NGUYỄN HUY TƯỞNG CÒN VỚI THỜI GIAN
VẤN ĐỀ VÀ SỰ KIỆN
HỒ SƠ BÁO CHÍ
GÓC TƯ LIỆU
Hỗ trợ khách hàng
0909 210 761
Hỗ Trợ Online
Mr. Cường

0909 210 761

Thông tin liên hệ
Điện thoại: 0909 210 761
Email: phamthecuong@yahoo.com.vn
VIDEO CLIP
Liên kết website
Thống kê truy cập

NƯỚC CHẢY DƯỚI CHÂN CẦU- Chương 12, Phần 3

( 11-07-2017 - 05:06 AM ) - Lượt xem: 565

Nhưng nhân vật nổi tiếng nhất trong tỉnh khi đó khiến tôi muốn tìm hiểu là đồng chí Kim Ngọc-Bí thư Tỉnh ủy. Đưa đường lối “khoán hộ” từ Vĩnh Phúc (cũ) sang đất Phú Thọ (cũ), ông đã nâng cao năng suất lao động của các HTX nông nghiệp trên toàn tỉnh Vĩnh Phú (có lẽ nhờ đó mà tiêu chuẩn lương thực-thực phẩm ở Việt Trì luôn được bảo đảm đầy đủ). Nhưng rồi đường lối đó đã bị Trung ương phê phán; buộc Kim Ngọc phải viết kiểm điểm thừa nhận sai lầm, để rồi bị tước quyền chỉ đạo theo đường lối của mình .

 3. Ngày mai chúng ta bước vào đời

 

 Sau những ngày Tết yên vui đầm ấm, tôi và Thiên Hương lại trở về trường của mỗi đứa ở Vĩnh Phú để bắt đầu học kỳ hai của năm hoc. Lớp 8B của tôi có thêm một thành viên mới là Dương Sáng Sơn, một cựu học sinh của trường đã xung phong đi bộ đội; sau hai năm tại ngũ lại được quay về trường học tiếp. Lớn hơn hẳn các bạn đồng học mà ngồi cùng lớp với em trai mình là Dương Văn Thành, lại luôn mặc quân phục khi đi học, Sơn trở thành một nhân vật nổi bật được các bạn tín nhiệm, mặc dù không giữ chức gì trong lớp. Sơn nhanh chóng quen thân với một bạn gái thuộc hạng giỏi nhất lớp là Nguyễn Thị Tứ, con đồng chí Nguyễn Định-Bí thư Thành ủy Việt Trì. Có lẽ nhờ sự giúp đỡ của Tứ mà Sơn nhanh chóng bắt kịp với trình độ kiến thức chung của cả lớp, mặc dù đã xa cách sách vở trong thời gian tại ngũ khá dài. Thế rồi mọi người nhanh chóng nhận ra rằng quan hệ giữa Sơn và Tứ không chỉ là bạn học, mà đã trở thành một cặp nam nữ yêu nhau dường như không cần dấu diếm.

 Tiếp theo đó, một số cặp đôi khác cũng âm thầm gắn kết với nhau: Bùi Trọng Tôn-Nguyễn Thị Chính, Nguyễn Văn Cơ-Đỗ Thị Bỉnh, Nguyễn Khắc Tuệ-Nguyễn Thị Dung, Lê Văn Vĩnh- Đỗ Thị Lan, Toàn-Tuyết… Quan điểm chung của ngành giáo dục khi ấy là: ngăn chặn hiện tượng học sinh yêu nhau, để các em yên tâm học tập và không để xảy ra những hậu quả đáng tiếc về quan hệ nam nữ khi chưa đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, có lẽ nhận thức được sự bất cập của quan điểm này đối với sức mạnh tự nhiên của tình yêu tuổi học trò, nên tập thể giáo viên trường PTC3 Việt Trì không có những biện pháp can thiệp cụ thể nào khi phát hiện những trường hợp nam nữ học sinh yêu nhau. Về phần mình, do tôn thờ sự hồn nhiên trong sáng và mãnh liệt của tình yêu học trò (như những gì mà mình với Thanh Tâm đã trải qua), nên tôi luôn trân trọng và bảo vệ cho các đôi lứa yêu nhau trong lớp mà mình là phó chủ nhiệm. Tôi chỉ khuyên các em cần giữ gìn sự trong sáng của tình yêu theo một danh ngôn mà mình từng ghi trong nhật ký: “Không nên động đến hoa khi nó chưa nở hết; nếu không thì hoa sẽ chẳng cho hương thơm quả ngọt” (chính tôi cũng thường tâm niệm câu này trong suốt đời dạy học của mình). Rất may là chị Vĩnh Nga (chủ nhiệm lớp) cũng đồng quan điểm với tôi về vấn đề này. Chẳng biết có phải nhờ sự đồng tâm nhất trí của chị với tôi hay không, mà hầu hết các cặp đôi trong lớp 8B của chúng tôi đều đã cho hương thơm và quả ngọt: 6 cặp đã cùng nhau đi hết thời học sinh và trở thành những đôi vợ chồng hạnh phúc lâu bền khi các em ra trường để vào đời. Kết quả này có vẻ trái ngược với lý thuyết tâm lý học về tình yêu tuổi học trò ( cho rằng loại tình yêu này sớm nảy nở mãnh liệt nhưng lại mau tàn, ít khi trở thành hôn nhân bền vững). Kết quả này cũng bác bỏ quan điểm cho rằng tình yêu sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc học tập của học sinh: các cặp đôi này đã giúp nhau học tốt (không kể trường hợp Nguyễn Thị Chính bị lưu ban vì một lý do khách quan).

 

 Một cách tự nhiên, chính tôi đã trở thành tấm gương cho học trò noi theo trong việc giữ gìn sự trong sáng của tình yêu ở nhà trường, mặc dù bông hoa của mình tức Thiên Hương yêu quý đã nở rộ từ lâu và tỏa hương thơm ngát để chờ đợi mình tận hưởng.

 Say mê với công tác chuyên môn, hài lòng với quan hệ bạn bè đồng nghiệp và tình cảm thầy trò ở trường PTC3 Việt Trì, tôi cũng mãn nguyện trong cuộc tình với nàng khi hai đứa vẫn ở một chốn đôi nơi. Từ sau tết cho đến cuối năm học, hai chúng tôi cứ một vài tuần lại có cuộc gặp nhau ở Việt Trì hay Văn Quán. Thế cũng đủ hạnh phúc mà không đòi hỏi phải được “ăn cơm trước kẻng”, nên tôi cũng không thúc giục việc cưới xin cho hai đứa được về với nhau trong một mái ấm, mà cứ để Hương tự quyết định việc này. Bởi vậy, tôi tự nhiên trở thành một phần tử tích cực trong việc thực hiện phong trào “Ba Khoan” do Trung ương Đoàn phát động dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Khi ấy, tôi vẫn chưa biết rằng chính sự mãn nguyện tai hại này sẽ làm cho tình yêu giữa thầy Quốc với cô Hương không dẫn đến kết quả tốt đẹp như các cặp đôi học trò trong lớp chủ nhiệm của mình.

 

Ngày càng thân thuộc với con người và cảnh vật ở thành phố nơi ngã ba sông, tôi cảm thấy mình đã trở thành người Việt Trì chính hiệu do số bạn bè của mình ở đây nhanh chóng tăng lên.

Quanh bàn bóng của trường, tôi đã có thêm hai bạn chơi và là đối thủ mới rất mạnh. Đó là anh Nhân chồng chị Thọ cấp dưỡng hiện đang công tác tại Công trường nhà máy Thủy điện Thác Bà (Yên Bái) và anh Nguyễn Bá Học-một kỹ sư tốt nghiệp ở Liên Xô về, hiện công tác tại Công ty Lắp máy (Vĩnh Phú) và là em trai của anh Nguyễn Bá Hạnh. Các cuộc giao đấu bóng bàn giữa 4 tay vợt Nhân-Học-Hạnh-Quốc luôn diễn ra sôi nổi mỗi khi anh Nhân và anh Học về thăm gia đình ở Việt Trì. Đám con nhà chị Thọ là cái Hiền (10 tuổi), cái Hương (8 tuổi), thằng Huy (5 tuổi) và thằng Hải (3 tuổi) cũng rất thân thiết với chú Quốc. Tôi còn được quen với vợ anh Học là chị An đang làm Phó Hiệu trưởng trường PTC2 Việt Trì - một phụ nữ cao lớn trắng trẻo có mái tóc dài tết đuôi sam mang dáng dấp của một vẻ đẹp Nga.

 Những cuộc đi dạo mát sau bữa ăn chiều của anh Minh và tôi được duy trì thường xuyên, cho dù đó là những chiều đông giá rét hay chiều hè oi ả; nhờ đó tôi được quen với chị Quý-một phu nữ bộc trực cởi mở với tính cách mạnh mẽ hiện giữ chức Trưởng phòng Giáo dục Việt Trì. Khi rảnh rỗi, tôi và anh Minh thường ghé vào phòng thường trực của trường-chỗ ở của anh Kiều Khanh để uống trà và tán chuyện. Tại đây, chúng tôi thường gặp một phụ nữ trẻ đẹp mang theo đứa con trai nhỏ chừng 2 tuổi đến chơi với Kiều Khanh. Chị ấy đang công tác tại Ty Thông tin sơ tán ngay gần trường, có chồng là bộ đội đang ở chiến trường xa mà không có tin về, nên phải sống trong hoàn cảnh của “hòn vọng phu hiện đại”. Bởi thế, chúng tôi gọi chị bằng biệt danh “Cô Thông tin”, và mong người đẹp ấy có mối quan hệ tốt lành với anh Kiều Khanh chưa vợ.

 

 Nhưng nhân vật nổi tiếng nhất trong tỉnh khi đó khiến tôi muốn tìm hiểu là đồng chí Kim Ngọc-Bí thư Tỉnh ủy. Đưa đường lối “khoán hộ” từ Vĩnh Phúc (cũ) sang đất Phú Thọ (cũ), ông đã nâng cao năng suất lao động của các HTX nông nghiệp trên toàn tỉnh Vĩnh Phú (có lẽ nhờ đó mà tiêu chuẩn lương thực-thực phẩm ở Việt Trì luôn được bảo đảm đầy đủ). Nhưng rồi đường lối đó đã bị Trung ương phê phán; buộc Kim Ngọc phải viết kiểm điểm thừa nhận sai lầm, để rồi bị tước quyền chỉ đạo theo đường lối của mình . Từ các cuộc họp bí mật giữa Trung ương với Tỉnh ủy, tin này đã lọt ra ngoài khiến cho cán bộ và nhân dân bàn tán râm ran. Không dám phát biểu công khai tại các cuộc họp, nhưng tại những chỗ tụ họp hàng ngày đa số mọi người đã ủng hộ đường lối của Kim Ngọc.

 Chính tôi đã vận dụng tri thức lịch sử của mình để chứng minh cho bạn bè thấy sự đúng đắn của đường lối khoán hộ. Khi ấy, tôi vẫn chưa biết rằng đường lối tập thể hóa nông nghiệp của Đảng đã làm cho năng suất lao động nông nghiệp giảm 50% và sản lượng thóc chỉ còn 1,7 tấn/ha /vụ; khiến cho bà con nông dân ở “tuyến lửa Khu 4” không còn biết đến cơm mà chỉ toàn ăn khoai sắn trừ bữa.

 Một nhân vật khác của Vĩnh Phú cũng danh nổi như cồn là nhà thơ Bút Tre-bút danh của Trưởng Ty Văn hóa Đặng Văn Đăng. Tụ họp ở đâu, cánh giáo viên chúng tôi cũng bàn tán về “Thơ Bút Tre” để giải trí với những vần thơ mới lạ vui tai. Mọi người thi nhau đọc các bài thơ của Bút Tre mà mình nhớ được, tranh cãi xem thơ ấy hay ở chỗ nào mà ai cũng thích, rồi bắt chước tác giả ấy mà sáng tác các bài thơ theo kiểu “Bút Tre” của riêng mình.

Thoạt đầu, tôi nghĩ thơ Bút Tre buồn cười vì tác giả này quá kém về cú pháp và ngữ âm tiếng Việt, nên đã tạo ra những tình huống kỳ quặc trong đó khiến độc giả phải chê cười. Chẳng hạn:

Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên

Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về.

Hoặc:

Liên Xô rất đỗi tự hào

Anh Ga Ga Rỉn bay vào vũ tru (tức vũ trụ).

 

Nhưng về sau, tôi đã nhận ra rằng Bút Tre quá giỏi trong nghệ thuật “cưỡng từ đổi nghĩa, sửa dấu ép vần” để tạo nên những tình huống hài hước bất ngờ khiến người đọc bật ra những nụ cười khoái trá. Hơn nữa, dưới dạng hài hước ấy, Bút Tre còn chuyển tải những ý tưởng nhẹ nhàng mà thâm thúy của mình. Chẳng hạn, ông phát biểu về một nhân vật bị bắt oan trong một vụ án kinh tế liên quan với chính trị:

 

Hoan hô anh Tạ Đình Đề

Trước đi theo Mỹ, nay về với ta.

 

Ông nhận xét về sự nghiệp của một vị “tướng chính trị” trong phong trào phát triển nông nghiệp theo đường lối “dọn tí phân rơi, nhặt từng ngọn lá”:

 

Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh

Anh về phân bắc, phân xanh đầy đường.

 

Rồi ông châm biếm về hiệu lực của các phong trào thi đua đã và đang được phát động khắp nơi trong nước:

Thi đua ta quyết tiến lên

Tiến lên  ta quyết tiến lên hàng đầu!

Hàng đầu rồi biết đi đâu?

Đi đâu không biết, hàng đầu cứ đi!

 

 Đụng đến cả thi đua - được coi là động lưc phát triển của CNXH - không phải là chuyện đùa; nhưng cái giọng đùa vui của bài thơ đã giúp Bút Tre tránh được những sự chụp mũ về chính trị để phát triển tài năng của mình.

 

 Thời gian trôi nhanh khi mọi việc đều suôn sẻ. Chẳng mấy chốc mà mùa xuân trôi qua để mùa hè đến với tiếng ve sầu kêu ran khắp các quả đồi vùng trung du báo hiệu năm học đầu tiên của tôi trên đất Việt Trì đang đi dần đến hồi kết thúc.

 Anh Bá Hạnh dành rất nhiều tâm huyết để chuẩn bị cho học sinh trình diễn trong đêm văn nghệ kết thúc năm học. Anh còn đưa tôi mượn chiếc đàn accordeon của trường để  phục vụ cho đêm diễn ấy. Tôi đã tự mày mò tập luyện và bắt đầu chơi được loại đàn gió này. Khi tôi và chị Vĩnh Nga đang giúp học sinh 8B tập luyện các tiết mục của mình, một nữ sinh lớp 9 là Lê Thị Đoan bỗng tìm đến gặp tôi để nhờ thầy góp ý cho một vở kịch mà em đang sáng tác. Trông vóc dáng to cao với khuôn mặt chữ điền và nước da ngăm đen của em, tôi không ngờ cô học trò có vẻ ngoài mạnh mẽ như vậy lại mang tâm hồn nghệ sĩ để tự đặt cho mình bút danh “Kim Đoan” mà viết nên một kịch bản về chủ đề Tết Mậu Thân ở Sài Gòn. Em đã sáng tạo được một người lính Giải phóng bị thương lạc vào nhà một nữ sinh Sài Gòn trong vòng vây của quân đội và cảnh sát đối phương, được nữ sinh này che chở cứu giúp chạy về vùng căn cứ cách mạng. Tôi đã giúp Kim Đoan nâng cao chất lượng bản thảo và tổ chức dàn dựng vở kịch này.

 Đêm trình diễn văn nghệ kết thúc năm học được tổ chức tại một bãi đất trống cỏ mọc lơ thơ được coi là sân trường. Sân khấu được dựng bằng bàn ghế khiêng ra từ các lớp học và phông màn mượn của Ty Văn hóa, được thắp sáng bằng đèn măng xông và khuếch đại âm thanh bằng mấy chiếc loa pin. Toàn bộ giáo viên và học sinh của trường cùng nhân dân Bảo Đà (Dữu Lâu) đã trở thành những khán thính giả nồng nhiệt của hàng chục tiết mục ca-vũ-kịch do học sinh các lớp trình diễn.

 Lớp 8A có vinh dư mở đầu bằng hai bài đồng ca “Không cho chúng nó thoát”“Bão nổi lên rồi”. Nhưng 8B có vẻ hấp dẫn hơn với tiết mục ngâm thơ “Bài ca mùa xuân 68” và độc tấu sáo trúc bài “Anh vẫn hành quân” do Bùi Trọng Tôn trình bày. Độc đáo hơn nữa là tiết mục ảo thuật “Bịt mắt đoán đồ vật” do tôi dàn dựng cho các em. Hai lớp 9A và 9B phối hợp với nhau trình diễn vở kịch “Anh Giải phóng quân và cô gái Sài Gòn” của Kim Đoan; tiếp đó là hai màn “Múa Quạt”“Múa Nến” do các nữ sinh trình diễn với vai chính dành cho hai cô gái xinh đẹp là Nguyễn Thị Lân và Nguyễn Thị Cường.

Sau cùng là màn hợp ca hoành tráng của học sinh hai lớp 10A và 10B. Dưới quyền chỉ huy của thầy Nguyễn Bá Hạnh cùng nhạc đệm của thầy Nguyễn Tiến Đạt (guitar) và thầy Lê Vinh Quốc (accordeon), 30 nam thanh nữ tú tràn đầy sức sống tuổi xuân, mặc đồng phục sơ mi trắng quần kaki (của nam) và sơ mi xanh cổ lá sen với quần đen (của nữ), đứng thành 3 hàng ngang theo 3 bậc cao thấp, đã hát vang bản trường ca bất hủ “Du kích sông Thao” của Đỗ Nhuận gắn bó mật thiết với xứ sở Việt Trì; tiếp theo là bài “Ngày mai chúng ta bước vào đời”, được coi là “Trường ca Cấp 3 Việt Trì” của Nguyễn Bá Hạnh:

 

               Ngày mai lúc xa trường bước lên đường các bạn ơi,

               Được đi bốn phương trời của Tổ quốc.

               Đoàn ta như chim non vút cánh ngang trời,

               Ngày mai chúng ta bước vào đời.

 

               Nơi xa xôi cần thanh niên, có tôi!

               Dù qua bao gian lao vẫn bước lên đường;

               Xây quê hương, kiến thiết nước nhà;

               Cùng nhau bước theo cờ Đảng ta!...

 

 Buổi biểu diễn kết thúc, sân khấu được nhanh chóng tháo dỡ thu dọn. Đèn tắt và cảnh vật trở lại yên tĩnh dưới ánh trăng mờ huyền ảo khiến lòng tôi rưng rưng xúc động khi nghĩ về cuộc chia tay với lứa học sinh đầu tiên yêu quý của mình. Rồi đây, khi “cùng nhau bước theo cờ Đảng ta” để vào đời, các em sẽ có cuộc sống như thế nào? Nhưng cũng mừng là trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm nay, 100% học sinh lớp 10 của tôi đã đậu môn Sử; còn học sinh lớp 8 và lớp 9 cũng đạt yêu cầu trên 50% trong bài thi Sử học kỳ II, nghĩa là khá hơn rõ ràng  so với học kỳ I. Có lẽ kết quả này đã khiến anh Đạm an tâm mà không có ý kiến gì với tôi nữa.

 Khi ấy, tôi vẫn chưa biết rằng, trong số hoc sinh tốt nghiệp khóa này nhập ngũ đi chiến đấu, sẽ có ít nhất 12 người hy sinh trên chiến trường để trở thành liệt sĩ: Lương Văn Bổng, Nguyễn Hữu Chỉnh, Trần Văn Hiệt, Nguyễn Văn Hoàn, Lê Huy Hoàng, Nguyễn Văn Hồng, Đỗ Văn Lợi, Nguyễn Văn Nhàn, Phan Văn Sơn, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Đức Thuật, Võ Huy Tường (em thầy Võ Huy Cát).

 

 Năm học kết thúc, nhưng giáo viên còn phải tham gia lớp bồi dưỡng chính trị-nghiệp vụ do Ty Giáo dục tổ chức rồi mới được nghỉ hè. Toàn thể giáo viên văn, sử, địa và chính trị trong tỉnh sẽ tập trung về Trường PTC3 Trần Phú ở thị xã Vĩnh Yên (tỉnh lỵ của Vĩnh Phúc cũ) để theo học lớp này.

 Thế là tôi gói ghém đồ đạc, mang theo túi quần áo mùa hè gọn nhẹ, màn chiếu cùng tem phiếu, khóa cửa lại và ra ga mua vé tàu đi Vĩnh Yên (hồi này cầu Việt Trì đã được sửa chữa xong nên tàu có thể khởi hành tại nhà ga thành phố).

 Trường PTC3 Trần Phú gồm mấy dãy nhà một tầng được xây trên một quả đồi thoai thoải có bóng mát của một rừng cây bạch đàn đẹp ở ngay ngoại ô thị xã. Tại đây, giáo viên được bố trí ở tập thể trong các phòng học theo từng bộ môn và theo giới tính. Dĩ nhiên là mọi người phải nộp tiền và tem phiếu để được ăn tại nhà ăn tập thể của trường. Thế là tôi với Thiên Hương lại được sống bên nhau trong một tuần lễ, mặc dù tôi ở phòng dành cho nam giáo viên sử còn nàng ở bên phòng nữ. Lần đầu tiên được gặp tất cả các bạn đồng nghiệp trong tỉnh, tôi đặc biệt kính nể các anh chị được coi là “cây đa cây đề” trong nghề dạy sử (đã có thâm niên trên dưới 10 năm): chị Hoàng (Thị) Dung (giáo viên trường sở tại), hai anh Phan (Văn) Linh và Phan (Văn) Phong (từ trường PTC3 Hùng Vương đến), anh Nguyễn Đức Uy (trường PTC3 Thanh Thủy), anh Nguyễn Thanh Sơn (trường PTC3 Cẩm Khê)-người có biệt danh là “ông Đồ xứ Nghệ” luôn kè kè chiếc điếu cày bên mình. Ngoài ra, anh Hùng (từ Văn Quán đến cùng Thiên Hương) và anh Xuân Trường (từ trường PTC3 Tam Dương đến) cũng là những nhân vật đáng chú ý.

 Trong buổi khai mạc tại một phòng học lớn có treo đủ cờ ảnh và khẩu hiệu cần thiết, chúng tôi được nghe một cán bộ tuyên huấn Tỉnh Ủy trình bày về “Tình hình mới-nhiệm vụ mới”. Mặc dù diễn giả măc bộ đại cán bốn túi thuyết trình hùng hồn qua micro, lại trích dẫn cả lời lãnh tụ Lê Duẩn (mà ông thân mật gọi là “anh Ba”), cử tọa im lặng nhưng không có vẻ lắng nghe. Nhiều nhóm rì rầm nói chuyện riêng; vài người lấy giấy ra chơi cờ ca rô; có người lấy sách ra đọc. Tôi hỏi anh Uy: “Anh thấy thế nào?”; anh rỉ tai tôi: “Ông ta nói cho chính mình nghe!”.

Đến buổi thảo luận, hầu như không có ai phát biểu về bài nói của tuyên huấn tỉnh, ngoại trừ vài ý kiến về hội nghị Paris với cuộc đấu trí giữa Lê Đức Thọ với Kissinger. Sau đó thì hoàn toàn đi lạc sang các đề tài về “Thơ Bút Tre”, về “khoán hộ” và số phận của Bí thư Kim Ngọc…

 Chị Hoàng Dung, người được ban tổ chức cử làm thư ký, có ý kiến: “Đề nghị các đồng chí phát biểu về ‘tình hình mới-nhiêm vụ mới’ để tôi còn ghi biên bản!”. Anh Đức Uy liền đáp: “Chị cứ viết là ‘nhất trí 100% với báo cáo viên’ là được!”; rồi sử dụng văn học dân gian hiện đại, anh vạch rõ quan điểm của Đảng ta trong tất cả các buổi sinh hoạt chính trị mà mọi người cần quán triệt để không cần thảo luận nữa:“Ta thắng, địch thua -Miền Bắc được mùa - miền Nam thắng lớn!”

 Khi chuyển sang phần bồi dưỡng chuyên môn, đại diện Ty Giáo dục đã truyền đạt quan điểm giáo dục mới của Đảng: Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất và phục vụ quốc phòng. Theo đó, 4 lĩnh vực giáo dục truyền thống “Trí-Đức-Thể-Mỹ” được thay bằng 7 lĩnh vực mới theo cách phát biểu của đồng chí Tố Hữu - bí thư Trung ương Đảng: “Đức-Trí-Kỹ (thuật)-Lao (động)-Quân (sự)-Thể-Mỹ”. Quan điểm này sẽ dẫn tới những sự thay đổi lớn trong ngành giáo dục; nhưng tôi chỉ chú ý đến bài thuyết trình về “Dạy học phát huy trí thông minh của học sinh” (tham khảo từ các tài liệu giáo dục của Liên Xô).

Sau cùng, ban chỉ đạo lớp bồi dưỡng đã cho thành lập một “Màng lưới giáo viên nòng cốt” để thúc đẩy việc nâng cao chất lượng dạy học trong tỉnh. Dĩ nhiên các “cây đa cây đề” đều có mặt trong đó; nhưng đáng ngạc nhiên là tôi-một giáo viên chưa hết hạn tập sự-cũng được ghi tên vào danh sách này. Thì ra khả năng giảng dạy của tôi đã được các đồng nghiệp trong tỉnh biết đến.

 

Lớp bồi dưỡng bế mạc, tôi cùng Thiên Hương lên tàu xuôi về Hà Nội để tận hưởng một tháng rưỡi nghỉ hè cùng gia đình và bè bạn (từ đầu tháng Bảy đến trung tuần tháng Tám). Dĩ nhiên là Hương về Hàng Chuối còn tôi về Cầu Giấy và hai chúng tôi thường xuyên đến thăm nhau. Tôi lại chơi với đám con các thầy cô ở khu tập thể Hiệu bộ ĐHSP; rồi viết thư cho em Hùng ở Liên Xô, xin nó gửi về các sách giáo khoa lịch sử của nước bạn để mình tham khảo. Hồi này, Hùng đã chuyển về Trường Đại học Tổng hợp Tashkent (thuộc nước Cộng hòa Xô viết Uzbekistant) để theo học ngành Phương Đông học-một chuyên ngành liên quan rất nhiều với khoa học lịch sử của tôi.

 Trong thời gian vui vẻ ấy, tôi hân hạnh được nghe một tin chấn động toàn cầu: Ngày 21-7-1969, Hoa Kỳ đã phóng thành công tàu vũ trụ con thoi Apollo 11 mang theo hai nhà du hành vũ trụ là Neil Armstrong và Buzz Aldril đổ bộ lên mặt trăng với là cờ Mỹ cắm trên đó. Thế là tôi đã được chứng kiến sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại ở thế kỷ XX: con người thực sự đặt chân lên mặt trăng và xúc đất trên đó cho vào túi mang về, để thay cho trí tưởng tượng về Chú Cuội, Ngọc Thỏ với Hằng Nga và Nguyệt Điện mà Đường Minh Hoàng từng mơ tưởng.

Để tự thưởng cho mình về những thành công sau một năm dạy học, tôi mang phiếu vải và xếp hàng cả buổi tại cửa hàng Bách hóa Tổng hợp để mua chiếc quần xi-mi-li pha ni-lông màu rêu, được mậu dịch quốc doanh may sẵn theo kiểu mẫu của nhà nước (cắt 2,2m phiếu) - loại trang phục hiện đại nhất mới xuất hiện, kèm theo là 1,8m vải pô-pơ-lin pha ni-lông trắng - loại vải tốt nhất mà cán bộ loại “E” có thể mua để may sơ mi.

 

Các Bài viết khác