NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - Chương 2 (phần 2)

( 06-12-2013 - 08:11 PM ) - Lượt xem: 570

Bừng sáng lên như ánh thái dương Toàn nhân dân hát ca vui mừng Mừng vì có Đảng Lao động Việt Nam Đảng tranh đấu quyết chí không ngừng Dìu giai cấp dắt giống nòi vùng đứng lên!(…)

  2. Bước ngoặt

 

Khi cuộc sống của gia đình ông Đổng cứ chậm chạp và bình lặng trôi đi ở rừng núi chiến khu, thì trong nước và nước ngoài đã diễn ra những sự kiện làm biến đổi dòng chảy của lịch sử.

 Sau chiến dịch Việt Bắc, thực dân Pháp hiểu rằng không thể nhanh chóng loại trừ được chính quyền Việt Minh chỉ bằng một vài cuộc hành binh. Vì vậy, họ quyết định thành lập một chính phủ Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng, với quân đội của nó cùng quân Pháp chiến đấu chống Việt Minh. Trong khi đó, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đơn độc giữ vững cuộc  kháng chiến trường kỳ, gian khổ và tự lực cánh sinh vì chưa được một cường quốc nào trên thế giới công nhận.

Tình thế đã thay đổi mau lẹ từ mùa thu năm 1949, khi cuộc nội chiến ở Trung Quốc kết thúc với việc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, đuổi Trung Hoa Dân Quốc của Quốc Dân Đảng khỏi lục địa chạy ra đảo Đài Loan. Từ đây, Việt Nam đã tiếp giáp với nước Trung Hoa mới của Đảng Cộng Sản. Trước tình hình mới đang mở ra những triển vọng tốt đẹp cho cuộc kháng chiến của dân tộc, đầu năm 1950 Bác Hồ  đã tiến hành một chuyến công du bí mật sang Trung Quốc gặp Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Mao Trạch Đông, rồi cùng với ông này đi thăm Liên Xô để tiếp kiến lãnh tụ Stalin của Liên bang Xô viết. Nội dung các cuộc hội đàm giữa Hồ Chủ tịch với Mao Chủ tịch và với Đại Nguyên soái Stalin như thế nào không được công bố. Các vị lãnh tụ đã cam kết với nhau những gì cũng không ai được biết. Nhưng kết quả của chuyến công du này đã nhanh chóng được thể hiện rõ: nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lần lượt được Trung Quốc (ngày 16-1), Liên Xô (30-1) rồi đến các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa chính thức công nhận.

Từ đây, VNDCCH trở thành một thành viên của phe xã hội chủ nghĩa, và cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta mặc  nhiên được coi là một bộ phận trong cuộc “chiến tranh lạnh” giữa phe ta với phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu. Sự viện trợ trực tiếp và nhanh chóng của Trung Quốc đã giúp quân đội ta lớn mạnh thành những đại đoàn chủ lực, chuẩn bị tổng phản công địch. Các cố vấn quân sự Trung Quốc được cử sang giúp ta chỉ huy các chiến dịch, rồi các chuyên gia về cải cách ruộng đất của nước bạn cũng sang giúp ta tiến hành cuộc cải cách này. Ở phía đối phương, các chính phủ Mỹ, Anh và nhiều nước khác lập tức công nhận Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại (tháng 2-1950); đồng thời Hoa Kỳ viện trợ ồ ạt cho Pháp và quốc gia đó chống Việt Minh.                                                                                                                                                                                                                                                                                                             

Giữa lúc đất nước đang chuyển mình thì gia đình ông Đổng cũng có một sự kiện quan trọng: cậu con trai thứ hai của ông bà ra đời ngày 9-2 năm đó (nhằm ngày Ông Táo lên chầu trời 23 tháng Chạp năm Kỷ Sửu). Khác hẳn với lần đẻ ra tôi, lần  sinh nở này của má tôi diễn ra đúng với thời gian đã tính trước và được thực hiện rất dễ dàng với một cô đỡ chuyên nghiệp và sự trợ giúp của bà Thường. Khi lọt lòng mẹ, thằng em tôi nhỏ như một con mèo, nhưng khóc rất to chứng tỏ nó khá khỏe mạnh. Má tôi bảo rằng em tôi hết sức may mắn, vì nó được sinh ra vào cuối năm Kỷ Sửu cầm tinh trâu-con thú lớn nhất trong 12 con giáp, nhưng lại vào tháng Chạp cũng là tháng trâu, nên con trâu được “bọc” con trâu thành ra vừa khít! Nhờ sự may mắn đó, cuộc đời em tôi sẽ rất hanh thông, hầu như không gặp trắc trở! Ba tôi đặt cho nó cái tên rất hợp thời: Lê Quốc Hùng.

Thu-Đông 1950, quân ta mở chiến dịch Biên giới quét sạch quân Pháp ra khỏi biên giới Việt-Trung, nối liền căn cứ địa Việt Bắc với nước bạn Trung Hoa anh em, và sau đó là cả phe Xã hội Chủ nghĩa vĩ đại. Khắp chiến khu reo mừng chiến thắng và mọi người tin rằng cuộc tổng phản công đã bắt đầu. Thực dân Pháp vội vàng đưa danh tướng De Lattre de Tassigny sang Đông Dương làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, thiết lập tuyến phòng thủ bằng hệ thống boong ke và vành đai trắng để ngăn chặn Việt Minh đánh vào đồng bằng Bắc Bộ. Chiến sự có vẻ vẫn kéo dài, cơ quan Bộ một lần nữa lại chuyển vào rừng sâu Tuyên Quang và gia đình ba má tôi lại ở trong nhà sàn cùng chủ nhà là người thiểu số. Tại nơi ở mới trong rừng, ba má tôi nuôi thêm một cậu thiếu niên tên là Lương, con một viên chức có hoàn cảnh khó khăn vì quá đông con.

Mùa xuân năm 1951, Đảng Cộng Sản Đông Dương họp Đại hội lần thứ Hai tại Việt Bắc. Trong hội trường đại hội, chân dung các lãnh tụ phong trào cộng sản thế giới là Các Mác, Ăng Ghen, Lê Nin, Xít Ta Lin và Mao Trạch Đông được treo trang trọng phía trên chân dung Hồ Chủ tịch. Các đại biểu tham dự đại hội đều là các đảng viên kỳ cựu được lựa chọn kỹ càng. Khi ấy, ba tôi là bí thư chi bộ của Bộ Lao động nhưng cũng chưa đủ tiêu chuẩn tham dự. Đại hội đã khẳng định đảng ra công khai để lãnh đạo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bằng cách tuyên bố thành lập đảng với một tên mới là Đảng Lao Động Việt Nam. Chẳng hiểu do đâu và từ lúc nào mà tôi đã thuộc lòng và nhớ mãi mấy câu thơ này:

 

Hôm nay mùng ba tháng ba

Là ngày kỷ niệm đảng ta ra đời

Con ơi mẹ dặn mấy lời

Công ơn của Đảng con thời chớ quên.(…)

 

Rất rõ ràng, một nhà thơ nào đó đã sáng tác bài này để tuyên truyền trong nhân dân về sự ra đời vào ngày 3-3-1951 của Đảng Lao Động Việt Nam gắn liền với công ơn của Đảng mà nhân dân cần phải ghi nhớ. Bài viết theo thể lục bát tựa như ca dao thật bình dân và dễ nhớ, khiến cho mọi người nhập tâm một cách tự nhiên mà không mấy ai thắc mắc rằng tại sao Đảng vừa mới ra đời mà đã có ngay công ơn đối với nhân dân. Cùng với bài thơ này còn có bài hát gây ấn tượng mạnh hơn khiến tôi cũng nhớ mãi từ thuở thơ ấu:

Bừng sáng lên như ánh thái dương

Toàn nhân dân hát ca vui mừng

Mừng vì có Đảng Lao động Việt Nam

Đảng tranh đấu quyết chí không ngừng

Dìu giai cấp dắt giống nòi vùng đứng lên!(…)

Nhưng phổ biến sâu rộng nhất và tồn tại lâu bền nhất trong toàn đảng và toàn dân là bài hát “Chào mừng Đảng Lao động Việt Nam” của nhạc sĩ Đỗ Minh, mà mở đầu là một cảnh tượng vô cùng tươi đẹp, rực rỡ và hoành tráng:

 Vừng trời đông ánh hồng tươi sáng bừng lên

Đàn bồ câu trắng bay về trong nắng mới

Ngàn triệu dân xiết tay nhau đứng quanh Đảng Lao Động Việt Nam

Khối kết đoàn công nông bền vững.(…)

 Bài này thì chính tôi được hát, được tập luyện trong các dàn đồng ca, được dự khán hoặc nghe qua đài phát thanh do các dàn nhạc hay hợp xướng chính quy trình bày không biết đến bao nhiêu lần, nên đã thuộc lòng cả nhạc và lời, từ bè trầm đến bè cao, và bất cứ lúc nào cũng có thể xướng âm chính xác từng nốt nhạc theo trí nhớ, kể cả đoạn dạo đầu “sòn - sòn - đô, sòn - sòn - mí, sòn - sòn - la - si - đô - rê - mí - rê - đồ!”. Tôi còn nhớ người ta đã từng tranh luận về lời ca ở khúc thứ tư của bài hát. Thoạt đầu, tác giả viết “Khối kết đoàn công nông và trí thức”. Có lẽ khi viết như vậy, tác giả đã nghĩ rằng xã hội nào cũng cần có trí thức, nên mặc dù đảng là của công nông, nhưng cũng cần đoàn kết với trí thức. Vả chăng, nếu bỏ trí thức ra thì chính tác giả bài hát chào mừng đảng-một nhạc sĩ, không phải là công nhân, cũng chẳng phải nông dân-, sẽ được xếp vào đâu? Nhưng đã có sự chỉ đạo của cấp trên, yêu cầu bỏ trí thức ra, sửa “và trí thức” thành “bền vững”, trong đó chữ “bền” được hát luyến qua 2 nốt “sòn- la” để khớp với nhạc. Việc sửa chữa này được giải thích rằng Đảng là của giai cấp, trong khi trí thức không được coi là giai cấp, mà chỉ là một tầng lớp lệ thuộc vào giai cấp thống trị. Khi người trí thức đi theo đảng, thì đã được coi là thuộc thành phần công nông rồi. Chính vì vậy mà biểu tượng của đảng từ Liên Xô qua Trung Quốc đến Việt Nam vẫn chỉ có chiếc búa với chiếc liềm gắn vào nhau mà không hề có thêm cây bút hay quyển sách. Khi ấy, người ta còn chưa biết đến quan điểm nổi tiếng của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho rằng trí thức chỉ là thứ cặn bã mà hàng ngày người ta thường bài tiết ra ngoài.

Các tác phẩm trứ danh trên đã khắc họa sự xuất hiện của đảng sáng chói như mặt trời lên, vừa thiêng liêng vừa hùng tráng để nhân dân tin tưởng tôn thờ và tiến theo. Quả thật, sự xuất hiện của Đảng khi ấy đã đưa toàn thể dân tộc qua một bước ngoặt to lớn, rời bỏ con đường mà cuộc Cách mạng tháng Tám đã vạch ra để tiến sang một con đường khác.

Nếu có ai hỏi rằng: vì sao Đảng lại xuất hiện vào thời điểm đó?, người ta sẽ trả lời: do có tình hình mới. Dường như ai cũng biết tình hình mới đó là những gì, ngoại trừ một sự kiện được tuyệt đối giữ bí mật: những cam kết của  Bác Hồ với các vị lãnh tụ của hai cường quốc đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa trong chuyến đi thăm Trung Quốc và Liên Xô đầy bí ẩn. Để được công nhận là một thành viên của phe này, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải có một chế độ chính trị đồng nhất với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, do một đảng marxist- leninist nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối. Bác Hồ phải đáp ứng điều kiện không thể thoái thác này, và do đó Đảng đã xuất hiện để lãnh đạo cuộc đấu tranh giai cấp, thay cho ngọn cờ giải phóng dân tộc của Việt Minh vốn không được Mao Trạch Đông và Stalin ưa thích.

 

Mặc dù đất nước đã chuyển sang một bước ngoặt lớn, mọi người trong gia đình ông Đổng vẫn phải chăm lo cho cuộc sống thường nhật nhỏ nhoi của mình. Một hôm, bà Thường kho một nồi thịt để trên bếp rồi đi làm việc khác. Lát sau, bà Đổng bỗng phát hiện nồi thịt kho đã bị kẻ nào đó múc mất quá nửa. Tức giận, bà to tiếng gọi người giúp việc. Bà Thường tất tả chạy về và sợ hãi thanh minh rằng mình đã nhờ thằng Lương trông chừng rồi mới đi. Mọi người ngầm hiểu chủ nhà là thủ phạm, nhưng không ai dám nói thẳng ra. Cậu Lương im lặng ra vẻ nhận lỗi, bà Đổng tiếp tục chì chiết bà Thường, khiến cho người giúp việc vốn trung thành và tận tụy này cũng gân cổ lên cãi bà chủ. Ông Đổng đi làm về, mâm cơm được dọn ra trong không khí gia đình đầy u ám. Khi hiểu rõ nguồn cơn, ông nổi nóng đập vỡ chiếc bát ăn cơm và to tiếng mắng vợ không độ lượng với người giúp việc. Uất ức vì chồng dám mắng mình trước mặt người làm để bênh vực họ, bà Đổng cãi lại ông và đập hết bát đĩa trên mâm. Đập phá xong, cơn nóng giận của hai ông bà cũng qua đi. Bà khóc nức nở và ông dịu dàng an ủi vợ. Nhưng một thời gian sau, vẫn do những chuyện về bếp núc, bà Đổng lại la mắng bà Thường, thậm chí còn ám chỉ về việc sa thải người giúp việc đã gắn bó với mình suốt mấy năm trời. Bà Thường cố nhịn, nhưng khi nhận thấy sự ám chỉ đầy xúc phạm đó, thì cũng vùng lên: “ Đây không làm nữa thì đây ra!”.Bà Đổng lập tức chặn họng: “ ‘Đây’ với ai thế?”. Đúng lúc đó ông Đổng bước vào và chứng kiến cuộc đôi co. Máu nóng bốc cao, ông vớ lấy chiếc đòn gánh bên vách, vung lên đập nồi cháo dành cho bữa trưa đổ tung tóe. Bà Thường sợ xanh mặt còn bà Đổng khóc òa, cuộc cãi vã chấm dứt. Bỗng cu Vân ở trong buồng chạy ra nép vào ba nó mà thủ thỉ: “ Con thấy ba mắng má con muốn chảy nước mắt!”. Lời con thơ khiến ông xúc động. Ông hôn con và bảo: “Ba không mắng má, ba yêu má và các con!”.

Những cuộc xung đột bột phát ấy qua đi, sinh hoạt gia đình trở lại bình thường, nhưng trong tâm trí bà Đổng đã nảy sinh những suy nghĩ mới. Bà nhận ra rằng cuộc sống cô độc, buồn bã và đơn điệu kéo dài nơi rừng núi đã làm cho chính mình biến đổi, từ một thiếu nữ thượng lưu dịu dàng lịch thiệp trở thành một người đàn bà nhỏ mọn, cáu bẳn với nhan sắc nhanh chóng tàn phai. Bà đã gửi gắm tâm sự trong một bài thơ viết riêng cho mình:

 

Chiều chiều lại những chiều chiều,

Bồng con một bóng liêu xiêu giữa rừng.

Ễng ương rên rỉ não nùng,

Chim kêu buồn thảm gợi mong nhớ nhà.

Mẹ cha già ở phương xa

Cùng đàn em nhỏ, riêng ta chốn này!

Bao giờ đuổi hết giặc Tây,

Thì ta mới lại đến ngày đoàn viên!

Những cơn nóng giận của ông Đổng, dù dịu xuống rất nhanh sau mỗi cú đập phá, đã cho bà thấy tình cảm của chồng với mình đã có sự thay đổi. Bà nghĩ cuộc sống hoàn toàn lệ thuộc vào chồng đã khiến cho mình không được anh ấy tôn trọng. Cho đến ngày kháng chiến thắng lợi được trở về thủ đô có biết bao cô gái xinh tươi, liệu anh ấy còn chung thủy với người vợ đã biến thành thổ dân miền núi? Còn hai đứa con thơ rồi sẽ ra sao nếu cuộc sống này cứ tiếp tục kéo dài? Chẳng phải thằng Quốc mới thoát chết trong cơn sốt lên kinh giật đó sao? Những suy nghĩ ấy thường xuyên chế ngự tâm trí dẫn  bà Đổng đến ý định: phải trở về Thanh Hóa với cha mẹ để tạo nên một cuộc sống mới.

Bà tâm sự với ông về ý định của mình. Bị bất ngờ trước lời lẽ của vợ, ông không muốn để bà ra đi mà cố gắng làm yên lòng bà bằng cách khác. Cho rằng vợ mình buồn chán do không có việc làm mà nảy sinh ý định ra đi, ông đề nghị với cơ quan sắp xếp công việc cho bà. Cơ quan sẵn sàng ủng hộ ông và còn cử người đến thuyết phục bà nhận việc để yên tâm ở lại. Nhưng bà nhã nhặn khước từ, để rồi lại tìm cách thuyết phục ông.

Đầu năm 1952, ông Đổng được chuyển sang làm Phó Ban Thanh tra Bộ Lao động. Ở cương vị mới này, ông thường xuyên phải đi công tác xa nhà hơn trước. Một đêm trước ngày ông  lên đường đi Thái Nguyên, nằm trong vòng tay chồng bà lại thủ thỉ với ông về ý định của mình. Để tránh một cuộc tranh luận không vui có thể làm cho việc ái ân mất hứng, ông bảo: “Tùy ý em!”, rồi say đắm hôn vợ. Bà hoàn toàn mãn nguyện và coi như ông đã chấp thuận ý mình. Nhân lúc ông vắng nhà, bà cùng người giúp việc thân tín thu dọn đồ đạc, bán hết nữ trang với giường đệm chăn bông, mua 2 cái địu trẻ con của dân bản, gom tiền cho vào ruột tượng quấn quanh bụng.

 Một ngày mùa xuân đầu tháng 3, má tôi cõng em Hùng và đeo một bọc hành lý, bà Thường địu tôi và cũng mang theo một bọc, rời khỏi căn nhà trống vắng nơi căn cứ địa, lên đường tiến về Thanh Hóa bằng đôi chân của mỗi người. Ngày hôm sau đi công tác về, ông Đổng kinh hoàng thấy nhà cửa trống trơn với một bức thư từ biệt do phu nhân để lại. Hiểu rằng khi người phụ nữ đã quyết chí hành động thì không ai có thể ngăn cản, ông vội vã đến cơ quan Bộ xin nghỉ phép dài hạn để đưa vợ con về quê. Đeo ba lô hành lý lên vai, ông cùng với cậu Chương-người liên lạc kiêm cần vụ thân tín của mình tức tốc bộ hành đuổi theo hai người phụ nữ. Sau hai ngày một đêm, họ gặp lại nhau tại một quán trọ ven đường, họp thành một đoàn và tiếp tục cuộc hành trình. Khác hẳn chuyến đi lên Việt Bắc 5 năm về trước đầy thơ mộng, chuyến trở về Thanh Hóa này hết sức gian nan. Không dùng được một phương tiện giao thông nào khác ngoài đôi chân của khách bộ hành. Không chỉ có hành lý, trên lưng mọi người còn có thêm 2 đứa trẻ. Không có ai đón tiếp để hướng dẫn dọc đường, nên chỉ có cách hỏi thăm hoặc tự dò tìm lấy đường đi. Một số người dân nâng cao tinh thần cảnh giác nên không chỉ đường cho nhóm người mà họ không biết từ đâu đến. Rừng núi thâm u vẫn mang vẻ đẹp huyền bí, nhưng rải rác đó đây là những cảnh hoang tàn do chiến tranh để lại. Mỗi ngày cả nhóm phải đi hết một quãng đường xa cho đến khi gặp một nhà dân hay quán trọ, để có bữa ăn và tá túc qua đêm.

Một chiều mưa rét, mọi người vào nhà một gia đình sắc tộc thiểu số. Ông bà chủ cho khách tạm trú, nhưng dứt khoát không chịu bán gạo cho họ thổi cơm, mặc dù má tôi đã năn nỉ hết lời và trả giá rất cao. Nhóm khách bộ hành mỏi mệt chỉ còn biết bấm bụng để nhịn đói qua đêm. Khi gia đình chủ nhà quây quần quanh mâm cơm bên bếp lửa bập bùng với mùi thức ăn thơm ngon lan tỏa, em Hùng tôi bỗng lon ton chạy đến bên bà chủ và cất tiếng thỏ thẻ:

 -          Bà ơi, bà ăn gì đấy?

-          Bà ăn cơm!

-          Cho cháu ăn một miếng với, cháu đói quá!...

 Lời con trẻ như có phép lạ đánh tan sự sắt đá của chủ nhà. Bà chủ đi xúc gạo và gọi má tôi đến nhận, rồi chỉ dẫn bà Thường mọi thứ cần thiết cho việc nấu cơm. Má tôi nhớ mãi chuyện này để chứng minh em Hùng tôi đã bộc lộ năng khiếu ngoại giao từ lúc mới lên hai tuổi! Còn lý do tại sao lúc đầu chủ nhà không chịu bán gạo, má tôi được họ giải thích rằng đã có một đơn vị bộ đội hành quân đến vùng này vi phạm kỷ luật dân vận, làm thiệt hại tài sản của dân, nên dân bản  quyết không cho những người của chính phủ được dùng lương thực của mình.

 TS LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác