NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - Chương 2 (phần 5)

( 16-12-2013 - 06:18 AM ) - Lượt xem: 631

Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa Đây Trung Hoa hương sắc hoa muôn nhà Hoa lan sang Triều Tiên khói lửa Hoa lan sang đồng Việt Nam ta Gió đưa hoa về ngập miền dân chủ Cánh hoa muôn màu đẹp đời tự do!...

 

 5. Cán bộ đội

 

lần anh em tôi được theo má đến ở nhà dân để dạy học đúng vào dịp bộ đội (tức Vệ quốc đoàn) về làng. Thế là tôi được trông thấy các anh bộ đội mặc quân phục màu xanh lá cây nhạt với chiếc quần túm hai gấu bằng khuy, đội mũ nan có phủ vải dù trông khác hẳn dân thường. Làng xóm nhộn nhịp hẳn lên khi các anh giúp dân gánh nước chẻ củi, quét sân quét đường, xay lúa giã gạo…Các anh chào hỏi chuyện trò vui vẻ với dân làng, từ các cụ các ông các bà cho đến các cô các chị. Các anh còn kể những chuyện rất hay cho trẻ con nghe, lại thường hát và dạy các em hát bài “Vì nhân dân quên mình”:

 

Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh

Anh em ơi, vì nhân dân quên mình!

Đoàn vệ quốc chúng ta ở nhân dân mà ra

Được dân mến, được dân tin muôn phần…

 

Nhưng vui nhất là buổi ăn cơm đoàn kết giữa quân và dân. Trên một cái sân rộng, người ta đóng mấy chiếc bàn rất dài bằng 2 cây luồng ghép lại, trên bàn trải lá chuối để bày thức ăn là những đống đầy thịt lợn luộc và mấy thứ khác. Mỗi bàn có một nồi cơm to, mọi người tự mang bát đũa đến dự. Quân với dân đứng xen nhau hai bên mỗi bàn, vừa ăn vừa trò chuyện rôm rả. Bộ đội ăn kiểu “đũa hai đầu” (một đầu đũa gắp thức ăn, đầu kia và cơm vào miệng) để giữ vệ sinh. Các cô gái cũng bắt chước kiểu ăn ấy, nhưng vì chưa quen nên thỉnh thoảng lại dùng nhầm đầu đũa, khiến mọi người cười vang. Má và hai anh em tôi cũng dự bữa cơm ngon lành ấy, nên chúng tôi được một bữa no. Từ đó, tôi yêu quý các anh bộ đội, và mỗi lần được nghe bài hát “Bộ đội về làng” lại cảm thấy lâng lâng xúc động:

 

Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi

Xóm làng tôi còn nhớ mãi

Ước mong sao đến khi nào trở lại

Đón mừng anh vui chiến thắng về qua…

 

Tôi  cũng rất thích bài “Quê hương anh bộ đội” nghe thật tha thiết dịu dàng:

 

Nơi ấy có cánh đồng tắm nắng vàng tươi

Mùi thơm nhà tranh vách mới

Nơi ấy có cánh đồng mênh mông ngát hương

Mùa lúa chín tiếng hát vang khắp đường

Nhà anh có đàn em mắt ngây thơ má hồng

Những chiều ngồi hát vui trên bờ đê

Em bé dắt trâu về…

 

Cũng ở ngôi làng này, anh em tôi được má cho đón một cái tết Trung thu đầy ấn tượng. Buổi tối trăng lên, học sinh tập trung ở sân trường bày cỗ rồi tham gia các trò chơi: bịt mắt bắt dê, rồng rắn lên mây, cướp cờ…Khi trăng lên cao, các thầy cô ra lệnh chuẩn bị rước đèn. Hàng trăm chiếc đèn tự làm bằng nan tre và giấy màu nối tiếp nhau bừng sáng khắp sân trường. Tiếng trống khua vang, lần lượt học sinh từng lớp cầm đèn xếp hàng một rời sân trường đi ra đường theo nhịp trống. Má dắt hai anh em tôi đi theo lớp mình. Đoàn học sinh rước đèn kéo dài như một con rồng chuyển động làm bừng sáng  đường làng và các lũy tre hai bên, làm không gian thêm huyền ảo khi soi bóng xuống các ao đầm. Tôi say mê ngắm các loại đèn đầy màu sắc trắng xanh đỏ tím vàng: những chiếc đèn ông sao năm cánh mỗi cánh một màu cũng như đèn hình quả trám to nhỏ khác nhau, khoe sắc với những chiếc đèn xếp hình cầu và hình trụ. Có cả mấy chiếc đèn hình con cá, hình tầu bay và một chiếc đèn kéo quân do hai người khiêng. Lần lượt từng lớp cất tiếng hát đồng ca hòa cùng nhịp trống vang vọng khắp xóm làng. Khoảng một giờ sau, cả đoàn học sinh tươi trẻ lại quay về sân trường, để cùng nhau phá cỗ dưới ánh trăng rằm vằng vặc. Trở về ấp Hà Thanh, tôi nhớ mãi đêm trung thu ấy.

 

 

Một buổi trưa gió thổi lồng lộng khiến tôi díp mắt ngủ. Khi tỉnh dậy, cảm thấy có gì đó khác thường, tôi rót nước định uống nhưng nước không vào miệng mà chảy ra ngoài ướt cả áo. Tôi gọi má nhưng giọng nói thật ngọng nghịu khó nghe. Má chạy đến và kêu lên: “Trời ơi! Sao mồm con lại méo thế này?”. Thì ra môi trên của miệng tôi bị méo xệch từ trái sang phải, khiến cho mắt phải nhỏ hơn mắt trái. Cả nhà xôn xao vì căn bệnh lạ này. Có một người hàng xóm nghe tin đến xem, chỉ dẫn cho ông bà ngoại và má cách chữa cho tôi. Mọi người lấy máu của con lươn hòa vào một thứ bột được mài ra từ một loại đá đặc biệt lấy từ trên núi, rồi bôi chất hỗn hợp này lên bên trái môi trên của tôi, để nó kéo phía môi bị lệch trở về chỗ cũ. Chất ấy có mùi tanh phát buồn nôn; nhưng mỗi buổi sáng mới ngủ dậy tôi lại phải bôi nó. Sau một thời gian điều trị không nhớ là bao nhiêu ngày, quả nhiên chiếc môi lệch đã được kéo về gần đúng chỗ cũ, hai mắt trở lại bình thường và “nhan sắc” của tôi đã được cứu vãn. Tuy nhiên, di chứng của bệnh vẫn còn lại chút ít, nên về sau thỉnh thoảng bạn bè vẫn gọi tôi là “Quốc méo”.

 

Một hôm, khi đang bắt chuồn chuồn ở bờ rào cây xanh quanh một vườn ổi, hai anh em tôi bỗng thấy một người đàn ông ăn mặc rách rưới ôm một vật gì đó chui từ trong bờ rào ra rồi chạy biến vào một bụi tre gần đó. Ngay lập tức, có hai con chó cũng chui qua bờ rào chạy đến bụi tre ấy sủa inh ỏi. Rồi chó lại chui qua rào trở về vườn, còn người đàn ông thì mất dạng. Tôi dắt em Hùng đi về nhà, bỗng nhiên từ bụi cây bên đường người đàn ông lúc nãy nhảy vọt ra đứng chắn ngang đường. Chỉ vào mặt chúng tôi, ông ta trợn mắt  nói: “ Cấm chúng bay nói với ai là đã thấy tao đấy nhé! Nếu không, tao đánh bỏ mẹ!”.Mặt ông đen đúa nhiều nếp nhăn trông rất dữ tợn, đôi môi thâm xịt để lộ hàm răng hô không đen, không trắng mà có màu xỉn rất lạ. Sợ quá, chúng tôi lập tức: “Vâng ạ!” rồi chạy thật nhanh về nhà. Lát sau, từ phía vườn ổi mà chúng tôi bắt chuồn chuồn lúc nãy, vang lên tiếng đàn bà: “Tiên nhân bố thằng nào ăn cắp con gà sống thiến của bà nhé! Gà bà nuôi để cúng tổ tiên, mày muốn sống muốn tốt thì mang trả lại cho bà, nếu không nó biến thành cú thành diều mổ lòi con mắt mày ra! Mày mà ăn thịt gà của bà, bà cho mày uống máu lồn bà đẻ cho chết cha mày đi!...”. Thấy chúng tôi dỏng tai nghe, bà ngoại đang nấu cơm dưới bếp gọi “Vào đây bà bảo!”. Bà dặn chúng tôi không được nghe những lời tục tĩu như vậy rồi lại bắt chước thì hỏng. Chúng tôi vâng lời, rồi kể lại sự việc đã chứng kiến cho bà nghe. Bà đoán biết người ấy chính là chú Xia, một người đàn ông tứ cố vô thân không có ruộng đất tài sản gì, sống trong một căn chòi ở cuối ấp, gần bãi tha ma ở đường chợ. Thỉnh thoảng, chú được người ta thuê làm việc gì đó để kiếm miếng ăn; ngoài ra chú sống bằng cách nào thì không ai biết. Hóa ra hai anh em tôi lại biết cách kiếm sống của chú!

 

 

Mùa đông năm ấy tiết trời rất lạnh với mưa phùn gió bấc hết ngày này sang ngày khác. Anh em chúng tôi phải mặc chùm đụp mấy cái áo cánh, tôi còn khoác thêm chiếc áo đan bằng sợi màu nâu sẫm, em Hùng thêm chiếc áo len màu cà phê sữa, mà thỉnh thoảng hai đứa vẫn rét run và môi tím lại. Nhưng khi được theo má xuống làng dạy học, tôi lại thấy vui quên cả rét. Một hôm, đang chơi ở sân trường cấp 1 xã Liên Thịnh, tôi bỗng nghe thấy những âm thanh rền rĩ ken két vọng đến lúc to lúc nhỏ liên tục không dứt, như một bản nhạc chói tai lúc khoan lúc nhặt. Nhìn qua cánh đồng lúa mênh mông về phía xã Sơn Đông, tôi thấy phía xa có một đoàn không biết cơ man nào là người đội mũ nón khoác áo tơi, nối tiếp nhau đi trong màn mưa phùn lan tỏa, mỗi người gắn với một chiếc xe, di chuyển từ lũy tre làng này sang làng khác, rồi mất hút phía chân trời. Qua cuộc chuyện trò giữa những người lớn đứng xem cùng với mình, tôi biết đó là đoàn dân công của huyện Hậu Lộc  dùng xe cút kít vận chuyển lương thực ra mặt trận để phục vụ chiến dịch sắp tới. Những chiếc xe một bánh bằng gỗ chở nặng lúa gạo, do người cầm càng đẩy hoặc kéo, đã phát ra những âm thanh kỳ lạ ấy.

 Trở về ấp Hà Thanh, đi trên những con đường quen thuộc, tôi lại thấy một quang cảnh mới lạ khác. Trên những hàng xương rồng hay những lùm cây ven đường, bỗng nhiên xuất hiện những chiếc nong hoặc nia, thường ngày được dùng để đựng thóc lúa khi sàng xảy, nay được dựng bên  hoặc treo lên cây làm khẩu hiệu, trên đó có những hàng chữ được viết bằng vôi trắng: “Phóng tay phát động quần chúng thực hiện giảm tô triệt để giảm tức”, “ Tịch thu ruộng đất của bọn Việt gian, địa chủ cường hào ác bá”. Tôi đọc rất đúng và nhớ rất lâu, nhưng chẳng hiểu gì hết, nên đành phải đi hỏi người lớn. Nhờ má giải thích, tôi biết rằng “bọn Việt gian” cũng là người Việt Nam, nhưng lại đi theo Pháp đánh lại người mình. Không ai giải thích cho tôi hiểu được rằng “tô” và “tức” là gì, còn “địa chủ cường hào ác bá” là ai? Vì thế, tôi lại hỏi: “Ở đây có địa chủ cường hào ác bá không?” Mọi người đáp: “Ở đây không có, nhưng ở chỗ khác chắc là có!”. Cậu Bính bảo rằng: “Có nhiều điều trẻ con chưa hiểu được, nhưng lớn lên rồi cháu sẽ hiểu!”. Tôi luôn tin rằng cậu Bính nói đúng, nên không hỏi gì thêm nữa. Bầu trời nặng trĩu mây xám, mưa phùn rả rich suốt ngày, nhưng những dòng chữ viết bằng vôi ấy vẫn bám chắc vào nong nia.

 

 

Một buổi tối đầu năm 1954, tôi lại được theo cậu Bính đến một chỗ đông vui dưới ánh đèn măng xông sáng trưng, có những dòng khẩu hiệu màu trắng trên nền vải đỏ: “Tháng hữu nghị Việt-Trung-Xô”, “ Tình hữu nghị Việt-Xô-Trung bất diệt”. Chân dung ba vị lãnh tụ của ba nước Việt Nam-Trung Quốc- Liên Xô là Bác Mao, Bác Hồ và Bác Ma Len Cốp mới lên thay Bác Xít Ta Lin được treo cao trên nền đỏ của 3 lá cờ nối liền với nhau: quốc kỳ Việt Nam có ngôi sao vàng to nhất ở giữa, quốc kỳ Liên Xô có hình búa liềm vàng với ngôi sao nhỏ màu đỏ viền vàng, quốc kỳ Trung Hoa có ngôi sao vàng lớn hơn và 4 ngôi sao nhỏ vây quanh ở góc. Tại đây, lần đầu tiên tôi được đứng nghiêm chào cờ cùng người lớn và nghe 3 bài quốc ca hùng tráng vang lên từ hàng trăm người cùng hát. Hôm đó người ta ca hát và nhảy múa rất nhiều. Có một bài được mọi người hát rất to nên tôi rất nhớ:

 

 

Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa

Đây Trung Hoa hương sắc hoa muôn nhà

Hoa lan sang Triều Tiên khói lửa

Hoa lan sang đồng Việt Nam ta

Gió đưa hoa về ngập miền dân chủ

Cánh hoa muôn màu đẹp đời tự do!...

 

 Lại có một điệu múa rất rất đông người tham gia trên khoảng sân rộng, người đứng sau đặt hai tay lên vai người đứng trước, nối tiếp nhau thành một vòng tròn  vừa đi vừa hát:

 

Kết đoàn, chúng ta là sức mạnh

Kết đoàn, chúng ta là thép gang

……….

Chúng ta thề đánh tan quân thù

Thực dân, đế quốc sài lang

Với phe phản động ta đập tan hoang…

 

 Về nhà, tôi xin má mấy tờ giấy để tập cắt hình các ngôi sao và hình búa liềm theo sự hướng dẫn của cậu Bính. Lấy mực đỏ tô lên giấy rồi dán các hình mới cắt lên, tôi làm thành 3 lá cờ như đã được thấy. Má bảo các lá cờ đẹp và khen tôi khéo tay. Say mê ngắm cờ, tôi thầm nhẩm lại các bài hát mới được nghe, và cảm thấy lâng lâng vui sướng. Kể từ ngày ấy, tôi đã học thuộc cả 3 bài quốc ca vô cùng hùng tráng từ lúc nào chẳng biết. Quốc ca Liên Xô với đoạn mở đầu: “ Ngàn năm càng bền vững/ Người người kết liên tự do/ Đời đời Liên bang Xô viết như keo sơn chung một khối…”; quốc ca Trung Quốc: “ Vùng lên, không cam tâm làm ngựa trâu ngu dân/ Đem hòa xương trong máu sắt xây nên Trường thành mới cho muôn năm…” ; và quốc ca Việt Nam: “ Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc/ Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa/ Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước…”. Có lẽ từ ngày ấy tôi bắt đầu biết yêu Tổ quốc Việt Nam cùng với hai nước bạn Liên Xô và Trung Quốc mà nhân dân luôn được vui hát trên những cánh đồng hoa muôn màu.

 

 

Sau Tết Nguyên đán Giáp Ngọ, trong lúc làng xóm vẫn còn đang rộn ràng múa hát mừng tình hữu nghị Việt-Trung-Xô, má gửi tôi với em Hùng ở nhà cho ông bà ngoại và các cậu các dì trông nom, rồi đưa em Tuấn đi theo để tham dự cuộc chỉnh huấn của giáo viên ở huyện. Đã quen với việc má vắng nhà đi dạy học ở xã, lại đỡ phải trông em và được chơi rông ngoài đường nhiều hơn, nên hai anh em tôi không cảm thấy buồn. Má đi ít hôm thì ông bà ngoại với cậu Bính và chú Trinh nói chuyện với nhau rằng “ cán bộ đội đã về ấp để cải cách ruộng đất”. Mọi người chỉ nói rất nhỏ, nhưng tôi thính tai nên nghe được. Tôi thắc mắc không hiểu “cán bộ đội” là cái gì. Tôi đã biết “cán bộ” là những người  mặc quần áo khác với nhân dân, luôn đi dép và đeo xắc cốt. Má bảo rằng ba tôi cũng là cán bộ đang công tác ở chiến khu. Tôi cũng biết “bộ đội” mặc quân phục và ăn cơm bằng đũa hai đầu. Vậy thì “cán bộ đội” là cán bộ hay  bộ đội? Khó hiểu quá, nhưng tôi không dám hỏi ai, sợ bị mắng là nghe lỏm chuyện người lớn. Có một điều lạ là từ hôm ấy mọi người trong nhà không vui như mọi khi, ai cũng ít nói mà hay nói thầm thì. Cậu Bính đem những cây đàn cất ở đâu mà tôi không còn thấy nữa. Chiếc xe đạp của chú Trinh cũng không còn. Các dì ít đi chợ mua thức ăn, nên mâm cơm thường chỉ có bát mắm tép với đĩa rau thơm, hoặc một bát trứng chưng tương cho cả nhà chan với cơm độn khoai. Vì thế, lúc nào tôi cũng cảm thấy đói. Người lớn nói với nhau rằng nhà ta đang bị bao vây để xác định thành phần.

 Các lùm cây ven đường  giờ đây mang theo mấy chiếc nong nia với những dòng chữ  mới bằng vôi: “ Nông dân vươn mình đánh đổ giai cấp địa chủ”, “Đánh đổ bọn địa chủ cường hào gian ác”, “Người cày có ruộng”. Đang lúi húi hái mấy quả mâm xôi chín đỏ trong bụi cây, tôi bỗng trông thấy hai người đàn ông lạ mặt mặc quần áo nâu bạc màu, đội mũ lá, mang dép cao su và đeo xắc cốt, vừa đi vừa nói chuyện với nhau. Đi qua chỗ tôi và em Hùng, họ gặp một người đàn bà mặc váy đứng bên đường khoanh tay khom lưng lễ phép: “ Lạy hai ông cán bộ đội!”. Thì ra đó chính là  “cán bộ đội”! Chỉ mấy hôm sau, tôi gặp lại chú Xia ở gần nơi mà chú đã ăn cắp được con gà trống thiến. Chú vẫn mặc bộ quần áo vá chằng vá đụp như như trước, vẫn đi chân đất, nhưng có thêm chiếc mũ lá trên đầu. Và điều khiến tôi kinh ngạc sững sờ là chiếc xắc cốt (còn gọi là túi dết) mà chú đeo bên hông, hệt như những túi của hai ông lạ mặt mà tôi đã được gặp. Người lớn nói rằng chú được “bắt rễ xâu chuỗi” nên đã trở thành “cán bộ đội”. Bà ngoại dặn hai anh em tôi từ nay nếu gặp chú Xia thì phải khoanh tay chào hỏi lễ phép. Tôi vẫn còn băn khoăn, vì cảm thấy chú không phải là một người đáng kính, mà mình thì đã được nghe người ta chửi chú, dọa sẽ cho chú ăn uống những thứ rất kinh khủng. Nhưng bà nghiêm mặt: “Các cháu phải vâng lời bà!”. Bà không giải thích gì hơn, nhưng về sau nghe người lớn nói với nhau rằng “nhất đội-nhì trời”, tôi cũng hiểu ra cán bộ đội là những người rất đáng sợ.

 Người lớn trong ấp thì thầm với nhau những tin đồn, rằng ông này ông kia ở nơi này nơi khác đã bị quy là địa chủ, bị tịch thu hết ruộng đất tài sản và bị bắt giam, có người đã bị giết. Người ta còn đồn rằng ở tỉnh nọ có một bà nhà giàu đã nuôi dưỡng các lãnh tụ Việt Minh, ủng hộ nhiều vàng bạc cho chính phủ kháng chiến, lại có con làm chỉ huy bộ đội, mà bà ta hóa ra lại chính  là địa chủ cường hào gian ác, nên đã bị xử bắn. Ở trong ấp, mọi nhà nhốt chặt trâu bò, gà qué, chó má vì sợ bị tịch thu. Người lớn cũng thường ở trong nhà và đóng cửa khóa cổng kỹ càng, trừ khi có việc cần thiết mới đi ra ngoài.

 Thường ngày ông ngoại hay đi câu cá vào buổi chiều, nhưng dạo này ông đi từ sáng, mang theo mấy củ khoai, một quyển sách và ngồi bên bờ suối cho đến sẩm tối mới về. Một hôm, hai anh em tôi theo ông ra suối ngồi câu. Ông mở quyển sách ra và chỉ cho tôi đọc:

 

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…

 

Ông ngoại đưa cho tôi một con dao găm cùn mà ông vẫn dùng để đào giun làm mồi câu cá, bảo hai anh em tôi ra bờ ruộng đào rau má mang về cho bà ngoại luộc ăn thêm cho no bụng. Có mấy bà đi chợ ăn quà rồi vứt vỏ chuối và vỏ ốc bên  bờ ruộng. Em Hùng nhặt vỏ chuối lên gặm, rồi nhặt vỏ ốc lên mút. Tôi bảo nó: “Đừng ăn thế, bẩn lắm!”; nó  chìa vỏ ốc cho tôi xem: “Trong này vẫn còn thịt!”. Bỗng một hôm lại thấy có người đưa em Tuấn về, mà vẫn chưa thấy má về.

 

 

Ít lâu sau, má đi chỉnh huấn về, kêu hai đứa chúng tôi gầy quá, rồi ôm lấy em Tuấn khi ấy chỉ còn da bọc xương, đầu nó còn bị chốc lở rất tội nghiệp. Tôi thấy má cũng rất gầy, nhưng có má ở nhà là vui lắm rồi. Má mang về một quyển cắc nê, trong có chép mấy bài hát mới: “Ngày mùa” (của Văn Cao), “Vượt trùng dương” và “Tiếng hát Dôi-a” (của Nguyễn Văn Tý), “Đông phương hồng” (của Trung Quốc)… Tôi bảo má hát cho tôi học. Trong nhà đã lâu không có ai ca hát, nay được nghe má hát mấy bài mới, nên tôi nghe rất thích và thuộc cũng rất nhanh. Bài Đông phương hồng ngắn gọn dễ thuộc nhất, khi hát tôi thấy hình ảnh Bác Mao hiện lên rực rỡ:

 

Đông phương hồng, mặt trời lên

Trung hoa chúng ta có Mao Trạch Đông

Với nhân dân , Người là cứu tinh

Ta hát vang lời ca nhớ ơn Người.

 

Má kể chuyện chỉnh huấn cho cả nhà nghe, và tôi cũng được chầu rìa. Ở lớp chỉnh huấn, mọi người được ăn cơm tập đoàn, nhưng ăn uống kham khổ mà cơm rất ít, chỉ những ai ăn nhanh mới tạm được no, còn má ăn chậm nên thường bị đói. Má phải đưa tiền để gửi em Tuấn cho một gia đình nông dân ở gần đó nuôi giúp, không hiểu họ cho em ăn uống như thế nào mà em luôn bị ỉa chảy. Có lần má thấy Tuấn tự bốc cơm ăn trong một cái rá nhỏ có ruồi bâu đầy. Khi má tìm mua sữa cho em, một người bắt gặp và hỏi: “Tại sao con đồng chí lại phải dùng sữa bò của Pháp? Con nông dân có bao giờ dùng sữa này đâu?”. Má phải thanh minh rằng mình đã gửi con cho nông dân nuôi, và cũng đã học tập nông dân nhai cơm mớm cho con, nhưng phải mua thêm sữa vì “con tôi không khỏe bằng con nông dân, và đang bị ốm”. Tuấn ỉa chảy nhiều quá, má phải thuê người cõng em về cho bà ngoại chăm sóc giúp, để mình ở lại học xong lớp chỉnh huấn. Người ấy cõng em Tuấn đi bộ từ tang tảng sáng đến giữa trưa thì về đến nhà. Khi ấy Tuấn đã lả người đi vì mệt.

 Trên hội trường, mọi người được nghe cấp trên huấn thị về giai đoạn cách mạng mới, về đấu tranh giai cấp, về cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất, về lập trường giai cấp của người cán bộ cách mạng…Thảo luận ở tổ, lần lượt mỗi người đều phải “ôn nghèo nhớ khổ”, kể cho cả tổ nghe về hoàn cảnh gia đình mình, để  tổ góp ý xem gia đình mình thuộc thành phần giai cấp gì. Rồi mỗi người tự viết một bản kiểm thảo về lập trường giai cấp để nộp lên cấp trên phê duyệt. Bản  nào chưa đạt yêu cầu sẽ phải viết lại. Đến lượt mình, má kể hết sự thật cho tổ nghe về hoàn cảnh gia đình mình, từ thời con gái có cha làm thông phán tòa án Hà Nội, cho đến khi theo chồng đi kháng chiến rồi trở thành giáo viên. Ngay sau đó, giữa các đồng chí trong tổ với má tôi đã diễn ra một cuộc đối đáp như sau:

 

-          Đề nghị đồng chí Thảo nói rõ hơn về những tội ác mà bố đồng chí đã gây ra cho nhân dân  khi ông ta làm  việc  cho

dân khi ông ta làm việc cho tòa án của thực dân Pháp!

-          Bố tôi là một người nhân đức, luôn làm điều tốt cho mọi người mà không cần ai báo đáp, không gây tội ác với ai cả!

-          Đồng chí vẫn chưa thành khẩn. Bố đồng chí đã làm tay sai cho Pháp thì nhất định phải phạm tội ác với nhân dân. Đề nghị đồng chí suy nghĩ sâu sắc hơn rồi trình bày lại với tổ.

-          Từ tấm bé, tôi đã được bố dạy là phải thật thà, không được nói dối. Bố tôi và gia đình tôi như thế nào, tôi đã kể hết sự thật với các đồng chí. Tôi không thể bịa ra tội ác của bố để làm vừa lòng các đồng chí được.

-          Vậy đồng chí có suy nghĩ gì về lập trường giai cấp?

-          Tôi thú thật là vẫn chưa hiểu rõ lắm về lập trường giai cấp, nên chỉ biết sống sao cho lương thiện và tử tế với mọi người.

-          Nếu đồng chí vẫn khăng khăng giữ lập trường như vậy, bản kiểm thảo của đồng chí sẽ không được cấp trên chấp nhận.

-          Tôi chỉ biết viết kiểm thảo đúng như đã trình bày với tổ, không còn biết cách nào để viết khác nữa. Nếu cấp trên không chấp nhận, thì xin các đồng chí cho tôi về, không tham gia chỉnh huấn nữa.

 

Không hiểu bằng cách nào mà má tôi đã thoát khỏi sự việc rắc rối đó. Rất có thể là trong ban lãnh đạo chỉnh huấn có một vài người quen biết ba tôi, nên vì nể người quen ở trung ương ấy mà họ tìm được cách cho qua sự việc đối với vợ của ông.

 Lớp chỉnh huấn còn được nghe một số người lên báo cáo điển hình về thành tích đấu tố, để làm gương cho người khác noi theo. Má nhớ nhất tấm gương của cô Tư, một đồng nghiệp của má nhưng dạy ở xã khác. Mẹ của cô này đã bị đội cải cách quy thành phần là địa chủ. Cô đã dứt khoát cắt đứt quan hệ với gia đình, đứng hẳn về phía lập trường giai cấp nông dân. Trong cuộc đấu địa chủ, cô chỉ tay vào mặt người đã sinh thành và nuôi dạy mình, tố cáo tội ác của mẹ trong việc bóc lột và áp bức những người bần cố: “Con kia, mày đã biết tội chưa?”.Nhờ thành tích nổi bật này, cô được lãnh đạo cho đi báo cáo điển hình ở nhiều nơi, rồi được đưa sang Trung Quốc đào tạo, để trở thành cốt cán của Đảng ta sau này.

 Đến ngày học cuối cùng, mọi người mới được ăn một bữa cơm có thịt lợn luộc. Má nhai mãi một miếng thịt mà không muốn nuốt vì sợ mất hương vị thơm ngon của nó. Ngay đêm đó, má cùng một số đồng nghiệp đi bộ về, bị lạc đường vào một bãi tha ma, nhưng rồi cũng tìm được đường về đến nhà trước khi trời sáng. Những chuyện kể của má bám theo tôi suốt đời để suy nghĩ về chúng.

 Mãi mãi tôi cũng không quên hình ảnh ông ngoại ngồi trầm tư bên bờ suối với chiếc cần câu, chiếc giỏ tre và quyển Truyện Kiều. Khi ấy ông suy nghĩ gì? Từng là một công chức mẫn cán về tư pháp, chắc rằng ông hiểu rõ công lý là gì và làm thế nào để đạt được nó. Ông đã từ bỏ hết nhà cửa sản nghiệp ở thủ đô, đi theo chính phủ kháng chiến để mong tìm đến một “thế giới đại đồng” với các “ấu trĩ viên” và “an lão đường” mà cách mạng đã hứa hẹn. Nhưng có lẽ ông không thể hiểu được rằng giờ đây người ta đang thực hiện loại công lý gì? Chẳng lẽ thế giới đại đồng lại được xây dựng từ thứ công lý ấy? Vì sao thời cuộc bể dâu lại dẫn tới cái thực trạng như thế này?

 

 

Ông ngoại tôi vốn bị đau dạ dày, nay dường như do tâm trạng u uất và ăn uống quá thiếu thốn mà bệnh tình lại càng nặng hơn. Cả nhà quyết định phải  đưa ông về Hà Nội. Một chuyến đi về Hà Nội có nghĩa là rời vùng tự do của ta để vào vùng tạm bị chiếm của địch, phải băng qua chiến tuyến giữa hai bên. Đó là một việc rất khó khăn nguy hiểm, nhất là khi các cán bộ đội và dân quân du kích vẫn thường xuyên tuần phòng trong ấp để chống các âm mưu của địa chủ, chưa kể là ông sẽ đi bằng phương tiện gì, vì ở vùng tự do không có ô tô. Vừa may khi ấy gia đình ông Tham Chữ tổ chức một chuyến đi bí mật về Hà Nội, ông ngoại đã theo gia đình này và chuyến đi trót lọt.

LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác