hôn rồi cho mỗi đứa một thanh chè lam. Vừa lúc ấy má chạy vào reo lên: “Anh!”, rồi tíu tít chuyện trò với ba.

 Trở về nhà lần này, ba tôi đã chính thức rời khỏi Ban Thanh tra Bộ Lao động để “chuyển sang ngành giáo dục theo nguyện vọng”- như ông vẫn viết trong lý lịch của mình (chính xác là về làm giáo viên một trường phổ thông cấp 3). Chia tay với Bộ, ba tôi mang theo một cuốn lưu niệm, trong đó chứa đựng những dòng lưu bút tràn đầy tình nghĩa và sự kính trọng của các bạn đồng nghiệp cũng như nhân viên cấp dưới dành cho ông. Mãi sau này, khi đã trở thành một học sinh cấp 3, tôi mới được đọc cuốn lưu niệm đó, và cảm thấy vô cùng tự hào về tài năng và nhân cách cao thượng của cha mình, đã được miêu tả qua những dòng lưu bút ấy. Nhưng một câu hỏi vẫn tồn tại mãi: Tại sao ba tôi lại tự nguyện từ bỏ một chức vụ lãnh đạo ở cơ quan trung ương, để trở về làm một giáo viên  bình thường? Cũng như trước đây và mãi về sau, ba tôi không hề cho vợ con biết nguyên nhân thực sự  nào đã khiến ông chuyển công tác. Đặt sự việc vào bối cảnh đầy kịch tính những năm 1953-1954, tôi có thể nêu lên nhiều giả thiết, nhưng đó là những giả thiết không bao giờ được chứng minh. Khi hay tin ba tôi rời khỏi Bộ Lao động, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ lúc đó là Ngô Tấn Nhơn có gửi thư mời ông về nhận công tác mới tại cơ quan này, nhưng ba tôi đã lịch sự từ chối. Nhờ đó, ba không phải tham dự một cuộc chỉnh huấn căng thẳng để “chỉnh đốn tổ chức” ngay tại các cơ quan trung ương.

 Ba lấy từ chiếc giỏ treo trên ghi-đông xe đạp ra một hộp ghi-gô hình trụ màu trắng, nói rằng sẽ chiêu đãi cả nhà một món ăn đặc biệt đựng trong đó. Trong bữa cơm tối có đông đủ các cậu các dì cùng ba má và anh em tôi, món đặc biệt được múc ra bát đặt giữa mâm. Sau khi mời người lớn xơi cơm, tôi háo hức xúc một thìa cho vào miệng và bỗng nhăn mặt vì mặn quá! Ba bảo món này không ăn nhiều được, mà phải dùng tí một với cơm thì mới ngon. Hóa ra đó là muối rang có trộn lẫn chút ít thịt băm với lá sả thơm thơm. Quả nhiên, ăn theo cách ba bảo thì thấy rất ngon. Xong bữa khát nước phải uống nhiều nên bụng rất no, mặc dù cơm ăn chưa đủ. Vừa tiết kiệm được cơm, lại có chút ít chất đạm, món này còn bảo quản được rất lâu để sẵn sàng đáp ứng những cơn đói ở bất cứ lúc nào. Vì vậy, trong cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ, món này trở thành đặc biệt với tên gọi “thịt Việt Minh”, cũng nổi tiếng gần bằng đôi dép được chế tạo từ săm lốp ô tô cũ mang tên “dép cao su” hay “dép lốp”, rồi về sau được gọi là “dép râu”. Đêm ấy, ba ôm em Tuấn rất lâu và hát ru cho nó ngủ:

 

Chiều chiều ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ

Buồn trông con nhện chăng tơ

Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai…

 

Tôi nhớ hình như ba đã từng ru mình và em Hùng cũng bằng bài này, và cảm thấy yêu ba rất nhiều. Giọng ba trầm và ấm đưa tôi vào giấc ngủ lúc nào chẳng biết.

 Vừa trải qua một cuộc hành trình dài ngày đầy vất vả bằng xe đạp, nhưng ba tôi chỉ ở nhà nghỉ ngơi vài ngày, rồi lại chuẩn bị mang theo em Hùng và tôi đi đến nơi nhận công tác mới. Nơi ấy là Trường Phổ thông cấp 3 Lam Sơn, tọa lạc tại khu làng có địa danh là Cốc, thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa, cách nơi đây hơn 40 km. Một buổi sáng, sau khi điểm tâm bằng khoai luộc và nước vối ủ trong ấm tích, ba cha con tôi tạm biệt những người thân, đội mũ lên xe đạp khởi hành. Ba đeo túi dết ngồi trên yên cầm lái và đạp xe, em Hùng ngồi trên khung xe phía trước (có lót đệm cho êm), tôi ngồi trên giá đèo hàng phía sau có buộc thêm chiếc ba lô đựng quần áo và đồ dùng. Lần đầu tiên trong đời được đi xe đạp, tôi thấy rất thú vị. Nhưng chưa ra khỏi ấp bỗng gặp hai người đội mũ lá đứng chặn đường. Người cầm súng là một chú dân quân quen mặt, còn người đeo xắc cốt chính là chú Xia. Ba bảo hai anh em tôi bước xuống, dựng xe bên bụi cây rồi tiến đến gặp họ. Chú Xia hất hàm hỏi: “Đi đâu?”. Ba lấy trong túi ra một tờ giấy đưa cho chú. Chú cầm lấy nó, xoay ngang xoay dọc rồi đưa cho chú kia: “Đéo mẹ, giấy mấy chả má!”. Hai người to tiếng với ba tôi một lúc, rồi đến bên xe sờ nắn kỹ chiếc ba lô, xong thì trả lại giấy cho ba. Khi đã lên xe đi tiếp, tôi còn nghe chú Xia nói theo: “ Giờ hồn nhà chúng bay!” Tôi không hiểu chú nói với ai, và nói thế để làm gì. Ba chỉ lắc đầu thở dài rồi cắm cúi đạp xe.

 Đi qua miếu Sơn Thần, tôi vẫn trông  thấy bọn trẻ chăn bò đang chơi ở đó như mọi ngày. Tôi mừng rỡ khi thấy ba dừng xe cạnh hai chiếc quán của ông Lâm và ông Khà  bên bờ suối có nhiều bóng cây râm mát. Thế là chúng tôi lại được ăn bánh khoái và kẹo lạc của hai ông trước lúc rời xa ấp Hà Thanh. Đang bon bon trên đường, tôi bỗng giật nảy mình vì xe quá xóc, rồi phải xuống xe để ba xem xét. Ba lấy ra một chiếc bơm để bơm cho  bánh xe đang xẹp lép phồng lên; nhưng chỉ đi được một đoạn ngắn thì bánh xe lại xẹp. Hết đi được xe đạp, ba dắt xe cùng hai anh em tôi đi bộ. Đường vắng, hai bên toàn cây cối rậm rạp mà không có nhà, chúng tôi đi bộ rất lâu, mỏi nhừ cả chân. Bỗng nhiên gặp một toán phụ nữ mang quang gánh đang ngồi nghỉ dưới gốc cây ven đường. Thấy ba cha con tôi lếch thếch đi, họ liền hỏi chuyện. Một bà thương tình bảo anh em tôi ngồi vào hai chiếc thúng để bà gánh giúp. Chúng tôi sốt sắng bước vào thúng, nhưng khi bà nhấc gánh lên thì em Hùng khóc thét vì sợ, nhất định đòi bước ra. Bà bảo chỉ có một đứa thì không gánh được. Ba phải dỗ dành mãi, rồi bảo nhắm mắt lại, Hùng mới chịu ngồi im cho gánh. Chính tôi cũng cảm thấy chông chênh, nhưng được một lúc thì lại thấy thích, vì được đi mà không mỏi chân. Quang gánh trên vai, toán phụ nữ mặc áo nâu váy đen đi chân đất vừa bước nhanh vừa trò chuyện râm ran. Chắc rằng thấy ba đi dép cao su và đeo túi dết, nên một bà hỏi ba có phải là cán bộ đội không. Khi biết ba chỉ là giáo viên, họ kể cho nhau nghe những chuyện đấu tố rất ly kỳ. Có một chị nông dân tố địa chủ gian ác đã hiếp  mình nhiều lần. Địa chủ nhận tội và kể ra mấy lần trên đất, mấy lần trên võng, rồi sau đó rất nhiều lần trên giường, vì chị bảo phải hiếp trên giường mới sướng. Tôi nghe không hiểu nhưng lại thấy ba cười cùng với họ.

 Đến khi gặp một con đường rẽ, toán phụ nữ chia tay với cha con tôi để đi về làng họ, còn  chúng tôi tiếp tục đi bộ. Rất may là gặp một quán bán nước mà chủ quán lại có dụng cụ vá xe. Ba đưa chúng tôi vào quán, giở cơm nắm ra ăn với món đặc biệt, uống nước chè, chờ chủ quán vá xe giúp. Xong việc, ba trả tiền cho chủ quán rồi chúng tôi lên xe thẳng tiến.

 

 

Trường Phổ thông cấp 3 Lam Sơn đặt lớp học ở một ngôi đình. Mỗi học sinh mang một bộ bàn ghế gỗ nhỏ tự đóng lấy đến lớp, rồi xếp gọn lại để mang về nhà khi hết giờ học. Cố định trong đình chỉ có tấm bảng đen và bộ bàn ghế giáo viên bằng gỗ mộc. Gần đình có một căn nhà lá để giáo viên hội họp, chứa tài liệu hồ sơ, cũng là nơi ở và làm việc của thầy Hiệu trưởng Đoàn Nồng. Các giáo viên của trường ở trọ rải rác trong các nhà dân. Nhà trọ của ba tôi ở gần nhà thầy Hiệu trưởng, xung quanh đó là các thầy Lê Hải Châu, Võ Quý, Phạm Việt Thường, Vũ Ngọc Khánh, Phan Tử Long, Doãn Châu Long (vốn là bạn của cậu Bính nên rất thân với ba má tôi)…Nhận lương của nhà nước bằng gạo và tiền, mỗi giáo viên tự lo cuộc sống của riêng mình mà không có bếp ăn tập thể. Ba tôi cũng tự nấu cơm, giặt giũ và chăm sóc hai con. Tôi đã giúp được ba một số việc, thích nhất là nhặt rau rồi mang ra ao làng rửa. Ao làng khá rộng, có nhiều hoa sen hoa súng nở rất đẹp, lại có nhiều loại chuồn chuồn to nhỏ và màu sắc khác nhau bay lượn trông rất vui. Dưới đám bèo gần cầu ao, tôi hay bắt được ốc và cà niễng mang về khiến ba hài lòng. Có lần tôi bắt được một con ốc nhồi rất to, ba đem nướng rồi khều ra khỏi vỏ, lấy dao cắt làm 3 cho ba cha con cùng thưởng thức. Ở với ba chúng tôi được ăn no hơn ở nhà ông bà ngoại. Ba còn cho tôi nhiều giấy đã dùng rồi để gấp máy bay , tầu thuyền hoặc vẽ  vào những chỗ chưa có chữ. Tôi lại có dịp trổ tài vẽ ba vị lãnh tụ ở sân đình, khiến cho các anh chị học sinh phải trầm trồ: “Con thầy Nguôn vẽ giỏi quá!”. Tôi còn biết vẽ thêm bác Ma Len Cốp của Liên Xô có khuôn mặt tròn, tóc rẽ ngôi thẳng tắp và không có râu. Học sinh ở đây đều là người lớn nên họ vừa học vừa đi làm để kiếm sống. Tôi quen mấy anh thường xách chiếc hòm gỗ đựng dao kéo tông đơ và chiếc ghế xếp đi quanh làng, vừa đi vừa rao : “Ai cúp tóc không?”. Cúp xong  cho khách, họ lấy sách vở ra học. Có mấy chị thỉnh thoảng đến nhà giúp ba tôi chợ búa cơm nước hay dọn dẹp nhà cửa. Tình nghĩa thầy trò rất trong sáng và tốt đẹp, các thầy quan hệ với nhau cũng rất vui. Thỉnh thoảng vào buổi tối ba tôi với bác Đoàn Nồng và mấy thầy khác rủ nhau đánh tú lơ khơ dưới ánh đèn dầu. Có hôm trời mưa ba tôi với mấy thầy chỉ mặc quần đùi chạy ra sân để “tắm vòi hoa sen”, ai cũng vui cười rồi chạy vào nhà thay quần áo.

 Vào một buổi trưa hè năm 1954, tôi bỗng nghe tiếng bác Đoàn Nồng từ ngoài đường gọi to: “Anh Nguôn ơi, hòa bình rồi!”. Ba tôi từ trong nhà chạy vụt ra ôm chầm lấy bác. Hai người vừa khóc vừa cười vỗ vào lưng nhau thùm thụp. Cảnh tượng ấy khắc ghi đậm nét trong tâm trí tôi, dù mãi về sau tôi mới biết đó đúng là một thời điểm lịch sử: cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp đã kết thúc bằng Hiệp định Giơnevơ, hòa bình lập lại trên đất nước Việt Nam đầy máu lửa. Từ đây, đất nước tạm chia tách thành hai miền, lấy sông Bến Hải có vĩ tuyến 17 chạy qua làm giới tuyến quân sự tạm thời: miền Bắc thuộc chủ quyền của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( VNDCCH) do cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, miền Nam thuộc chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) do cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng rồi Tổng thống Ngô Đình Diệm lên thay. Miền Bắc thuộc về phe Xã hội Chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo, còn miền Nam thuộc Thế giới Tự do với Hoa Kỳ đứng đầu. Để đề phòng chiến sự bùng nổ trở lại, một khu phi quân sự chạy dọc theo hai bên bờ sông Bến Hải, mỗi bên rộng 1,6 km đã được thiết lập. Chiếc cầu Hiền Lương vốn nối liền hai bờ sông này, nay trở thành ranh giới hai miền với hai nửa mặt cầu sơn hai màu khác nhau; gần đầu cầu phía Bắc có một cột cờ trên đó tung bay lá cờ đỏ sao vàng, gần đầu cầu phía Nam cũng có một cột cờ trên đó phấp phới lá cờ vàng với 3 sọc đỏ.

 Những ngày sau đó, trường Lam Sơn thật vui tươi rộn ràng. Học sinh ca hát và nhảy múa rất nhiều. Có mấy bài hát mới được dạy ở trong đình và tôi cũng thuộc rất nhanh, sau này mới biết đó là ca khúc “Hò kéo pháo” của nhạc sĩ Hoàng Vân và bài “ Giải phóng Điện Biên” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận:

 

Giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về

Giữa mùa hoa nở, miền Tây Bắc tương bừng vui

Bản mường xưa nương lúa mới trồng

Kìa đoàn em bé ra đồng nắm tay xòe hoa

Dọc đường chiến thắng ta tiến về

Đoàn dân công tiền tuyến vẫy chào pháo binh vượt qua…

 

 

Buổi tối ngồi chơi tú lơ khơ, bác Đoàn Nồng thường bàn với các đồng nghiệp việc  chuyển trường về thị xã. Một hôm ba bảo hai anh em tôi chuẩn bị về ấp thăm má. Tôi mừng rỡ, vội lấy giấy gấp máy bay, tàu thủy và cả mấy con chim để mang về cho em Tuấn chơi. Ba lại dùng xe đạp đèo chúng tôi trở về trên con đường cũ. Con đường vẫn giống y như ngày chúng tôi rời ấp đi lên Cốc, nhưng thỉnh thoảng băng qua những cánh đồng, tôi thấy nhiều tấm bảng gỗ có lá cờ đỏ nhỏ cắm trên đó. Ba bảo đó là những tấm “thẻ nhận ruộng” của nông dân được chia ruộng. Hai quán của ông Lâm và ông Khà vẫn mát rượi dưới bóng cây bên bờ suối, nhưng cửa đóng then cài, không còn những món ngon mà tôi hằng ao ước. Ở miếu Sơn Thần, hàng thông cao vẫn vang vọng những âm thanh vi vút quen thuộc, nhưng vắng lặng không thấy một đứa trẻ chăn bò nào. Đi vào ấp không gặp cán bộ đội hay dân quân, và cũng không gặp ai trên đường. Mấy chiếc nong nia viết khẩu hiệu bằng vôi cũng không còn. Bước vào ngôi nhà thân thuộc, chúng tôi gặp ngay dì Giáo tức dì Dung đang ngồi khâu vá, còn bé Lan Anh ngủ trên giường. Dì buông đồ khâu reo lên “Anh với các cháu đã về!”, rối đi rót nước vối cho ba uống. Dì bảo nhà ta may mắn không bị quy là địa chủ, rồi kể cho ba nghe rất nhiều chuyện.

 Ông ngoại cùng gia đình ông Tham Chữ đi bộ đến vùng địch tạm chiếm thì gặp một đồn binh Pháp xét hỏi giấy tờ. Khi được biết ông Phán Thanh nguyên là công chức của chính phủ thuộc địa, viên trưởng đồn đã tiếp đãi ân cần, điều ô tô chở mọi người về Hà Nội. Ông ngoại bất ngờ gặp lại ông Tây là sếp cũ của mình và ông này gợi ý ông nên tiếp tục cộng tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại. Ông ngoại nhã nhặn từ tạ rằng mình đã già yếu rồi, không còn khả năng tham chính nữa.

 Sau khi ông ngoại về Hà Nội, việc đấu tố địa chủ đã diễn ra ở ấp. Ông Đống già yếu bị quy địa chủ và đã chết ngay trong khi đang bị đấu. Bác Ba Đoán sắp bị đấu tố đã nhanh chân trốn thoát đi biệt tích. Tội nghiệp nhất là bác Thương Oánh, người đã từ bỏ quan chức ở Huế để về quê theo kháng chiến. Vì có 7 mẫu ruộng nhà làm không hết phải cho phát canh thu tô, bác bị quy ngay là địa chủ quan lại bóc lột. Những người bần cố hàng ngày lượn lờ bên nhà bác gào thét: “Đả đảo thằng Oánh!”, ném gạch đá vào nhà rồi tuôn ra từng tràng những câu chửi bới vô cùng tục tĩu. Khi cán bộ đội và dân quân đến nhà để áp giải tên địa chủ Oánh ra trường đấu, thì bác đã chết cứng từ bao giờ. Toàn bộ ruộng đất tài sản của bác bị tịch thu làm “quả thực” chia cho dân nghèo. Trước khi rời nhà đi tha phương cầu thực, bà Hai vợ bác và các anh chị con bác đều bảo rằng bác chết  do uất ức và suy tư quá nhiều. Một số người nói bác đã tự tử, có người còn bảo rằng bác dùng dây thừng tự treo cổ chết. Chẳng biết ai nói đúng, nhưng khi nghe nói bác treo cổ bằng dây thừng, tôi chợt nhớ lại buổi xem “xinêma” ở nhà bác có sợi dây thừng treo chiếc xe đạp, để một người đạp xe làm sáng chiếc đèn chiếu hình ảnh Đại Nguyên soái Xít Ta Lin oai vệ lên tường cho mọi người xem.

 Câu chuyện của dì Dung chưa kết thúc thì bà ngoại, cậu Bính, dì Quỳ và má tôi bế em Tuấn lục tục bước vào nhà. Mọi người tíu tít hỏi chuyện ba cha con tôi. Bà ngoại khen ba khéo nuôi con nên cả hai đứa đều béo khỏe hơn trước. Còn tôi thì thấy bà ngoại với má rất gầy, em Tuấn còn gầy yếu hơn nữa. Bé Lan Anh đã biết đi và nói sõi, còn Tuấn chỉ ngồi trên giường mà chẳng nói năng gì. Cả mấy thứ đồ chơi mà tôi đem về cũng không làm cho Tuấn vui.

 Trong bữa cơm tối dưới ánh đèn dầu, mọi người lại nói chuyện về cải cách ruộng đất. Dì Dung bảo chú Xia được chia ruộng và một chân trâu, nhưng đã nhanh chóng bán hết. Nhờ đó, chú sẽ có cơm ăn áo mặc mà không phải làm lụng vất vả hay trộm cắp, cho đến khi nào vẫn còn tiền. Tôi không hiểu chia “một chân trâu” là như thế nào, có phải là người ta mổ thịt trâu rồi cắt 4 cái chân của nó đem chia hay không. Cậu Bính giải thích việc đó có nghĩa là 4 người được chia chung nhau một con trâu của địa chủ. Má tôi kể rằng có một đồng nghiệp là anh giáo Bằng đang dạy học bình thường bỗng bị tố là địa chủ, rồi lại phải nhận thêm tội hoạt động cho Quốc Dân Đảng. Trong đêm tối, một đoàn người cầm đuốc đi theo các dân quân áp giải giáo Bằng bị trói giật cánh khuỷu đến một gò đất  giữa cánh đồng, nơi đã đào sẵn một cái hố dùng làm huyệt mộ chờ đón một mạng người. Anh giáo bị đẩy lăn xuống hố, vẫn cố gắng gào lên : “ Oan cho tôi quá, các ông các bà ơi, tha chết cho tôi!”. Đáp lại tiếng kêu tuyệt vọng ấy là tiếng  hô  “Đả đảo địa chủ cường hào gian ác!” và mấy chục cái miệng đồng thanh gầm thét: “Đả đảo! Đả đảo! Đả đảo!”. Người ta dùng cán thuổng tới tấp dộng vào đầu tên tử tội dưới hố, rồi nhanh chóng dùng xẻng xúc đất đổ lên mình nó. Chẳng bao lâu sau, tiếng rên rỉ của giáo Bằng im bặt. Dưới ánh đuốc sáng, cái hố được lấp đầy, trở thành nấm mồ chôn sống kẻ thù của nhân dân. Nghe đến đây, bà ngoại tôi bỗng bị nghẹn không nuốt  được, phải uống nước cho cơm trôi khỏi cổ. Nuốt xong, bà lắc đầu bảo: “Trời ơi, sao người ta ác thế!”. Trong những ngày ấy, nhiều bài hát về cải cách ruộng đất đã được lan truyền, không hiểu do đâu mà tôi rất thuộc. Có một bài như thế này:

 

Từ cuộc đời bùn lầy, nông dân ta đứng vùng lên

Đập tan xích xiềng gông phong kiến đế quốc.

Nhờ ai ta thấy ánh mặt trời, có bát vơi bát đầy

Ruộng đồng kia, ta làm chủ từ đây?

Ơn dài lâu của Đảng, ơn cụ Hồ soi sáng

Như trời cao biển rộng, như dải núi Trường Sơn…

 

Ba tôi chỉ ở lại nhà vài hôm, rồi lại đạp xe trở về trường, để tôi với em Hùng ở lại với má. Bà ngoại rất hay bị nghẹn nên ăn uống khó khăn, cậu Bính phải đưa bà về Hà Nội để chữa bệnh. Nhà trở nên vắng vẻ, chỉ còn lại hai dì và mấy má con tôi cùng với bé Lan Anh. Trong ngày lễ 2-9, tất cả các nhà dân ở ấp đều treo cờ đỏ sao vàng để mừng Quốc Khánh và mừng hòa bình lập lại. Người ta còn dựng cổng chào rất đẹp bằng tre nứa và hoa lá, phía trên có quốc kỳ, ảnh Hồ Chủ tịch và mô hình quả địa cầu có gắn một con chim bồ câu trắng. Còn có hai câu khẩu hiệu viết chữ trắng trên vải đỏ treo cao trên cổng chào: “ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm” và “Hòa bình thế giới muôn năm”. Hai anh em tôi mải mê xem cổng chào, rồi má bế em Tuấn cũng đến xem.

 Một buổi sáng, má bế Tuấn ra góc sân để múc nước rửa mặt cho nó. Tuấn ngáp, vươn vai rồi bỗng nhiên không thở nữa. Má la to: “Trời ơi, con tôi làm sao thế này?”. Dì Dung và dì Quỳ chạy đến, thấy Tuấn đã tắt thở nhưng má vẫn ôm chặt nó mà khóc ngất. Hai dì chạy vội sang các nhà hàng xóm để nhờ họ giúp đỡ. Những người hàng xóm tốt bụng lập tức đến ngay. Họ bảo má đặt em xuống giường, dìu má vào buồng trong để hai dì săn sóc, rồi tỏa vào trong ấp quyên góp được mấy tấm ván đem về. Sau một hồi cưa đục, họ đóng được một chiếc quan tài nhỏ đơn sơ. Tuấn được mặc bộ quần áo sạch sẽ và lành lặn nhất, rồi được đặt vào quan tài. Vì các tấm ván ghép lại không thật khớp với nhau, nên qua các khe hở dưới tấm ván thiên, người ta vẫn nhìn rõ thi hài nhỏ bé nằm trong đó. Từ trong buồng, má ngây dại chạy vụt ra ôm lấy chiếc quan tài mà khóc nức nở. Mọi người phải khuyên giải mãi má mới chịu buông ra. Đến chiều, những người hàng xóm cùng dì Dung đưa quan tài Tuấn đi chôn ở chân núi gần miếu Sơn Thần, nơi có mồ mả ông bà ngoại của má tôi. Sau này, người lớn nói với nhau rằng em Tuấn bị còi xương suy dinh dưỡng và ỉa chảy kéo dài đến kiệt sức mà chết.

 Má ngây dại suốt ngày đêm hôm đó. Chiều hôm sau cố trấn tĩnh lại, má tìm đến nơi chôn Tuấn, khuân từng hòn đá đắp lên đó để đánh dấu ngôi mộ của con, rồi lại khóc thảm thiết: “ Tội nghiệp con quá con ơi, ai làm con chết thế này. Khổ thân con quá con ơi, sữa không có để bú, cơm không đủ để ăn. Con bị còi xương mà không có thuốc. Mua được hộp sữa thì sữa đã hỏng rồi, con uống làm sao được mà cứ cho con uống để con bị ỉa chảy…Sao tôi ngu thế hả trời, sao lại đem con đi chỉnh huấn để con phải bốc cơm ăn với ruồi…” Từ đó, chiều nào má cũng ra thăm mộ em Tuấn, bất kể là trời nắng hay trời mưa. Có hôm tôi và em Hùng được cùng đi với má. Má khóc và cả hai anh em tôi cùng khóc. Hình ảnh má tôi một mình ngồi khóc bên mộ em tôi giữa cảnh đồi núi hoang vắng trong màn mưa bụi giăng giăng lúc hoàng hôn in đậm nét trong tâm trí tôi suốt đời.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác