NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU - Chương 2 (phần 1))

( 05-12-2013 - 06:18 AM ) - Lượt xem: 598

Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian! Vùng lên, hỡi ai cực khổ bần hàn! Sục sôi nhiệt huyết trong tâm đầy chứa rồi, Quyết phen này sống chết mà thôi. Chế độ xưa, ta mau phá sạch tan tành, Toàn nô lệ vùng đứng lên đi!...

CHƯƠNG HAI

SAO NGƯỜI TA ÁC THẾ?

 

   1. Thằng cu Vân

 

  Sau ngày sinh tôi chẳng bao lâu, vào mùa xuân năm mới, ba má tôi lại phải dời khỏi chiếc lán xinh xắn chuyển đến chỗ ở mới tại nhà một người thiểu số là cụ Lừa trong làng Dỏm thuộc châu Sơn Dương. Cụ Lừa cùng vợ và con trai nhường hẳn ngôi nhà sàn của mình cho gia đình ông Đổng, còn họ thì vào rừng sâu ở trong một chiếc lán, chỉ thỉnh thoảng ghé về nhà chăm sóc vườn tược.

 Khi mới lọt lòng mẹ, tôi đã là một trẻ sơ sinh nặng cân; má tôi lại có rất nhiều sữa cho con bú, nên tôi càng phổng phao trắng trẻo. Ba tôi vẫn tìm mua được loại sữa Nestle tốt nhất cùng các loại xà phòng thơm hảo hạng như Lux, Cadum dành cho cậu quý tử; còn bà Thường thì chăm sóc tôi rất cẩn thận theo cách thức nuôi “con Tây” mà bà đã quen. Nhờ  đó, tôi trở thành một đứa trẻ bụ bẫm và kháu khỉnh nổi tiếng khắp một vùng, với tên gọi theo bí danh của ba tôi là “thằng cu Vân”. Ai đến thăm nhà cũng đều thích được bế ẵm hôn hít tôi. Có 2 bé gái tên Nâu và Nhèm ở một nhà dân gần đó, thường đến chơi với cu Vân và được bà Thường chiêu đãi bằng cách cho vét xoong bột của em. Má tôi vẫn nói rằng tôi là một đứa trẻ dễ nuôi, vì ngoài việc bú mẹ, tôi luôn ăn uống ngon lành các loại thực phẩm khác, kể cả bột quấy với muối và trứng gà; nhưng thỉnh thoảng lại tỏ ra ương bướng, nên cũng bị ăn đòn. Cứ mỗi lần má đánh tôi, bà Thường lại cảm thấy xót xa và tìm cách bênh em. (Bà lớn tuổi hơn cả ba tôi, nhưng theo tôn ti trật tự giữa người giúp việc với ông bà chủ, bà gọi tôi là em và xưng chị). Cái tính ương bướng ở một đứa trẻ chưa rời vú mẹ do đâu mà có? Điều đó thật khó hiểu, nếu không do một sự di truyền nào đó, thì đành phải  chấp nhận câu nói của người xưa, rằng “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”. Một lần tôi bị sốt cao đến mức co giật chân tay khiến má tôi hoảng sợ luống cuống không biết phải làm gì, nhưng bà cụ Lừa đã chẩn đoán: “Nó bị lên đan rồi!” Cụ lấy một ít mật của con kỳ đà (do con trai cụ vừa bắt được) hòa với nước cho tôi uống. Quả nhiên loại thuốc dân gian này đã giúp tôi hạ sốt và hết co giật.

Ở nhà cụ Lừa khoảng 6 tháng, ba má tôi lại chuyển đến chỗ ở mới tại một căn nhà sàn của cơ quan, gần nhà bộ trưởng Nghiêm Xuân Yêm (mới lên thay ông Huỳnh Thiện Lộc đi công tác miền Nam).

 

 

Ba tôi thỉnh thoảng lại phải đi công tác xa, nhưng vẫn luôn tranh thủ ngày nghỉ để về với vợ con, bất chấp đường xa và gặp nhiều trở ngại. Có hôm ba về đến nhà với quần áo chân tay mặt mũi bám đầy bùn đất vì trời mưa, đường trơn lại phải leo những đồi dốc rất cao nên bị trượt ngã nhiều lần. Có lúc ba về sau khi băng qua rừng với hai chân còn dính đầy những con vắt và rỉ máu do những vết cắn của chúng. Má hỏi: “Sao anh không ở lại nơi công tác cho đến hết đợt hãy về?”, ba đáp rằng: “Nhớ em và con không chịu được!”

Một hôm, vào tháng 8-1948, đang lúc mơ màng trong giấc ngủ trưa, má tôi chợt bừng tỉnh vì có tiếng hô chào cờ rất dõng dạc từ một chiếc lán của cơ quan cách nhà không xa vọng tới; rồi tiếng hát “Quốc tế ca” vang lên:

 

Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian!

Vùng lên, hỡi ai cực khổ bần hàn!

Sục sôi nhiệt huyết trong tâm đầy chứa rồi,

Quyết phen này sống chết mà thôi.

Chế độ xưa, ta mau phá sạch tan tành,

Toàn nô lệ vùng đứng lên đi!...

 

Thì ra ở đó đã diễn ra buổi lễ kết nạp ba tôi vào đảng cộng sản. Ba tôi chưa bao giờ nói với vợ con về con đường dẫn ông đến với đảng, nên không ai biết được nhận thức của ông về chủ nghĩa cộng sản sâu sắc đến mức nào. Ba đã đặt tên cho tôi là Lê Kinh Quốc, chẳng hiểu ông có liên tưởng gì đến Tưởng Kinh Quốc, con trai của nhà lãnh đạo Trung Hoa Quốc Dân Đảng hay không. Chỉ biết rằng khách đến thăm ba má tôi thường bế tôi và đùa bỡn reo lên rằng: “A, con Tưởng Giới Thạch!”; nên về sau ba đã đổi lại tên tôi là Vinh Quốc. Dù sao, việc ba tôi trở thành đảng viên cũng tạo điều kiện thuận lợi cho ông trong công tác, mặc dù lúc đó đảng vẫn nằm trong Việt Minh mà chưa công khai sử dụng danh nghĩa chính thức. Hai người giới thiệu ba tôi vào đảng hóa ra lại là hai bạn đồng liêu gần gũi: ông Đào Thiện Thi và ông Đồng Sỹ Hiền. Ba tôi thân với hai ông này ở Bộ, nhưng trong một thời gian dài vẫn không biết họ là đảng viên  và có nhiệm vụ theo dõi để giúp mình vào đảng. Giờ đây ba tôi lại có thêm tình đồng chí với hai người bạn đồng liêu ấy. Chỉ tiếc rằng ba má tôi đã phải chia sẻ với vợ chồng bác Thi về một nỗi buồn vô hạn do một sự cố đau thương ập đến với họ. Nhân kỷ niệm sinh nhật cô con gái đầu lòng của mình tròn 2 tuổi, hai bác mời bạn thân đến dự tiệc mừng. Đang chuẩn bị đi dự cuộc vui thì ba má tôi bỗng nhận được tin sét đánh: bữa tiệc phải hoãn vì con gái bác Thi vừa mất! Thì ra, trong khi hai bác và người nhà đang bận rộn chuẩn bị tiệc mừng, cô bé 2 tuổi chập chững đi vào bếp lúc nào chẳng ai hay, rồi ngã nhào vào chảo mỡ sôi trên lửa; không gì cứu nổi bé gái tội nghiệp ấy.

Sau Tết Kỷ Sửu 1949, ba tôi chuyển công tác về Bộ Lao Động và do đó cũng chuyển gia đình đến chỗ ở mới. Đó là một khu rừng bao quanh mấy quả đồi trồng bạt ngàn chuối và sắn của Bộ, gần con suối Lê rất đỗi quen thuộc với chiến khu Việt Bắc. Tại đây, gia đình chúng tôi ở ngay tại căn nhà mà bộ trưởng Nguyễn Văn Tạo đã ở và mới dời đến chỗ khác bên bờ suối cách đó không xa. Cũng như trước đây, ba tôi không cho gia đình biết nguyên do việc thuyên chuyển công tác của mình. Má tôi cho rằng việc đó không xuất phát từ nguyện vọng cá nhân ông, bởi vì tại Bộ mới ba tôi làm việc không được thoải mái bằng ở cơ quan cũ. Uy tín của bộ trưởng Tạo bị sứt mẻ đáng kể, khi các nhân viên ở bộ luôn đàm tiếu với nhau về việc ông không đưa phu nhân lên chiến khu mà lại chung sống như vợ chồng với chính cô thư ký của mình, và hai người thường đùa rỡn với nhau khi cùng tắm suối. Ba tôi không bao giờ khắt khe với những chuyện tình ái riêng tư như vậy, nhưng chẳng hiểu vì sao ông thực sự không kính phục vị thủ trưởng mà mình có trách nhiệm phục vụ. Có lẽ vì vậy mà tại bộ này chức vụ của ông bị hạ thấp khi phải thêm chữ “Phó” ở trước nó, mặc dù ông được giao thêm một chức trong đảng là Bí thư Chi bộ Bộ Lao Động.

Khi ấy, tôi đã lẫm chẫm biết đi nên hay được má hoặc chị Thường dắt lên đồi chơi. Thế rồi có những ngày máy bay thám thính Pháp luôn bay lượn trên trời quanh khu vực của cơ quan Bộ, thỉnh thoảng lại gầm rú kinh khủng. Mỗi lần nghe tiếng rú đó, tôi hoảng sợ khóc thét và run bần bật bíu chặt lấy người lớn, trong khi mọi người chạy vội ra vườn ẩn nấp dưới những tán cây. Má tôi cho rằng những giây phút khủng khiếp ấy sẽ tác động không tốt đến hệ thần kinh của tôi sau này. Rất may là chưa xảy ra một cuộc oanh tạc nào, nhưng sự xuất hiện thường xuyên của máy bay địch cho thấy dường như cơ quan Bộ đã bị lộ, cần nhanh chóng di chuyển.

 

 

Dời khỏi Tuyên Quang, Bộ Lao Động chuyển đến châu Bỉnh Di thuộc tỉnh Phú Thọ. Nơi đây đã là vùng trung du nên mọi người không còn phải ở biệt lập trong rừng sâu như trước, mà phong cảnh đồi núi đã có phần quang đãng với nhiều người qua lại hơn. Ba tôi thuê người dựng lán trên một quả đồi cho gia đình ở; gần đó có quán cà phê của một phụ nữ Hà Thành tản cư lên sinh sống, thường được gọi là cô Tám Phê. Má tôi lại bắt đầu có thai và bị nghén. Nhưng khác với lần có thai tôi, lần này má thèm ăn quả trám và tiết canh lợn. Cũng may là hai loại thực phẩm này không khó kiếm. Cô Tám Phê có rất nhiều trám rừng muối phơi khô và luôn sẵn sàng cho người láng giềng  đồng hương Hà Nội được thưởng thức hương vị đặc biệt của chúng. Chị Thường biết được có nhà nào giết lợn liền đến mua lòng và tiết, chế biến thành món tiết canh rất ngon, khiến bà Đổng chỉ ăn mấy lần là hết thèm. Một hôm quan sát chị Thường gánh nước từ dưới đồi lên nhà, ba tôi phát hiện chị đang có mang. Thì ra đã khá lâu chị quan hệ với anh liên lạc của một ông giám đốc đồn điền, có thai đến tháng đẻ nhưng cố nén bụng giấu để làm lụng cho đến tận ngày sinh. Chị sinh con trai ở một nơi nào đó, má tôi bảo chị đem cháu bé về nuôi, nhưng chị dứt khoát không nghe mà đem cho một gia đình hiếm muộn, nhưng đêm đêm vẫn đến đó cho con bú. Rất tiếc là cháu bé chỉ sống được có mấy tháng. Việc dứt bỏ đứa con ấy có lẽ không làm cho chị Thường đau khổ nhiều. Phải chăng người mẹ ít nặng tình với đứa con mà mình không mong nó ra đời? Chỉ biết rằng tôi vẫn được chị nhất mực yêu thương.

Một hôm, có 2 người đến gặp ba má tôi. Đó là ông Kiều Công Cung, phái viên của Bộ Canh Nông tại Đô Lương (Nghệ An), người đã chăm lo cho gia đình ông bà ngoại tôi theo sự ủy thác của đích thân Bộ trưởng Huỳnh Thiện Lộc (để ba má tôi yên tâm lên Việt Bắc) và một chàng trai trẻ được gọi thân mật là cậu Minh, một nhân viên của Bộ vốn là bạn của cậu Bính. Hai người đi công tác tại Việt Bắc đã ghé thăm ông bà Đổng. Lâu ngày gặp lại bạn cũ từng có ân tình với gia đình mình, ba má tôi tiếp đãi hai vị khách quý hết sức nồng hậu. Nhà đã sẵn có mấy bồ thóc dự trữ, muốn dùng bao nhiêu gạo thì chỉ việc đem đi xay giã. Bà Thường lại rất giỏi về chợ búa cơm nước, nên các bữa cơm đãi khách luôn ngon lành với đầy đủ thịt thà gà vịt. Lúc nổi hứng, mọi người lại kéo nhau ra quán cô Tám Phê dùng điểm tâm buổi sáng hoặc tán gẫu ngắm trăng lúc tối. Chủ và khách cùng vui với nhau trong suốt hơn một tháng trời. Trước khi chia tay, ba má tôi tặng quà cho 2 vị khách; riêng má gửi một phong thư với 300 đồng tiền Ngân hàng Việt Nam (có giá trị bằng mấy tháng lương ông Đổng), nhờ cậu Minh chuyển giúp tới ông bà Phán Thanh để đỡ đần cha mẹ. Cậu Minh vui vẻ nhận lời, nhưng sẽ không bao giờ trao nó cho người lẽ ra phải được nhận.

 

 Khi tôi bắt đầu học nói thì cũng là lúc ba má tôi bắt đầu dạy dỗ con. Để trả lời ba má về một việc gì đó, ba dạy tôi nói: “thưa ba, có!” hoặc “ thưa má, không!”. Nhưng má lại dạy: “có ạ!” hoặc: “không ạ!”. Thế là ba má tranh cãi với nhau. Má nói: “Con còn nhỏ, không thể nói năng phức tạp, chỉ cần biết ‘ạ’ là đủ”. Nhưng ba bảo: “Nói đơn giản rồi nó quen đi, sau này lớn lên sẽ không biết dạ thưa lễ phép”. Cuộc tranh cãi ấy chỉ là một câu chuyện rất nhỏ trong cuộc sống, vậy mà má tôi nhớ mãi để kể lại cho con khi tôi đã trưởng thành. Thật ra, đó không phải là chuyện phức tạp hay đơn giản, mà là sự khác biệt trong ngôn ngữ giao tiếp giữa người Bắc với người Nam. Dường như sự khác biệt về văn hóa như vậy đã làm cho câu chuyện trở thành khó quên. Tôi không chỉ được dạy nói tiếng Kinh, mà còn được học cả tiếng Tày! Một cô gái Tày hay đến chơi với cu Vân dạy tôi nói theo ngôn ngữ của cô. Kết quả là tôi biết nói câu này: “Chị Thường ơi, pei thong ngai chưa?”(nghĩa là “Chị Thường ơi, ăn cơm chưa?”).

Trong cuốn album của gia đình mãi đến nay vẫn còn lưu giữ một bức ảnh nhỏ chụp tôi lúc vừa đầy tuổi: khuôn mặt mũm mĩm với đôi mắt sáng mở to, đầu đội mũ ca lô đính huy hiệu sao vàng trong vòng tròn đỏ, như một mẫu thu nhỏ của quân hiệu Vệ quốc đoàn, nhưng mình lại mặc áo kiểu con gái với cổ lá sen trắng, khoe đôi cánh tay tròn trịa có ngấn.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác