NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - Chương 2 (phần 3)

( 10-12-2013 - 06:27 AM ) - Lượt xem: 587

Bà ngoại với dì Quỳ hay kéo sợi bằng chiếc xa quay tay mà tôi rất thích quay mỗi khi được phép. Tôi còn tỉ mẩn xem cái cày và những chiếc liềm, hái, cào cỏ và gàu tát nước. Có lần, khi cậu Bính vác cày và dắt trâu ra đồng, tôi đã lẽo đẽo theo sau để xem cậu cày ruộng như thế nào

 3. Làng quê thanh bình

 

Mọi đứa trẻ ra đời phải đến một tuổi nào đó mới nhận biết được sự hiện diện của mình trong xã hội loài người. Lần đầu tiên tôi nhận ra sự tồn tại của chính mình trên cõi đời này là lúc lên 4 tuổi 3 tháng, được cõng trên lưng chị Thường trong chuyến bộ hành về Thanh Hóa. Tại một quãng đường bằng phẳng, tôi bỗng thấy ở bên đường có những cái cây thẳng tắp không lá, mà có những cành ngang trên đó mang những vật lạ tựa như cái ấm tích thu nhỏ, đeo chằng chịt rất nhiều sợi dây. Tôi hỏi:

 

-          Chị Thường ơi, sao cái cây kia có nhiều ấm tích quá?

-          Không phải đâu em, đấy là những cọc sứ để buộc dây thép.

-          Đấy là cây gì ạ?

-          Đấy không phải cây, mà là cột điện mang dây thép.

 

Tại một chặng đường khác, tôi bỗng thấy một đám đông người đứng bên một dòng nước mênh mông đỏ ngầu cuồn cuộn chảy; rồi hoảng sợ thét lên vì cảm thấy chới với bềnh bồng muốn ngã khi được bế vào một vật lạ đang nổi trên mặt nước. Tôi chỉ yên tâm khi được ôm gọn trong lòng chị Thường và trông thấy má ôm em Hùng, ba cùng cậu Chương cũng ngồi ở đó. Thì ra đó là một con thuyền đưa gia đình chúng tôi qua sông ở một bến đò hẻo lánh. Sau này, má tôi kể rằng cuộc vượt sông ấy rất nguy hiểm, vì nước chảy xiết mà thuyền chở nặng đến mức mạn thuyền chỉ cách mặt nước chừng 2 đốt ngón tay, chỉ cần một cử động bất cẩn nào đó là thuyển có thể bị lật úp và chìm xuống sông. Rất may là đã không xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Ngoại trừ chiếc ấm tích lọt vào tâm trí tôi từ lúc nào và bằng con đường nào không rõ, những chiếc cột điện, dòng sông và con thuyền kể trên là những sự vật đầu tiên mà tôi tự biết rằng mình đã nhận thức được. Từ đó, tôi bắt đầu tiếp nhận và nhớ những sự việc diễn ra trong đời mình.

Những đôi chân của đoàn bộ hành được tạm nghỉ khi mọi người được lên thuyền xuôi dòng ở một bến đò khác. Trên sông đông đúc thuyền mảng vang dội những tiếng “dô hò-dô huậy!”, “ dô tá-dô tà!” tiếp theo những câu hát rất hay theo nhịp chèo thuyền của những người đàn ông lực lưỡng. Về sau, tôi biết rằng đó chính là điệu “Hò sông Mã” nổi tiếng của tỉnh Thanh. Ròng rã hơn 20 ngày đêm, đoàn bộ hành của gia đình ông Đổng với hai người cùng đi đã về đến đích vào một chiều mát mẻ. Khi mọi người chuẩn bị bước vào ngôi nhà tranh vách đất với cánh cổng bằng tre, có một cô gái đứng trong sân nhìn ra rồi chạy biến vào nhà. Lát sau, những người trong nhà lục tục ra sân, ngỡ ngàng nhìn những người mới đến rồi reo lên mừng rỡ: “Ô! Anh chị Nguôn đã về!”. Mọi người tíu tít trò chuyện và kéo nhau vào nhà. Em Hùng và tôi được ôm hôn tới tấp, rồi được ba má dẫn đến khoanh tay chào ông bà ngoại với cậu Bính và hai dì. Tôi cảm thấy sung sướng vì được thêm nhiều người yêu thương mình. Về sau, kể lại giây phút trùng phùng này, má tôi bảo: dì Quỳ đứng ngoài sân trông thấy ba má nhưng không nhận ra, lại tưởng là những người Mán trên rừng kéo đến xin ăn, nên hoảng sợ chạy vào nhà báo tin. Má tôi cũng không nhận ra cô em gái út bé bỏng nay đã trở thành một thiếu nữ tuổi trăng tròn.  Năm năm xa cách đã thay đổi con người quá nhiều.

 Sau ngày ba má tôi rời tỉnh Thanh lên Việt Bắc, gia đình ông bà ngoại được Bộ Canh nông đưa về khu an toàn Thanh Sơn thuộc tỉnh Nghệ An. Ông đã viết bài “Tự ngẫm” bày tỏ tinh thần quyết theo kháng chiến của mình:

 

Không phải Trạng nguyên, chẳng phải ông Nghè

Ngày làm vất vả, tối nằm sạp tre

Bao nhiêu bệnh tật, khó khăn, địch họa

Một lòng vì nước, có ngại ngần chi!

 

Với tinh thần ấy, ông bà quyết định trở về quê hương bản quán của bà tại làng Phúc Thịnh, xã Liên Thịnh, huyện Hậu Lộc thuộc vùng tự do tỉnh Thanh hóa để sinh sống lâu dài. Ông bà đã làm lễ “nhập đinh” và được làng cấp ruộng ở đây.

Sau ít ngày nghỉ ngơi để ổn định cuộc sống cho vợ con tại nhạc gia, ba tôi cùng cậu Chương lại lên đường trở về Việt Bắc tiếp tục công tác, còn chị Thường vẫn ở lại giúp việc  má tôi cùng cả nhà ông bà ngoại. Một hôm, ông bà ngoại nhận được lệnh của chính quyền xã, yêu cầu mỗi gia đình cử 1 người đi dân công phục vụ chiến dịch của quân đội. Chị Thường liền được chọn cử thay mặt gia đình đảm trách nghĩa vụ quốc gia này, với một đôi quang gánh và tiền gạo mang theo đủ dùng. Một tháng sau, trở về nguyên vẹn cùng với đôi quang gánh đã mang đi, chị xin má tôi nói với ông bà ngoại cho thôi việc để về quê tìm chồng. Không thể thuyết phục được chị ở lại, má tôi cùng ông bà đành để chị ra đi, sau khi đã thưởng công xứng đáng cho người giúp việc tài giỏi và tận tình ấy. Chị hôn tôi rất nhiều trước lúc chia tay. Kể từ đó, tôi bắt đầu được ngồi vào mâm cùng với người lớn và được dạy phải mời tất cả mọi người trước khi tự xúc cơm ăn. Má tôi chỉ phải xúc cơm cho em Hùng cũng như khi còn có chị Thường. Về sau, cứ mỗi lần kể lại những ngày tháng ở Việt Bắc, ba má tôi luôn nói về chị với những lời lẽ đầy trân trọng, nhưng không tìm gặp lại được, và cũng không nghe tin tức gì về chị Thường nữa.

 

  nhà ông bà ngoại, tôi thường xem người lớn xay lúa giã gạo và cảm thấy thích thú với những vòng quay cối xay hay tiếng chày khoan nhặt theo nhịp chân nhún nhảy đều đều. Tôi cũng hay xem dì Dung ngồi dệt vải với chiếc khung cửi có bàn đạp và một con chim bằng gỗ ở trên cao luôn gật gù theo nhịp chân của dì; còn đôi tay dì thật khéo léo liên tục ném con thoi từ bên này qua bên kia khung dệt. Bà ngoại với dì Quỳ hay kéo sợi bằng chiếc xa quay tay mà tôi rất thích quay mỗi khi được phép. Tôi còn tỉ mẩn xem cái cày và những chiếc liềm, hái, cào cỏ và gàu tát nước. Có lần, khi cậu Bính vác cày và dắt trâu ra đồng, tôi đã lẽo đẽo theo sau để xem cậu cày ruộng như thế nào. Ông ngoại rất ít nói, nhưng tôi luôn thích được ngồi bên cạnh khi ông đọc sách hay chuẩn bị mồi để đi câu cá. Ông thường xoa đầu tôi hoặc cho tôi một thứ gì đó để chơi. Tôi nhớ mãi cách bóc vỏ khoai của ông . Chỉ dùng ngón tay cái và ngón trỏ, còn 3 ngón kia xòe ra rất đẹp, ông cẩn thận bóc vỏ từ trên xuống dưới, sao cho củ khoai không bị sứt sẹo, chừa lại một đoạn vỏ để cầm, rồi đưa cho tôi. Ăn khoai do ông ngoại bóc ngon hơn những củ do tôi tự bóc lấy. Tôi cảm thấy vô cùng sung sướng mỗi khi có cuộc  đàn hát trong nhà. Cùng tham gia với cậu Bính và hai dì của tôi thường có cậu Thinh, cậu Tĩnh con ông Tham Chữ, anh Cát, anh Hà, chị Xuân con bác Vinh và mấy người khác đều là họ hàng thân thích, lại có cả chú Lê Quốc Trinh, một nhà giáo là bạn của dì Dung cùng tham gia với cây đàn violon. Vừa xong công việc đồng áng, mọi người nhanh chóng tắm rửa, cơm nước rồi í ới gọi nhau và cầm lấy những cây đàn. Trong những buổi chiều nắng vàng lộng gió, những buổi tối dưới ánh đèn dầu leo lét hay dưới  ánh trăng mờ ảo, những bản hòa tấu réo rắt vang lên từ những cây đàn alto, banjo, mandoline cùng nhịp đệm guitar, hoặc những ca khúc trữ tình đằm thắm được hát với cả tâm hồn trên nền nhạc đệm, khiến mọi người hết sức say sưa và tôi hoàn toàn mê mẩn. Tôi chăm chú xem cách đánh đàn của người lớn, lắng nghe như uống từng khúc nhạc và nuốt từng lời hát. Cứ như vậy, các ca khúc “Làng tôi”, “Thiên Thai”, “Suối Mơ” của Văn Cao; “Cây đàn bỏ quên”,“Nhạc Tuổi xanh”, “Nương chiều” của Phạm Duy; “Ngày về” của Hoàng Giác; “Nụ cười sơn cước” của Tô Hải; “Sơn nữ ca”, “Lời người ra đi” của Trần Hoàn; “Tình quê hương” của Việt Lang; “Xuân và Tuổi trẻ” của La Hối; “Bướm hoa”,“Đêm đông” của Nguyễn Văn Thương; “Con thuyền không bến”, “Đêm thu”, “Giọt mưa thu” của Đặng Thế Phong; “Dư âm” của Nguyễn Văn Tý…thấm sâu vào tâm hồn tôi từ thời thơ ấu. Dĩ nhiên hồi ấy tôi không biết tên các bài hát và tác giả của chúng, nhưng nhạc và lời các ca khúc ấy thì gần như đã thuộc lòng. Khi có dịp, tôi lại thử “chơi” các loại đàn như người lớn, kể cả chiếc ghi ta to tướng mà lúc ôm nó phải đặt cằm lên thùng đàn. Thỉnh thoảng má tôi cũng đóng góp một vài tiết mục, nhưng thường chỉ ngồi thưởng thức.

Một hôm, trong lúc đang nấu cơm, bà ngoại gọi hai anh em tôi vào bếp và dặn: “ Từ nay các cháu không được gọi tên dì Dung nữa, mà phải gọi là dì Trinh hay dì Giáo nhé!”. Chúng tôi vâng lời bà nhưng không hiểu vì sao lại như vậy. Sau này mới biết rằng chú Trinh và dì Dung đã cưới nhau nên phải gọi dì theo tên hoặc chức danh của chú. Chẳng bao lâu sau, dì Giáo đã sinh được một bé gái bụ bẫm kháu khỉnh được đặt tên là Lê Lan Anh.

Lại một hôm, dì Quỳ gánh vải do nhà dệt ra chợ. Khi về, dì đặt phịch quang gánh với vải vẫn còn trong thúng xuống đất và buồn bực nói với má tôi: “ Em định bán vải để mua quà Trung thu cho các cháu, mà chẳng có người mua!”. Nhưng dì vẫn cho tôi với em Hùng mỗi đứa mấy thanh kẹo “chè lam” thơm ngon, khiến tôi hiểu rằng Trung thu là một ngày vui mà trẻ con được tặng quà. Càng vui sướng hơn khi được dự buổi hòa nhạc dưới ánh trăng đêm đó, với một ca khúc được trình tấu rất hay, nhưng mãi cho đến nay tôi vẫn không biết nó tên là gì và do ai sáng tác:

 

Vầng trăng lên cao, ánh sáng xanh mờ mờ lan khắp trời mây

Bờ tre rối tóc, vướng vít bập bênh trôi, trôi theo gió chiều

Hàng cau bát ngát, quấn quýt uốn nghiêng nghiêng,

nghiêng nghiêng bóng hiền

Rặng cây xanh xanh, xanh như bao mái tóc thanh xuân đắm

say.

Hòa theo gió, tiếng ca đằm thắm, tiếng ca khôn cùng

Của nước non, ngập ánh trăng

Đời ta vui nghe khúc hát ca trăng

Của bao tiếng non sông đang hòa hợp êm đềm

Đời ta vui nghe khúc hát ca trăng

Muôn đời ánh trăng!...

 

Chè lam, bỏng cốm và bánh đa là những món quà hai anh em tôi thường mong ngóng khi bà ngoại và các dì đi chợ. Có một vài lần chúng tôi được người lớn cho đến một nơi vắng vẻ mà râm mát trên đường vào ấp để ăn bánh khoái ở quán ông Lâm, rồi ăn kẹo lạc ở quán ông Khà ngay bên cạnh. Tôi nghĩ đó là những món ngon tuyệt trần. Còn má tôi thì chỉ thèm ăn ốc mút. Đó là những con ốc nhỏ bằng đầu đũa, dài chưa đến một đốt ngón tay, có trôn nhọn hoắt, được luộc với lá chanh mà phụ nữ thôn quê thường ăn trên đường đi chợ về. Muốn thưởng thức món này, người ta phải đút trôn ốc vào lỗ thủng của một đồng chinh để bẻ nó, rồi đưa miệng ốc vào miệng mình mà mút lấy thịt. Suốt mấy tháng trời tôi thường thấy má xì xụp ăn ốc mút. Mãi về sau tôi mới biết, vì mang thai một đứa em nữa của tôi từ trước cuộc bộ hành rời Việt Bắc về đây, nên má bị ốm nghén mà thèm ăn món lạ này.

 

Khi bụng đã khá to, má tôi mua được một ngôi nhà gỗ với tường đất mái tranh rất khang trang ở ấp Hà Thanh, do một người bà con bán lại để “dinh tê” về Hà Nội. Cả gia đình ông bà ngoại cùng má con tôi dọn về ở nhà mới. Ấp Hà Thanh dựa lưng vào một dãy núi khá cao, có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp với mấy con suối nhỏ nước trong vắt róc rách chảy từ  đỉnh núi xuống cánh đồng xanh tươi. Ấp do những người bà con họ hàng ở Hà Nội và Thanh Hóa  tạo lập từ lâu, nên được đặt tên như vậy. Do địa thế nơi chân núi, nhà cửa nơi đây được dựng trên những tầng mặt bằng cao thấp khác nhau. Nhà chúng tôi ở chỗ thấp, nhưng bên dưới còn có một số nhà nữa, như nhà bác Thương Oánh có cổng mở ra cánh đồng, còn phía trên thì có nhiều nhà tại các vị trí cao hơn, nhất là nhà ông Đống tọa lạc tuốt trên sườn núi. Chỉ cách làng Phú Thịnh khoảng vài cây số, nên đứng ở ấp nhìn qua cánh đồng vẫn thấy rõ lũy tre xanh, những hàng cau và thấp thoáng những mái nhà tranh của làng.

 Cuối năm 1952, má tôi lại sinh em bé. Theo người lớn kể lại, kỳ sinh nở này của má thật khủng khiếp. Không có ba tôi ở nhà, không có ai am hiểu việc đỡ đẻ như  bà Thường trước kia, không tìm được nữ hộ sinh để nhờ cậy, chỉ có một anh y tá với bà ngoại và hai dì loay hoay giúp má. Đây là một ca đẻ rất khó, mà má lại bị sản giật đùng đùng không còn sức rặn. Cả nhà bấn loạn vì bất lực, hai dì bật khóc vì linh cảm đến hậu quả xấu nhất. Đúng lúc nguy cấp đó, vị cứu tinh xuất hiện. Một cô đỡ danh tiếng trong vùng là chị Đàn, người đã từng hộ sinh cho dì Giáo nay đang trên đường đi công tác, ngẫu nhiên ghé vào thăm gia đình ông bà ngoại tôi và gặp ngay ca vượt cạn nguy nan. Bằng trình độ chuyên nghiệp cao với túi thuốc sẵn có của mình, chị lập tức nhập cuộc với sự trợ giúp của anh y tá. Nhờ đó, má tôi thoát khỏi lưỡi hái tử thần, đứa em trai thứ hai của tôi đã cất tiếng khóc chào đời và được đặt tên là Lê Quốc Tuấn. Dù được sinh vào năm con rồng rất tốt, nhưng lại trong tháng của con chuột quá nhỏ, nên số phận của em tôi chưa chắc đã tốt đẹp, vì chuột khó mà “bọc” nổi rồng!

 Ngay sau khi sinh em Tuấn, má tôi kiệt sức và luôn bị khó thở khi nằm, nên suốt hàng tháng trời phải ngủ ngồi khiến bà ngoại và hai dì phải thay phiên nhau làm chỗ dựa cho má ngủ ngồi. Má hoàn toàn không có sữa cho con bú, nên phải cho em Tuấn đi “bú chực” những phụ nữ nông dân trong xóm đang có bầu sữa mẹ, đồng thời hòa nước cháo với đường phên (một loại đường mía chế biến thủ công đóng thành từng “phên” nhỏ bằng mấy ngón tay, có màu nâu đen không đảm bảo vệ sinh) cho em bú. Vì được nuôi dưỡng như vậy nên em Tuấn thường bị ỉa chảy và rất còi cọc.

TS.LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác