NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU- Chương 12, Phần 4

( 27-07-2017 - 09:38 PM ) - Lượt xem: 524

Sau ngày lễ Quốc Khánh vui vẻ, một ngày mới bắt đầu với bầu trời đầy mây và mưa tầm tã trút xuống từng đợt. Chiều hôm đó, mọi người hết sức bất ngờ khi Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyền đi một bản tin đặc biệt: vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 3-9-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vĩnh biệt chúng ta! Bài “Hồn tử sĩ” trầm mặc u buồn của Lưu Hữu Phước được cất lên để mặc niệm Bác

4. Bác ơi!

 

 Nhận được thư của Trần Trọng Triệu mời về Hải Phòng chơi, tôi quyết định đưa em Dũng đi cùng để về thăm lại thanh phố quê hương yêu dấu. Mang đủ tiền và tem gạo chi dùng cho chuyến đi, tôi không quên đem theo quần áo mới để trưng diện.

 Đã rất lâu mới được đi chơi bằng tàu hỏa từ Hà Nội về thành phố cảng, tôi lâng lâng cảm xúc với những phong cảnh thân quen lần lượt xuất hiện hai bên đường, nhất là khi tàu qua cầu Lai Vu và cầu Phú Lương mới được sửa chữa xong còn lưu dấu vết bom đạn, rồi qua khu Sở Dầu cũ nay bắt đầu mọc lên những ngôi nhà mới trên đống hoang tàn để lại từ 3 năm trước. Và Hải Phòng-thành phố Hoa Phượng Đỏ thân yêu của tôi đây rồi!

 Dắt em Dũng cùng chiếc xe đạp Peugeot ra khỏi nhà ga quen thuộc, tôi đèo em về xã Đằng Lâm thuộc huyện An Dương ngoại thành, nơi ở mới của gia đình anh Lục Nhất Tín từ chỗ sơ tán trở về. Tôi nghĩ rằng sự xuất hiện bất ngờ của mình cùng em Dũng sẽ khiến gia đình anh Tín rất vui, nhưng hóa ra không phải như vậy. Trong ngôi nhà gạch cũ với đồ đạc sơ sài, một gia đình 7 người chung sống quả là rất chật chội: bác Khâm, anh chị Tín-Dung, cháu Thi (con riêng của anh) và cháu Minh (con riêng của chị) cùng 12 tuổi, hai cháu con chung của anh chị là Đình Quang (4 tuổi)và Ánh Tuyết (gần 3 tuổi). Vì thế, trong khi em Dũng cùng đám trẻ tíu tít chơi đùa với nhau dưới ánh mắt vui vẻ của bác Khâm, thì cuôc chuyện trò của tôi với anh chị Tín có phần gượng gạo. Bữa cơm trưa họp mặt cũng không được vui, có lẽ vì anh chị ấy đang lo cái ăn và chỗ ngủ cho khách.

 Biết được tâm trạng đó của anh chị, sau lúc nghỉ trưa tôi trao gói quà nhỏ do ba má gửi biếu bác Khâm, cho các cháu gói kẹo Hải Châu, biếu anh chị Tín một ít tem gạo rồi xin phép gia đình cho anh em tôi đi thăm bè bạn.

 Gia đình Triệu trong ngôi nhà thân thuộc ở số 299 phố Tô Hiệu đón anh em tôi đúng theo tình cảm dành cho những người thân đi xa mới về. Sau mấy năm xa cách, tôi lại được thưởng thức tài nấu ăn của bu Triệu. Anh em Triệu-Phương cùng tôi lại tha hồ hồi tưởng về những kỷ niệm êm đẹp xưa trong quan hệ của chúng tôi. Rồi Triệu đạp xe đi thông báo cho Trần Văn Nguyệt cùng các bạn bè cũ đến chơi với chúng tôi. Buổi tối, sau khi cùng nhau ca hát, tôi lại ngủ cùng giường với Triệu-Phương, còn em Dũng ngủ với bu Triệu.

 Hôm sau, tôi mang theo tấm vải pô-pơ-lin pha ni-lông đến nhà Phạm Đình Thịnh (tức hiêu may Đình Khải cũ, ở phố Trần Phú) để vừa thăm bạn lại vừa nhờ bố Thịnh may chiếc áo sơ mi cộc tay. Mọi người ở đây vui mừng đón tiếp tôi. Bác Đình Khải bảo sẽ may gấp để tôi có áo diện tại Hải Phòng. Thịnh cho biết rằng em trai bạn ấy là Phạm Đình Hải đã nhập ngũ vào Nam chiến đấu từ 1966 và hình như đang đóng quân trên đất Campuchia.

 Trong khi đó, Triệu xếp hàng mua vé xem phim ở rạp “Tân Việt” để chiêu đãi anh em tôi, thì lại bị bọn “lính mổ” lấy mất chiếc kính cận. Thấy Triệu vì nhiệt tình với mình mà bị mất của, tôi hỏi thủ tục mua kính để bồi thường cho bạn. Nhưng Triệu gạt đi: “Thủ tục phức tạp lắm, mình còn chiếc kính cũ để dùng tạm rồi sẽ mua sau!”.

 

 Dù sao thì nơi đáng đến thăm nhất vẫn là mái nhà xưa của gia đình chúng tôi tại số 27 phố Hồ Xuân Hương, nên tôi đã dẫn em Dũng trở về đó. Từ cổng nhìn vào, ngôi nhà vẫn y nguyên như trước, mặc dù chủ mới của nó là ông Phó Giám đốc mới của Sở Giáo dục Hải Phòng. Tôi không dám xin phép vào thăm bên trong nhà, vì sợ rằng mình sẽ quá xúc động khi những kỷ niệm xưa được gợi lại từ từng chi tiết cũ. Tại nhà Misô phía bên kia đường, “Bà Trẻ” vẫn điềm nhiên ngồi bán hàng sau những thúng quà của bà như thời gian không hề trôi suốt mấy năm qua. Ở trên gác, căn phòng của gia đình Thanh Tâm rộng mở khiến tôi hồi tưởng lại hình ảnh nàng thường đứng chải tóc ở đó để đưa mắt nhìn tôi và cho tôi được ngắm nhan sắc của nàng. Chợt thấy cô Nhu-má của Tâm đứng bên chiếc cửa mở lên cầu thang ngôi nhà, tôi lập tức chạy đến chào cô và được cô hỏi thăm hết sức vui vẻ. Tôi chưa kịp hỏi về Tâm thì chính cô đã khoe với tôi rằng nàng đang theo học ở một trường Đại học Thương nghiệp tại thủ đô Mátxcơva (Liên Xô). Rồi cô leo lên phòng ở của mình và lại chạy xuống để trao cho tôi chiếc phong bì mà Tâm dùng để gửi thư về gia đình, trên đó ghi rõ địa chỉ bằng tiếng Nga của nàng. Tôi nồng nhiệt cảm ơn cô và hứa sẽ viết thư cho Tâm.

 Thế rồi hai anh em Triệu-Phương cùng Nguyệt, Thịnh và hai anh em tôi đạp xe đi Đồ Sơn. Tại bãi biển Đồ Sơn Phố đã trở nên đông vui sau những ngày tháng tiêu điều vì bom đạn, chúng tôi ngồi trên ghế đá ngắm du khách nhảy sóng tắm biển để nhớ lại thuở thiếu thời quàng khăn đỏ đã mấy lần đi cắm trại và tắm biển nơi đây. Có mấy người đi qua nhìn chúng tôi bình phẩm: “Bọn này giàu sang quá nhỉ!”. Ra thế: có áo pô-pơ-lin pha ni-lông, quần xi-mi-li pha ni-lông với dép nhựa “Tiền Phong” và “dép rọ” Trung Quốc đã được coi là “sang trọng”! Chúng tôi liền cởi bỏ mấy thứ “sang trọng” đó trên ghế đá, cử một người ngồi lại trông coi, rồi cả bọn mặc quần lót chạy ào xuống biển để thỏa thích vẫy vùng.

 Gây ấn tượng mạnh nhất với tôi là cảnh tượng Công trường Muối Đồ Sơn mà mình với Triệu đã gắn bó một thời. Hai chiếc trụ cổng bằng gạch đánh dấu trụ sở Công trường vẫn còn, nhưng không còn tấm biển gắn vào đó để chỉ dẫn nơi đây là gì. Tất cả những ngôi nhà của Ban Chỉ huy Công trường cũng như những chiếc lán dài làm chỗ ở của công nhân đã mất dạng. Sang bên kia đường ngắm nhìn cánh đồng muối bao la khi xưa, thì thấy nó đã biến thành một cánh đồng hoang với những đám sú-vẹt mọc um tùm. Nhìn chung, Công trường Muối Đồ Sơn nhằm xây dựng một doanh nghiệp “sản xuất lớn XHCN” đã hoàn toàn biến mất chỉ sau 5 năm hoạt động với biết bao công sức tiền của đổ vào đó (mà không phải do bom Mỹ gây ra, có lẽ do sai lầm về kỹ thuật). Tuy nhiên, hình ảnh những con người đã đổ mồ hôi lao động tại nơi này thì tôi ghi nhớ mãi: anh Duyên, anh Truyện, anh Ngọc, anh Màu, anh Vân, Bá Đớ, Văn Bách, Văn Xương, Đức Bút, chị Khuyên, chị Thành, cái Hợi… Chỉ tiếc là mãi mãi về sau tôi không được gặp lại ai trong số đó. Dĩ nhiên tôi không thể quên các bạn cũ của mình trong đoàn học sinh Ngô Quyền tình nguyện đi lao động nơi đây như anh em Đoàn Điệp-Đoàn Điệt (hai người con của gia đình nhạc sĩ Đoàn Chuẩn tức chủ hãng nước mắm Vạn Vân). Chẳng biết họ đã lưu lạc ở phương nào và đã được đổi thành phần để có thể ghi vào lý lịch rằng mình thuộc về giai cấp công nhân hay chưa?

 

 Từ Hải Phòng trở về Hà Nội, những kỷ niệm xưa với Thanh Tâm trỗi dậy lại thôi thúc tôi viết thư cho nàng để biết nàng còn nhớ đến tôi không.“Mối tình thầm lặng” giữa tôi với nàng, dù chẳng đi đến đâu cũng cần có một lời đáp rõ ràng - tôi nghĩ vậy khi quyết định viết thư. Gọi nàng là “Thanh Tâm thân mến”, tôi kể lại quan hệ láng giềng giữa gia đình tôi với gia đình nàng, sự quan tâm của tôi đối với nàng, rồi hỏi thăm cuộc sống hiện nay của nàng ở bên đó.

 Gửi xong lá thư này, tôi và Thiên Hương lại lên tàu trở về trường sở tại của mình để chuẩn bị cho năm học mới. Lần này, tôi mang theo một món quà quý do em Hùng gửi từ Liên Xô về cho ba, và ba lại tặng tôi: chiếc đèn pin không cần lắp pin mà có chiếc càng bóp tay để quay bánh xe trong nó mà phát điện làm sáng bóng đèn (biến cơ năng thành điện năng). Vừa trở về phòng ở của mình trong khu tập thể, tôi bàng hoàng nhận thấy bọc quần áo mà mình để lại đây trong thời gian hè đã bị mối xông làm cho tan nát, đáng tiếc nhất là chiếc áo blu dông vi-ni-lông sang trọng đã trở thành một mớ giẻ rách! Hóa ra giống mối có khả năng ăn cả loại vải sợi hóa học.

 Do chiến tranh phá hoại của Mỹ đã thực sự chấm dứt trên toàn miền Bắc, nên trước thềm năm học mới trường tôi nhận được lệnh dời khỏi khu sơ tán để trở về cơ sở cũ của mình ở nội thành Việt Trì. Thế là tập thể giáo viên chúng tôi có nhiêm vụ tháo dỡ mọi công trình xây dựng bằng tranh-tre-nứa-lá cùng các xà và cột gỗ ở Bảo Đà chất thành đống trên sân, để thuê xe trâu chuyên chở dần về trường cũ. Trong khi chờ cho số nguyên vật liệu này được chở đi hết, cần có một người ngủ ngoài sân để canh bọn trộm có thể đánh cắp chúng; tôi liền tình nguyện thực hiện nhiệm vụ này. Tôi dựng một cái lều bạt ngay cạnh đống nguyên vật liệu, đặt chiếc giường cá nhân vào đó và mang theo chiếc đèn pin bóp tay để vừa ngủ vừa canh gác suốt mấy đêm thanh vắng. Rất có thể tiếng “xè xè” nho nhỏ của bánh xe quay để phát ra ánh sáng chói của chiếc đèn pin mới lạ đã khiến bọn trộm không dám bén mảng đến đống nguyên vật liệu của trường.

 

sở chính của Trường PTC3 Việt Trì là một tòa nhà ba tầng khá khang trang, được xây kiên cố trên một quả đồi thoai thoải. Các phòng học rộng rãi được bố trí đồng đều tại 3 tầng nhà, xen kẽ vào đó là phòng thí nghiệm khá lớn và những phòng chuyên dùng nhỏ bé. Ở tầng 1 lại có thêm một hành lang thẳng góc với tòa nhà dẫn tới một hội trường khá rộng và phòng thường trực kế đó - chỗ ở và làm việc của nhân viên văn phòng Kiều Khanh. Điều đặc biệt của ngôi trường là cột cờ cùng với sân trường lại ở phía sau lưng tòa nhà.

Các công trình phụ của trường được xây dựng bằng tranh-tre-nứa-lá mang từ khu sơ tán về; trong đó bếp ăn tập thể được bê nguyên mẫu từ Bảo Đà mang sang, với cả giếng nước dành cho nó (do nước máy dẫn về trường quá yếu, chỉ chảy nhỏ giọt không thể dùng được). Vì trường chỉ mới dựng được mấy dãy nhà tập thể dưới chân đồi dành cho các hộ gia đình và nữ giáo viên, nên các nam giáo viên độc thân được sắp xếp ở ngay tại mấy phòng  chưa sử dụng đến trên tòa nhà xây. Nhờ đó, tôi và anh Minh được ở cùng nhau tại một phòng học trên tầng 3; và tôi lại mượn xe đạp của anh để sang Văn Quán thăm Thiên Hương và báo cho nàng địa chỉ mới của mình. Cùng cư ngụ tại tầng 1 trong tòa nhà này còn có anh Khôi, một cựu thương binh phải chống nạng đang giữ chức Hiệu trưởng Trường PTC2 Việt Trì-một trường có chung nguồn gốc với trường tôi.

 Để chuẩn bị mở rộng quy mô đào tạo so với năm học vừa qua, Trường đã nhận về một loạt giáo viên mới từ các địa phương khác chuyển đến: các anh Lê Văn Long (giáo viên vật lý), Nguyễn Hữu Quỳnh (hóa học), Lương Đăng Bát (sinh vật), Nguyễn Quốc Bảo  (toán), Phan Xuân Minh ( toán), Nguyễn Viết Hoán ( toán), Trần Ngọc Điện (chính trị); và các chị Nguyễn Thị Sâm (sinh vật), Hoàng Kim (hóa học)… Còn có thêm hai thầy trẻ mới tốt nghiệp sư phạm cũng được phân công công tác tại trường này: anh Chu Nhật Hoàn (một chàng trai Hà Nội vừa tốt nghiệp khoa Nga ĐHSP Ngoại Ngữ, về đây để mở môn học mới là Nga văn) và anh Nguyễn Đức Thăng (dân bản địa Việt Trì, mới tốt nghiệp trường Sư phạm TDTT về làm giáo viên thể dục).

 

 Sau ngày lễ Quốc Khánh vui vẻ, một ngày mới bắt đầu với bầu trời đầy mây và mưa tầm tã trút xuống từng đợt. Chiều hôm đó, mọi người hết sức bất ngờ khi Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyền đi một bản tin đặc biệt: vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 3-9-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vĩnh biệt chúng ta! Bài “Hồn tử sĩ” trầm mặc u buồn của Lưu Hữu Phước được cất lên để mặc niệm Bác; tiếp đó, bài “Lãnh tụ ca” cũng của Lưu Hữu Phước nổi lên trầm hùng gợi nhớ hình ảnh sáng tươi của Bác Hồ trên nền cờ đỏ sao vàng; rồi đến bài “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” của Đỗ Nhuận, bài “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” của Văn Cao và lần lượt nhiều bài ca ngợi khác được phát đi phát lại trong ngày cùng với bản tin đặc biệt được đọc đi đọc lại nhiều lần kèm theo thông báo về lễ Quốc tang và cách thức để tang Hồ Chủ tịch cho toàn dân thực hiện.

Tất cả các công sở đều treo cờ rủ có gắn dải băng đen. Các cơ quan gấp rút may băng tang hình chữ nhật (cỡ lớn hơn bao diêm một chút) với màu đỏ và một dải đen phía trên để phát cho tất cả moi người cài lên ngực áo.

 Đứng trên tầng ba của tòa nhà, nhìn qua lớp cửa kính mở thấy lá cờ tang của trường phần phật tung bay dưới trời mưa nặng hạt trong tiếng nhạc u buồn của bài “Hồn tử sĩ” vọng đến từ chiếc loa phóng thanh công cộng treo trên cột đèn đường, tôi bật khóc vì thương nhớ Bác Hồ! Dù sao đi nữa, tên tuổi của Bác đã gắn chặt với đời tôi - qua những lời dạy của Bác đối với thiếu nhi và thanh niên mà mình đã thuộc lòng; qua hàng trăm ca khúc mà mình đã nghe và hát từ tấm bé cho đến khi trưởng thành; qua hàng nghìn tác phẩm mà mình đã đọc và nghe, từ thơ ca hò vè cho đến các bài báo, hồi ký, tiểu thuyết và những công trình khảo cứu công phu; qua muôn vàn hình ảnh được trưng bày và trình chiếu ở khắp mọi nơi, từ ảnh chụp, tranh vẽ cho đến những bức tượng, những bộ phim tài liệu và cả phim truyện; qua những giáo trình mà mình đã học ở trường ĐHSP cũng như các sách giáo khoa mà mình đang sử dụng để giảng dạy cho học sinh PTC3 Việt Trì; qua những đêm giao thừa đón mừng năm mới mà năm nào cũng được nghe thơ chúc tết của Bác đi kèm với bản “Lãnh tụ ca” hoành tráng, mà mới vừa đầu xuân năm nay vẫn còn được nghe. Nay đột nhiên người ấy không còn nữa, nên tôi tự nhiên bật khóc! Cùng trong hoàn cảnh như vậy, chắc chắn có hàng triệu người Việt Nam đã thực sự khóc Bác cũng như tôi.

 Công bằng mà nói, sự ngưỡng mộ của người Việt đối với Hồ Chí Minh không chỉ là hậu quả của công tác tuyên truyền vô cùng mạnh mẽ của Đảng, mà còn xuất phát từ những thành quả thực sự mà Bác đã đạt được trên đường cách mạng giải phóng dân tộc trong nửa đầu sự nghiệp của mình. Hình ảnh vị Cha già Dân tộc đọc bản Tuyên ngôn Độc lập theo hệ tư tưởng Nhân Quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới ánh nắng Ba Đình trong ngày lịch sử 2-9-1945 đã khắc sâu trong trái tim người Việt. Với hình ảnh này, giới thượng lưu trí thức Nam Bộ (trong đó có ba tôi) đã đề nghị Quốc hội cho Sài Gòn mang tên Thành phố Hồ Chí Minh. Với hình ảnh này, toàn dân đã nhất tề đứng lên chiến đấu chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập của đất nước theo lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chủ tịch.

 Nhưng những biến chuyển của thời cuộc dẫn tới chuyến đi bí mật của Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh gặp Mao Trạch Đông và đến Matxcơva gặp Stalin (tháng 1-1950) đã làm thay đổi tất cả. Để nhận được sự viện trợ của phe XHCN cho cuộc kháng chiến chống Pháp-Mỹ, Cha già Dân tộc đã không ngần ngại quỳ gối trước hai vi chúa tể của phe XHCN để kiểm điểm về tội lỗi của mình là đã xa rời lập trường giai cấp mà theo chủ nghĩa dân tộc, đồng thời cam kết từ bỏ chế độ dân chủ cộng hòa do mình tạo dựng để thiết lập nền chuyên chính vô sản và tiến hành đấu tranh giai cấp trên đất nước Việt Nam.

 Từ đó, Cha già Dân tộc đã đưa Đảng ra công khai nắm quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối, từ bỏ cả “những lẽ phải không ai chối cãi được”“quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” trong bản Tuyên ngôn Độc lập do chính mình tuyên đọc trước toàn thể quốc dân, giải tán Việt Minh là tổ chức tập hợp lực lượng toàn dân tộc do chính mình lập ra, xóa bỏ Hiến Pháp 1946 bảo vệ quyền tự do công dân trong chính thể Dân chủ Cộng hòa, vô hiệu hóa Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của dân tộc, tiến hành “chỉnh đốn tổ chức” để loại bỏ thành phần thượng lưu trí thức và doanh nhân ra khỏi bộ máy quyền lực nhằm đưa những người bần cố vào thay thế, tiến hành “chỉnh huấn-chỉnh quân” theo kiểu “chỉnh phong” của Tàu để tẩy não cán bộ quân sự và dân sự nhằm xóa bỏ trí thức để nhồi tư tưởng Mao Trạch Đông cho họ, xác định đường lối “chính trị là thống soái” để bắt văn nghệ sĩ phải sáng tác theo đường lối của Đảng mà không được thể hiện tư tưởng và cảm xúc cá nhân “tạch-tạch-sè”; rồi tiến hành, theo sự chỉ đạo của các cố vấn Tàu, cuộc CCRĐ “long trời lở đất” bằng bạo lưc phi pháp tiêu diệt hàng vạn người bị quy là “địa chủ cường hào gian ác”, là “phản động tay sai của thực dân Pháp và Quốc dân Đảng”…

Cho đến khi hàng loạt cán bộ đảng viên và nhân sĩ có công với nước bị đấu tố, tù đày và giết hại trong CCRĐ (ngay cả bố mẹ của Tổng Bí thư Trường Chinh cũng suýt bị đấu tố nếu không được giải cứu kịp thời), Hồ Chí Minh mới nhận ra sai lầm của Đảng của mình và cho tiến hành sửa sai. Hình ảnh Bác Hồ lau nước mắt khóc trước Quốc Hội trong dịp công bố sắc lệnh sửa sai đã cho thấy mức độ khủng khiếp của tội ác do cuộc CCRĐ gây ra đối với dân tộc, khiến cho Cha già Dân tộc phải nhỏ lệ sám hối. Nhưng cuộc sửa sai chỉ giải oan đươc cho những nạn nhân bi thảm của CCRĐ, mà không hề thay đổi cái hệ thống tư tưởng đã dẫn đến những tội ác như vậy. Bởi thế, Hồ Chí Minh đã chính thức từ bỏ cương vị Cha già Dân tộc để trở thành một cán bộ lãnh đạo cộng sản ở Việt Nam, có nghĩa vụ tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp trên ở Bắc Kinh và Mátxcơva trong cuộc đấu tranh giai cấp tiêu diệt CNTB, tức là tiêu diệt luôn động lực phát triển cùng những giá trị văn hóa thiêng liêng của dân tôc.

Khi đã nhận ra sự thật đó, liệu có mấy ai còn khóc thương Bác Hồ trong tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh? Nhớ lại khi Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Công, nếu không được xét xử bằng tòa án “tư sản” của nước Anh với sự tranh biện của luật sư Frank Loseby, mà bị đem ra đấu tố tại “tòa án nhân dân” của Đảng-Bác trong CCRĐ, thì ngay từ đó Bác đã phải nhận cái chết thê thảm như bà Nguyễn Thị Năm đã phải nhận, chứ đâu còn sống đến lúc này để mà lau nước mắt.

Bác đã khóc trước Quốc Hội và tôi lại khóc Bác!-đó là một dấu ấn lịch sử không phai mờ của đời tôi. Còn nhà thơ Tố Hữu đã khóc “Bác ơi!” bằng những dòng lệ như sau:

 

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…

Chiều nay con chạy về thăm Bác

Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!

Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời

Miền Nam đang thắng mơ ngày hội

Rước Bác vào thăm thấy Bác cười.

 

Quả là những tiếng khóc đầy tinh thần lạc quan cách mạng, khiến cho Bác dẫu đã chết mà vẫn được cười.

 

 Trở lại với búa liềm cộng sản, Bác đã mất luôn cả bản ngã của mình. Viết di chúc để “phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các vị cách mạng đàn anh khác”, Bác không nhớ đến mồ mả tổ tiên mình ở quê hương đất Việt, mà chỉ một dạ tôn thờ các ông tổ của CNCS và mong cho linh hồn mình được ở  bên họ trên cõi trời Tây. Vì vậy, Bác phải tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật sắt của Lê Nin về tổ chức đảng theo nguyên tắc “tập trung-dân chủ”: thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên. Trong thời gian viết bản di chúc của mình, Bác không còn quyền lực trong Đảng nữa, nên buộc phải phục tùng đồng chí Lê Duẩn-nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng; và anh Ba cũng cư xử với Bác theo đúng nguyên tắc đó. Vì thế, Bác Hồ chính thức từ trần vào sáng ngày 2-9-1969, nhưng anh Ba thấy thời điểm ấy không thích hợp với việc tổ chức Lễ Quốc khánh, nên đã quyết định cho Bác lùi thời hạn qua đời sang ngày 3-9 để thông báo cho toàn Đảng toàn dân biết. Thế là Bác mất quyền chết theo giờ  của số mệnh mình, mà phải từ trần vào lúc lãnh tụ tối cao Đảng quy định.

“Về việc riêng”- Di chúc của Bác viết- Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”. Và đây là đoạn quan trọng nhất: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là ‘hỏa táng’. Tôi mong rằng cách ‘hỏa táng’ sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì ‘điện táng’ càng tốt hơn. Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn l quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi,chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.”

 Nhưng đồng chí Lê Duẩn nhận thấy yêu cầu này của Bác không phù hợp với truyền thống cộng sản và lợi ích của Đảng ta, nên đã cắt bỏ hoàn toàn đoạn văn này trước khi công bố Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho toàn Đảng toàn dân học tập. Từ đó, Lê Duẩn đã chỉ đạo việc xử lý thi hài Bác Hồ theo cách xử lý thi hài Lenin ở Liên Xô: ướp hóa chất để lưu giữ lâu dài (chứ không thiêu theo yêu cầu của Bác) và xây dựng Lăng Hồ Chí Minh theo truyền thống Lăng Lênin vô cùng hoành tráng và tốn kém (chứ không phải ngôi mộ đơn sơ trên đồi theo tinh thần tiết kiệm của Bác). Thế tức là Bác mất luôn quyền được mai táng theo yêu cầu của mình, để thi hài mình trở thành một di vật lịch sử phục vụ cho lý tưởng Đảng của đồng chí Lê Duẩn.

Trong bài Điếu văn của BCH Trung ương Đảng đọc tại Lễ Truy Điệu Hồ Chủ tịch (ngày 9-9-1969), Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn dõng dạc kêu gọi:

Các đồng chí và đồng bào thân mến! Vĩnh biệt chúng ta, Bác Hồ có để lại cho Đảng ta, cho toàn thể đồng bào và chiến sĩ hai miền Nam - Bắc một bản Di chúc lịch sử. Đó là những lời căn dặn cuối cùng của Bác, là những tình cảm và niềm tin của Bác đối với chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau. Chúng ta hãy xứng đáng với Bác hơn nữa!”.

 Có lẽ khi ấy đồng chí Lê Duẩn nghĩ rằng: việc mình cắt xén bản Di chúc để chống lại di nguyện trong đó của Hồ Chủ tịch chính là để “xứng đáng với Bác hơn nữa!”.

 Cốt lõi sức mạnh của đảng cộng sản nằm trong nguyên tắc “tập trung-dân chủ” của nó. Ngoại trừ lãnh tụ tối cao được sùng bái như thần thánh để trở thành nơi ban phát chân lý, toàn thể đảng viên các cấp từ cao xuống thấp đều phải tuyệt đối phục tùng cấp trên trực tiếp và gián tiếp của mình. Nếu bị phát hiện có sự khác biệt với đường lối của “trên”, đương sự sẽ bị phê bình, cảnh cáo, khai trừ khỏi Đảng tùy theo mức độ sai phạm; thậm chí bị tù đày hoặc tử hình mà không cần xét xử nếu bị coi là phần tử chống đối hoặc phản bội. Nguyên tắc này tạo nên sự đồng tâm nhất trí trở thành sức mạnh chiến đấu của Đảng dưới áp lực của nỗi sơ hãi luôn tiềm ẩn thường trực. Nhưng cũng chính nó đã khiến cho đội ngũ đảng viên trở nên tha hóa khi mọi người nhận ra rằng: tuân phục và vâng lời cấp trên là yếu tố quan trọng nhất để tiến thân trong bộ máy Đảng. Từ đó, những người tài giỏi có tư duy sáng tạo với lương tri và bản ngã vững vàng (như Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Kim Ngọc và hàng trăm hàng nghìn con người chính trực khác) đã và sẽ dần dần bị loại bỏ hoăc tự rời bỏ bộ máy Đảng và nhà nước, để những kẻ vong thân-tha hóa hay “ngụy tín” (đa số xuất thân từ thành phần bần cố thất học) chỉ biết mù quáng tuân phục ý trên thay thế họ.

 Đó là bài học đắt giá nhất mà Hồ Chí Minh để lại cho các thế hệ mai sau: “Quyền lực dẫn đến tha hóa, quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối” (Lord Acton). Do bài học đó, thực tế đã diễn ra là: “Đi theo Hồ Chí Minh, đầu vào là tinh hoa, đầu ra là rác rưởi” - như triết gia Nguyễn Khắc Dương (cựu giáo sư Viện Đại học Đà Lạt) đã phán xét.

 LÊ VINH QUỐC

Các Bài viết khác