NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - Chương 2 (phần 4)

( 11-12-2013 - 06:18 PM ) - Lượt xem: 603

Tôi say mê tập vẽ chân dung ba vị lãnh tụ theo trí nhớ của mình. Hóa ra hình Bác Mao không có râu mà có vầng trán cao, mái tóc gợn sóng và nốt ruồi dưới cằm dễ vẽ nhất. Hình Bác Xít Ta Lin có bộ râu mép oai vệ và khuôn mặt nghiêm trang trong bộ quân phục khó vẽ hơn. Nhưng vẽ chân dung Bác Hồ là khó nhất. Khi vẽ Bác, tôi luôn thầm hát bài “ Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng”:

        4. Ba vị lãnh tụ

 

Bước sang năm mới 1953, cuộc sống của cả nhà ông bà ngoại cùng với má con tôi trở nên rất khó khăn. Số tiền bạc mang theo từ ngày rời Hà Nội đi tản cư đã vơi cạn gần hết, khung cửi bị bỏ xó vì vải không bán được, thóc lúa thu hoạch chỉ đủ ăn một cách dè sẻn. Đến bữa cơm, cả nhà vẫn quây quần quanh chiếc chiếu trải dưới đất, nhưng trên chiếc mâm đồng thường chỉ có một đĩa rau luộc với bát nước rau, một đĩa cá giếc kho khế hay các loại cá vụn khác, một chén mắm tép kèm đĩa rau thơm hái trong vườn với bát cà muối hoặc những quả sung tươi hái trong vườn. Có lần ăn xong một bát cơm tôi xin thêm bát nữa, thì người lớn ngồi ở “đầu nồi” bảo đã hết cơm, rồi cho tôi một củ khoai. Từ đây, thằng cu Vân bụ bẫm mỗi ngày một gầy đi trông thấy, nhưng em Tuấn tôi còn gầy yếu và còi cọc hơn nhiều vì thường xuyên phải bú nước cháo mà không được một giọt sữa mẹ, cũng chẳng mấy khi có sữa bò vì khó có thể mua được. Má nghĩ phải tìm việc làm để có thêm thu nhập mà nuôi con. Cảm thương hoàn cảnh bà chị vợ, chú Trinh đèo  chị bằng xe đạp lên Phòng Giáo dục huyện để nộp đơn xin đi dạy học. Rất may, huyện đang thiếu giáo viên mà ông trưởng phòng lại là người quen đã từng dự đám cưới của ba má tôi ở thị xã, nên má tôi được nhận ngay công lệnh bổ nhiệm làm giáo viên Trường phổ thông Cấp 1 xã Liên Thịnh huyện Hậu Lộc. Đi dạy học, má được phát lương hàng tháng bằng gạo và một ít tiền, nên gia đình cũng đỡ đói hơn trước.

 Dì Trinh có rất nhiều sữa cho con bú nên bé Lan Anh phổng phao nhanh  chóng, khác hẳn anh họ của nó là Tuấn ngày càng còi cọc. Đã có lúc vợ chồng chú Trinh bàn đến việc nhận bé Tuấn về nuôi thay cho chị Thảo!

 Ở nhà, khi người lớn bận tôi phải  trông em Tuấn. Nhưng thường thì tôi chơi với em Hùng bên gốc một cây mít lớn, lấy lá làm các thứ đồ chơi hay hái những quả non mới nhú gọi là “dái mít” để chấm muối ăn, hoặc lấy nhựa mít quấn vào đầu thanh tre để bắt chuồn chuồn, có lúc lại lấy dọc lá chuối làm súng bắn kêu từng loạt. Khi đã chán thì hai anh em đi rong trên khắp các đường làng, tìm những thứ ăn được trong các bụi cây bên đường: vài quả “tóc tiên” chín vàng có vị chua ngọt và thơm, một đọt cây “mâm xôi” non tước vỏ đi là ăn được, hoặc mấy quả chín đỏ của loại cây này ngon chẳng kém gì “tóc tiên”; có lúc lại tìm được một vài chùm hoa dẻ thơm lừng. Nhưng thú vị nhất là khi vào vườn ổi của một nhà nào đó, hái được những quả ngon trên những cành thấp hay nhặt  những quả chín rụng nhưng vẫn lành lặn. Rồi chúng tôi còn đi ra khỏi ấp, đến miếu Sơn Thần  tọa lạc nơi một bãi cỏ rộng trên sườn núi, có hàng cây thông cao vút mà gió thổi làm phát ra những tiếng vi vu thật lạ tai. Nơi đây bọn trẻ chăn bò với nón mê áo rách thường tụ họp thả diều hay chơi đánh khăng đánh đáo, thỉnh thoảng lại vật nhau rất hăng, trong khi bò của chúng ung dung gặm cỏ gần đó. Bọn trẻ lớn hơn anh em tôi, nhưng họ không bắt nạt mà còn cho chúng tôi chơi chung. Có hôm mải chơi đến khi mặt trời sắp lặn, chúng tôi còn được cưỡi bò về cùng với họ. Vắt vẻo trên lưng bò, bọn trẻ hát những bài đồng dao có nhạc điệu tha thiết với ca từ nghe rất tình cảm. Tối đó, tôi bị má đánh đòn vì tội dẫn em đi chơi xa không xin phép và về muộn. Tuy nhiên, cảnh hoàng hôn bên sườn núi, với đàn bò lững thững trở về trong tiếng hát đồng dao hòa quyện với khói lam tỏa ra từ những mái tranh thấp thoáng trong lũy tre xanh đã in đậm trong tâm trí tôi suốt thời thơ ấu. Ngược đường đến miếu Sơn Thần là con  đường đất qua một bãi tha ma để đi chợ, nên được gọi là “đường Chợ”. Bãi tha ma rất rộng với cỏ mọc xanh tốt trên nhiều ngôi mộ nằm rải rác, cũng là một nơi tụ họp của bọn trẻ chăn bò và anh em tôi cũng thường đến đây chơi với họ. Khi về nhà với hai ống quần cắm đầy hoa cỏ may, chúng tôi còn mang theo những gì hái được ở đó:  những quả sim chín màu tím đậm ngọt lịm và những bông hoa mua màu tím nhạt có nhị vàng cho em Tuấn chơi.

 

 

Từ trước ngày xin đi dạy học, má đã bắt đầu dạy chữ cho tôi. Tôi thích học nên tiếp thu rất nhanh, nhưng thỉnh thoảng cũng bị má cốc đầu bảo “ngu!”. Mới võ vẽ biết đọc và viết, hễ thấy chỗ nào có chữ là tôi lập tức đọc cho bằng được, và cứ có giấy bút hay phấn trong tay là tôi tập viết chữ, rồi sau đó chuyển sang tập vẽ. Tôi rất thích xem cậu Bính vẽ và thường hay bắt chước cậu. Hồi ấy, cậu hay vẽ chân dung “ba vị lãnh tụ” là Bác Hồ của Việt Nam, Bác Mao của Trung Quốc và Bác Xít Ta Lin của Liên Xô. Một hôm, cậu Bính làm được một cái gì đó rất bí mật, rồi rủ hai anh em tôi xuống nhà bác Thương Oánh để “xem xinêma” cùng các con của bác là anh Đồng, anh Đường, chị Đàn, chị Thu. Trong căn nhà đóng kín cửa được che chắn tối om, trên chiếc xe đạp được nhấc khỏi nền nhà bằng một sợi dây thừng to thòng từ trên mái xuống, một anh cùng trạc tuổi cậu Bính ra sức đạp cho bánh xe quay tít. Đèn xe phát sáng chiếu lên bức tường trắng hình ảnh Đại Nguyên soái Xít Ta Lin rất to. Tiếp theo, trên tường lại hiện ra hình ảnh một quả địa cầu có con chim bồ câu trắng ngậm một cành lá. Tuy chỉ có hai “phim” do cậu Bính vẽ được chiếu bằng phương tiện thô sơ như vậy, buổi “xem xi nê ma” đặc biệt ấy đã trở thành kỷ niệm không quên trong tâm trí tôi. Bắt chước cậu, tôi say mê tập vẽ chân dung ba vị lãnh tụ theo trí nhớ của mình. Hóa ra hình Bác Mao không có râu mà có vầng trán cao, mái tóc gợn sóng và nốt ruồi dưới cằm dễ vẽ nhất. Hình Bác Xít Ta Lin có bộ râu mép oai vệ và khuôn mặt nghiêm trang trong bộ quân phục khó vẽ hơn. Nhưng vẽ chân dung Bác Hồ là khó nhất. Khi vẽ Bác, tôi luôn thầm hát bài “ Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng”:

 

Bác chúng em dáng cao cao, người thanh thanh

Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài

Bác chúng em nước da nâu vì sương gió

Bác chúng em thề cương quyết rửa thù nhà…

 

Cố vẽ Bác sao cho thật giống hình ảnh như thế, sửa đi sửa lại nhiều lần mà tôi vẫn thấy chưa được.

 Chẳng bao lâu sau, tôi được cùng đi với cậu đến một chỗ rất đông người, nhưng không vui mà lại rất buồn bã. Phía trước đám đông nổi lên duy nhất một bức ảnh Bác Xít Ta Lin được viền trong những dải băng đen nhỏ, phía trên có một băng vải đen lớn với một dòng chữ trắng: “ Lễ truy điệu Đại Nguyên Soái Stalin”. Các lá cờ đỏ đều được gắn dải băng đen và treo rủ xuống. Sau lễ chào cờ với quốc ca hai nước Liên Xô và Việt Nam, một ông bước lên lễ đài đọc một bài rất dài. Tôi nghe mà không hiểu, nhưng cũng cảm thấy lờ mờ rằng nhờ có Bác Xit Ta Lin và một Bác nữa tên là Lê Nin nên dân Liên Xô và cả nhiều nơi khác được sống rất là sung sướng; nay Bác mất rồi thì tất cả mọi người đều vô cùng thương tiếc. Bỗng có tiếng hô: “Nghiêm! Phút mặc niệm bắt đầu!”. Mọi người đứng im phăng phắc và cúi đầu xuống. Một bài ca trầm hùng cất lên:

 

Stalin! Đây đó nhân loại đớn đau nghiêng mình tưởng nhớ đến Người

Em bé đang cười thoáng tin buồn tới lặng ngừng phút vui.

Stalin! Nước mắt trào dâng khăn tang cuốn vành lặng in bóng Người

Toàn dân đứng lên ngưỡng mộ về Người lời ca khắp nơi.

Công đức Người mênh mông như cánh đồng bát ngát

Dòng kinh, lời hát vang muôn đời ngợi ca.

Tay dẫn đường Liên Xô xây xã hội vui no

Theo bước Lê Nin đấu tranh xây mùa tự do!...

 

Đó là bài “Ca ngợi Stalin”, một bài ca chiêu hồn cực kỳ hay, gây xúc động sâu sắc khiến nhiều người bật khóc và tôi ghi nhớ mãi. Về sau, khi được đọc những bài thơ đặc biệt của Tố Hữu, kể rằng con ông bắt đầu tập nói bằng tiếng đầu tiên là “Stalin”, rằng ông thương Stalin gấp mười lần so với tình thương mà ông dành cho bố mẹ vợ con và ngay chính bản thân mình, tôi nghĩ có lẽ nhà thơ đã muốn chứng tỏ rằng trình độ ca ngợi của ông đối với vị lãnh tụ vĩ đại vừa từ trần còn hơn tác giả bài ca này mà tôi không biết là ai. Mãi đến nhiều năm sau nữa, tôi mới được biết thi hài Bác Stalin được đưa vào Lăng mộ của Bác Lênin bên tường thành Điện Kremli ở thủ đô Liên Xô để hai Bác được nằm cạnh nhau cho toàn dân tôn thờ mãi mãi.

 

 

Một hôm đang chơi ở bãi tha ma cùng bọn trẻ chăn bò, chúng tôi nghe có tiếng ì ầm kỳ lạ, rồi bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống rất nhiều tờ giấy bay lả tả. Cả bọn tung tăng chạy nhặt giấy. Tôi chưa kịp đọc xem giấy viết gì, thì có một chú đeo súng đội mũ lá từ đâu chạy đến ra lệnh: “Đem tất cả lại đây!”. Chú bảo rằng đó là truyền đơn của địch có thuốc độc do tầu bay thả xuống, không đứa nào được đọc. Chúng tôi vội vã nộp ngay cho chú rồi chạy vù về nhà rửa tay thật kỹ. Chỉ mấy hôm sau, chúng tôi đã được trông thấy tầu bay. Sau khi có tiếng kẻng vang khắp xóm làng, cậu Bính dẫn cả nhà chạy lên núi và nấp bên một khe suối nước chảy róc rách. Những tiếng ì ầm đáng sợ vọng đến mỗi lúc một to, rồi từ trên trời phía miếu Sơn Thần xuất hiện 3 chiếc tầu bay đen trũi trông rõ mồn một nối tiếp nhau bay qua làng Phú Thịnh. Mấy đám khói đen bốc lên từ lũy tre làng cùng mấy tiếng nổ khiến tôi giật bắn mình vội chúi đầu xuống. Khi ngẩng lên thì không thấy tầu bay nữa. Mọi người bảo: “Chúng ném bom vào làng!”. Trên mâm cơm chiều hôm ấy có một đĩa thịt xào rắc lá chanh thái mỏng. Người lớn bảo rằng chưa được ăn thịt trâu bao giờ, nay ăn thử xem sao. Còn tôi thì cảm thấy thịt này ngon chưa từng thấy. Qua câu chuyện của người lớn, tôi biết rằng bom địch đã giết chết mấy con trâu làng Phú Thịnh, dân làng  xẻ thịt chúng chia cho bà con họ hàng. Từ ngày đó, tôi tập gấp tàu bay giấy và anh em tôi có thêm trò chơi phóng máy bay. Tôi cũng được nghe nói về các loại tầu bay “bà già”, “khu trục”, “phóng pháo” với những cái tên kỳ lạ như “bê vanh xít”, “bê vanh nớp”. Còn bọn trẻ chăn bò thì có thêm một bài đồng dao mới:

 

Thằng bê vanh xít

Cái đít cong cong

Nó lượn một vòng

Nó bắn lung tung.

 

Vào một buổi tối, cậu Bính đem ở đâu về một quyển sách to có nhiều ảnh. Quanh ngọn đèn dầu, cả nhà xúm vào xem. Có một bức ảnh được mọi người chú ý và bàn tán rất nhiều. Tôi cố chen vào xin được xem. Cậu Bính giao hẹn: “Xem không được sợ nhé?”; tôi đáp: “Cháu không sợ!” và được cậu chỉ cho xem. Trong ảnh là một đứa bé trạc tuổi tôi đang nằm, chân tay cháy đen và trên mặt nó chỉ có một mắt thô lố giữa một đám bèo nhèo không còn nhìn ra đâu là mũi, miệng và con mắt kia. Dòng chữ dưới ảnh viết: thực dân Pháp thả bom na pan giết trẻ em. Kinh khủng quá, tôi vội gấp sách lại. Thảo nào bà ngoại cứ lắc đầu mà nói đi nói lại: “Trời ơi! Sao người ta ác thế!”. Đêm ấy, tôi lại nằm mơ thấy thằng bé cháy đen với bộ mặt đáng sợ ấy. Hôm sau, khi người lớn vắng nhà tôi lại trông thấy quyển sách với dòng chữ “Hình ảnh Việt Nam” trên bìa, nhưng không dám đụng đến nó.

 Thỉnh thoảng má lại cho hai anh em tôi đi theo đến trường. Má dạy học trong lớp, còn chúng tôi chơi ngoài sân. Nhặt được vài cục phấn, tôi liền ngồi vẽ trên mảnh sân lát gạch. Mấy người nông dân đi qua trường thấy tôi vẽ liền vào xem. Tôi vẽ mái tóc lượn sóng, vầng trán cao, khuôn mặt đầy đặn, rồi lần lượt đến mắt, mũi, miệng, tai. Chưa kịp vẽ cổ áo và chấm nốt ruồi dưới cằm, tôi đã nghe mọi người kêu lên: “ Ồ, nó vẻ Bác Mao giống quá, cống ạ!” (người xứ Thanh thay tất cả các dấu ngã bằng dấu hỏi, và mấy tiếng “các ông ạ!” được giản lược thành “cống ạ!”). Được khen, tôi phổng mũi vẽ thêm hai Bác nữa. Khán giả vây quanh mỗi lúc một đông, nhiều người trầm trồ: “ Thằng bé tài quá!”. Từ đó, thỉnh thoảng tôi lại trình diễn tài cho mọi người xem. Má và cậu Bính bảo tôi có khiếu vẽ, và tôi cũng tự tin như vậy.

TS.LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác